Chương 1: Dac điểm dia chat và tiễn hóa kiến tạo của lô Y Chương 2: Các phương pháp nghiên cứu, đối sánh, dự đoán thành phân thạch học và quy luật phân bố của đá móng Chương 3: Dự đoán thành phân thạch học và quy luật phân bố của đá móng trước Đệ Tam, câu tạo CBT Kết luận và kiên nghị Tài liệu tham khảo. HVTH: Ngô Khanh Đông 2 Dự đoán thành phần thạch học da móng trước Đệ Tam của cấu tạo CBT thuộc lô Y CHUONG 1. ĐẶC DIEM DIA CHAT VÀ TIEN HÓA KIEN TẠO CỦA LÔ Y 1. Vị trí kiến tạo 1.
Vị trí kiến tạo của vùng nghiên cứu Phân lớn diện tích vùng nghiên cứu năm ở phía Nam mảng Việt Bắc - Hoa Nam. Ở phía Tây Nam là đới khâu Sông Mã, là ranh giới giữa mang Indochina và mảng Việt Bac - Hoa Nam. Phân trên lục dia của vung nghiên cứu thuộc 2 vi mảng Băc Việt Nam và Sông Đà, ranh giới giữa chúng là đứt gãy trượt băng Sông Hong. Phan dưới biển thuộc bể Sông Hồng và bể Bac Vinh Bac Bộ.
Bé Sông Hong hình thành do quá trình trượt băng của đứt gấy Sông Hong. Bé Bac Vịnh Bắc Bộ hình thành do quá trình tách giãn trong Paleocene-Eocene. Ở mảng Việt Bắc - Hoa Nam và mảng Indochina, trong Paleozoi (Pz) chủ yếu bị ảnh hưởng bởi quá trình tách giãn tạo vỏ đại dương. Vào cuỗi Pz, xảy ra quá trình khép kín tạo đới khâu Sông Mã.
Vào Mesozoi, phan Tây Nam của vùng nghiên cứu là một phân cua tring Sông Đà, còn phan Đông Bac năm ở trũng An Châu và khối nâng Tân Mài — Cô Tô. Vị trí kiến tao lô Y Trên bình đô phân vùng kiến tạo, lô Y chia làm bốn phân diện tích khác nhau (hình 1.1): e Phần 1: nam 6 ria phía Tây của lô, thuộc phụ đới Cát Bà — Trà Ban, tại khu vực nay đá mong lộ ra ở dao Hạ Mai, Thượng Mai. e Phần 2: nam ở khu vực phía Bac của lô, chiếm đến hơn 50% diện tích lô, thuộc phụ đới Cô Tô. Tại đây, lớp phủ tram tích Kainozoi rất mỏng, các minh giải địa chân cho thay móng Paleozoi nâng cao dân về phía Bac, thay đôi trong khoảng từ 250-750m và lộ ra trên mặt biển tại quân đảo Cô Tô, đảo Mã Châu.
e Phần 3: năm ở khu vực phía Nam của lô, là phan trung tâm của đới kiến trúc Bac Vịnh Bac Bộ, ở đây có lớp phủ trầm tích Kainozoi dày, biên đối từ vài trăm mét tới hơn 5.000m ở các trũng sâu. Đây là vùng triển vọng và đáng quan tâm trong lô Y. HVTH: Ngô Khanh Đông 3 Dự đoán thành phan thạch hoc đá móng trước Đệ Tam cua cấu tao CBT thuộc lô Y e Phần 4: ở ria cực Nam của lô, được cho là thuộc đới Hải Nam. Đây cũng là các khôi nâng của móng với lớp phủ tram tích mong.———v L#OENO 8 wu@swHM2CTuSS vong ean Pent © Omen (6o .ˆ “mg = os on s == : = = “ ậNEtikttM Hình 1.
Vị trí kiến tạo lô Y trong bản đô phân vùng kiến tạo phan bắc bề Sông Hong, phan tây bê Bac Vinh Bac bộ và lục địa kê cận 1. Các thành tạo địa chất 1. Móng trước Kainozoi Trong phạm vi 16 Y, các thành tạo trước Kainozoi lộ ra ở phía Tây của 16 tại đảo Thượng Mai, Hạ Mai; ở phía Bắc lô tại quan đảo Cô Tô, dao Mã Chau, dao Tran và bắt gặp trong giếng khoan Y-1X tại độ sâu 1336mTVDSS ở phía Nam của lô. Ở đảo Hạ Mai, Thượng Mai: có tổng diện tích khoảng 5 km”, đá móng lộ ra là các đá thuộc hệ tang Sông Cau, có tuôi Devon sớm với thành phan chủ yêu g6m HVTH: Ngô Khánh Đông 4 Dự đoán thành phan thạch hoc đá móng trước Đệ Tam cua cấu tao CBT thuộc lô Y cuội kêt, cát kêt/ cát kêt quartzitic, bột kêt, sét vôi, đá măc-nơ màu nâu đỏ; đá vôi mau xám-nấu.
Theo kết quả nghiên cứu kiến tạo, các đá của hệ tầng Sông Cầu phủ bất chỉnh hợp lên hệ tang Cô Tô tuổi Ordovic-Silur. Ở quan đảo Cô Tô: các đá lộ ra có tuổi Ordovic-Silur, diện phân bố khoảng vài chục km“. Thành phân thạch học: chia làm 2 phan, phan dưới bao gồm cát vôi/ cát kết quartzitic xen kẹp với bột kết; phần trên gồm cát vôi/ cát kết quartzitic xen kẹp với sét bột chứa vồi. Tại giếng khoan Y-1X ở phía Nam lô Y: đã khoan vào tang móng khoảng 345m, phân tích mẫu vụn cho biết các đá ở đây có thành phần chủ yếu là đá phiến thạch anh feldspar mica và phan nho thach anh sericit clorit (hinh 1.
Ngoài ra, ở lô S, theo kết quả nghiên cứu các giếng khoan S-1X, S-2X, S- 3X và S-4X, trong móng đã gặp các loại đá vôi phân lớp mỏng, phân lớp dày, đá vôi dạng khối với mức độ hang hốc, nứt nẻ khác nhau. Nhìn chung, các loại đá móng lộ ra trên đất liền và đá móng trong các giếng đã khoan gồm các thành tạo của các hệ tầng: Sông Cầu, Cô Tô với thành phần đá biến chất yếu dạng quarzite sericite. Như vậy, dự đoán đá móng của CBT cũng có khả năng giống thành phần của các đá đã mô tả ở trên, nhưng cũng không loại trừ khả năng, phan CBT là phan kéo dài của đới cacbonat Yên Tử - Ha Long. Các thành tạo lớp phủ Kainozoi Hệ tầng Phù Tiên — Eocene (từ móng đến T50) Trong vùng nghiên cứu được chia bởi cube địa chân PSTM với diện phân bố chủ yếu của hệ tầng Phù Tiên ở phía Nam của lô (hình 1.8), còn phía Bắc hầu như không có.
Hệ tầng Phù Tiên dày nhất ở khu vực cau tạo Hạ Mai — đây là phân sâu nhất của một bán địa hào. Tất cả các giếng khoan trong lô đều chưa gặp hệ tầng Phù Tiên. Trên tài liệu địa chan cho thấy: hệ tầng Phù Tiên phủ bất chỉnh hợp lên móng trước Dé tam và năm dưới hệ tang Dinh Cao. HVTH: Ngô Khánh Đông 5 Dự đoán thành phần thạch học da móng trước Đệ Tam của cấu tạo CBT thuộc lô Y Trên mặt cắt địa chân 2D không tách được hệ tâng Phù Tiên, nhưng trên cube 3D PSTM có thé xác định diện phân bố của hệ tang Phù Tiên (hình 1.
e Theo phương DB-TN: hệ tang Phù Tiên dày nhất ở phía DB và mỏng dan về phía TN, tới gần khu vực giêng khoan Y-IX (phân nhô cao của khôi móng) thì không xuất hiện hệ tang này (hình 1. e Theo phương TB-ĐÐN trên các mặt cat địa chân ngang qua câu trúc thì tram tích của hệ tang Phù Tiên mỏng dân về phía DN - về phía thêm Hải Nam. Ở phía Bắc, hệ tang Phù Tiên rất dày, có nơi lên đến trên 6.000m và kết thúc tại đứt gay lớn có phương DB-TN (hình 1. Theo tài liệu địa chất khu vực, hệ tâng Phù Tiên bao gôm: cát kết hạt thô, cuội kết và bột kết lang đọng trong môi trường sườn tích, quạt bôi tích — sông hỗ giới hạn trong các ban địa hào nhỏ vào giai đoạn tách giãn (hình 1.
Hệ tâng Đình Cao — Oligocene (từ T50 đến T22) Trên mặt cat địa chân, nóc của hệ tâng Đình Cao là mặt phản xạ T22, hệ tang này phủ lên trên và phân bỗ rộng hơn hệ tang Phù Tiên bên dưới (hình 1. Đặc trưng dia chân của hệ tâng Đình Cao là biên độ cao, phản xạ mạnh, độ liên tục trung bình, năm xiên, gián đoạn xâm thực thé hiện các trầm tích vụn thô chân núi và sườn tích. Phần dưới của mặt cắt có các phản xạ không liên tục, biên độ trung bình, thể hiện các trầm tích vùng châu thô. Trong lô nghiên cứu, cả 2 giéng khoan Y-IX và Y-2X đều khoan qua hệ tang này.
e Tai giếng khoan Y-IX, hệ tang Dinh Cao có bê dày khoảng 400m, thành phân thạch học gôm sét kết, bột kết và cát kết. Sét kết màu xám sáng, xám nâu, mêm, không có bột, hiêm khi có vật liệu đá vôi. Bột kết màu xám sáng, răn chắc, dạng khối, matrix sét, hiểm khi đi cùng với cát kết sắn kết, không có đá vôi. Cát kết màu xám sáng, phô bién hat trong (transparent), độ hạt từ mịn tới rât mịn, độ lựa chọn trung bình, ean két yếu VỚI XI măng silic và khung đá là sét, mảnh đá vụn (hình 1.
e Giêng khoan Y-2X khoan qua hệ tang Dinh Cao khoảng 1259m, có thành phân thạch học tương tự như trong giếng khoan Y-IX (hình 1. HVTH: Ngô Khanh Đông 6 Dự đoán thành phan thạch hoc đá móng trước Đệ Tam cua cấu tao CBT thuộc lô Y Nhìn chung, hệ tầng Đình Cao cũng phân bố ở trong các địa hào nhỏ, hẹp kéo dai theo phương DB-TN và bị phân cắt bởi các đứt gãy. Ở phan ria phía Tây Nam và phía Bắc của lô Y là phần nhô cao của móng nên trầm tích của hệ tầng Đình Cao cũng mỏng dan, có nơi hoàn toàn không xuất hiện (hình 1. Hé tang Phong Châu/ Phù Cừ — Miocene sớm-øiữa (từ T22 đến T10) Nhịp trầm tích từ mặt phản xạ T22 tới mặt phan xạ T10 bao gom hệ tầng Phong Châu và Phù Cir (N,' — N¡').
Do không có bản đồ đăng dày, nên việc xác định bề day cũng như diện phân bố của các nhịp trầm tích từ T22 lên phía trên sẽ được xác định theo các mặt cắt dia chan. Trên các mặt cắt địa chan, theo phương TB-DN bé day tram tích tăng dan về phía DN, còn phía Bắc va TB là phan thêm Hạ Long, nhịp trầm tích rất mỏng, nhiều nơi có thể không xuất hiện nhịp trầm tích này; tương tự như vậy với phan ria phía Nam của lồ là thêm Hải Nam. Bè dày của nhịp trầm tích này biến đổi trong khoảng từ vài chục mét tới hơn 700m ở khu vực giếng khoan Y-2X. Theo phương DB-TN, bé dày trầm tích của hệ tang Phong Châu và Phù Cừ giảm dan từ DB — trung tâm bán địa hào về phía TN — khối nâng của móng (hình 1.
Tại giếng khoan Y-1X, tập trầm tích này có bề dày khoảng 270m. Về thành phan thạch học: hệ tang Phong Châu chủ yếu là sét vôi, bột vôi xen kẹp với cát kết hat mịn, rat mịn có độ lựa chọn tốt; hệ tầng Phù Cừ có các lớp dày cuội kết ở giữa, phân trên và dưới là các lớp mỏng sét vôi, bột vôi xen kẹp với cát kết hạt từ mịn tới thô. Trong giếng khoan Y-2X, nhịp trầm tích T22-T20 dày hơn 700m do ở gần khu vực trung tâm của bán địa hào. Thành phần thạch học tương tự như ở giếng khoan Y-1X.
Môi trường trầm tích của 2 hệ tầng này đặc trưng cho giai đoạn biến thoái, biến đối từ đồng bang châu thé tới delta front và prodelta.