Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, định nghĩa về nghiên cứu khoa học, quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học 1. Khái niệm về nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học (NCKH) là dạng hoạt động trí tuệ nhằm khám phá quy luật của các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và con người, đề ra nguyên lý công nghệ, áp dụng nguyên lý ấy vào việc tạo dựng các phương tiện kỹ thuật, vào việc tổ chức quá trình chế biến vật chất và thông tin [32]. “NCKH là sự tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết, hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới, hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật đáp ứng mục tiêu của con người.” NCKH là hoạt động đặc biệt, thể hiện ở chỗ đó là công việc tìm kiếm những điều chưa biết và người nghiên cứu hoàn toàn không thể hình dung được, hoặc không thể hình dung thật chính xác kết quả dự kiến.
Điều này khác biệt hoàn toàn với hàng loạt hoạt động khác ở trong cuộc sống [27]. Nói một cách khái quát thì theo Luật KH & CN, NCKH là “hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn” [32]. Nghiên cứu khoa học trong y học có vai trò quan trò quan trọng cho xã hội. Nghiên cứu giúp cung cấp thông tin về xu hướng bệnh và các yếu tố rủi ro, kết quả điều trị hoặc can thiệp sức khỏe cộng đồng, mô hình chăm sóc và chi phí chăm sóc sức khỏe.
Không những thế, nghiên cứu khoa học trong y học rất quan trọng để ghi lại, đánh giá kinh nghiệm trong thực hành lâm sàng để phát triển các hướng dẫn cho các thực hành tốt nhất và đảm bảo chăm sóc bệnh nhân chất lượng cao [55]. Như vậy có thể hiểu NCKH là quá trình thu thập, xử lý, chế biến thông tin để trả lời cho các câu hỏi đặt ra của nghiên cứu. Sản phẩm của NCKH là thông tin. Phân loại nghiên cứu khoa học NCKH có thể được phân loại theo nhiều cách.
Phân loại có thể được thực hiện theo các kỹ thuật thu thập dữ liệu dựa trên quan hệ nhân quả, mối quan hệ với thời gian và phương tiện mà chúng được áp dụng [14], [48]. Bộ Khoa học và Công nghệ hiện đang phân loại theo lĩnh vực nghiên cứu, phân loại theo dạng hoạt động KH & CN, phân loại theo mục tiêu kinh tế - xã hội của hoạt động khoa học và công nghệ. Phân loại nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực nghiên cứu khá phổ biến, cụ thể NCKH gồm có 6 lĩnh vực chính: - Khoa học tự nhiên, bao gồm toán học và thống kê; vật lý; hóa học; khoa học máy tính và thông tin; các khoa học trái đất và môi trường liên quan; sinh học; khoa học tự nhiên khác. - Khoa học kỹ thuật và công nghệ, bao gồm nhóm kỹ thuật dân dụng; nhóm kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật chế tạo máy, kỹ thuật dân dụng; nhóm kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật thông tin; nhóm kỹ thuật hóa học; nhóm kỹ thuật vật liệu và luyện kim; nhóm kỹ thuật y học; nhóm kỹ thuật môi trường; nhóm công nghệ sinh học môi trường; nhóm công nghệ sinh học công nghiệp, công nghệ nano; nhóm kỹ thuật thực phẩm và đồ uống; nhóm khoa học kỹ thuật và công nghệ khác.
- Khoa học nông nghiệp: Gồm trồng trọt; chăn nuôi; thú y; lâm nghiệp; thủy sản; công nghệ sinh học nông nghiệp; khoa học nông nghiệp khác. - Khoa học xã hội: Gồm tâm lý học; xã hội học; kinh tế và kinh doanh; khoa học giáo dục; xã hội học; pháp luật; khoa học chính trị; địa lý kinh tế và xã hội; thông tin đại chúng và truyền thông; khoa học xã hội khác. - Khoa học nhân văn: Gồm có lịch sử và khảo cổ học; ngôn ngữ học và văn học; nghệ thuật; triết học, đạo đức học và tôn giáo, khoa học nhân văn khác. Khoa học y, dược: Bao gồm y học cơ sở; y học lâm sàng; y tế; dược học; công nghệ sinh học trong y học; khoa học y dược khác.
Phương pháp nghiên cứu định lượng hiện đang được áp dụng rộng rãi trong các công trình nghiên cứu khoa học sức khỏe tại Việt Nam, trong đó có 2 thiết kế nghiên cứu chính là nghiên cứu quan sát và nghiên cứu thực nghiệm [14], [45]. Khái niệm quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học Khái niệm Quy trình quản lý (QTQL) là “quá trình hoạt động của các chủ thể quản lý tập hợp thành một cơ chế được quy định theo một trình tự logic nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu quản lý đã được đề ra bằng cách thực hiện những chức năng quản lý nhất định, tuân thủ theo những nguyên tắc quản lý và vận dụng những phương pháp quản lý thích hợp. Hoạt động này có kế hoạch vĩ mô (các quá trình giữa tất cả các cơ quan quản lý hay giữa những nhóm cơ quan quản lý) và kế hoạch vi mô (các quá trình trong nội bộ cơ quan quản lý, ở từng nơi làm việc. Quy trình quản lý thường gồm 7 khâu, từ xây dựng kế hoạch, tổ chức, biên chế, chỉ huy, điều phối, đến báo cáo, lập ngân sách.
Quy trình quản lý chiếm vị trí đặc biệt trong hệ thống quản lý, đặc trưng cho đời sống thực tế của hệ thống quản lý sản xuất như tính tổng hợp, tính liên ngành, tính kế hoạch, tính hệ thống. Nó mang nhiều yếu tố nghệ thuật, sáng tạo” [29]. Dựa vào khái niệm về quy trình quản lý, có thể nói quy trình quản lý NCKH là quá trình hoạt động của các chủ thể quản lý tập hợp thành một cơ chế được quy định theo một trình tự logic nhất định, nhằm đạt được những mục tiêu quản lý về đề tài NCKH đã được đề ra bằng cách thực hiện những chức năng quản lý nhất định, tuân thủ theo những nguyên tắc quản lý và vận dụng những phương pháp quản lý thích hợp. Vai trò của quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại bệnh viện Theo Deming, “mỗi tổ chức được tạo thành bởi hàng ngàn quy trình”.
Việc cải thiện các quy trình dần dần từng bước và cuối cùng dẫn đến việc cải tiến tổ chức. Vì vậy, đòi hỏi tổ chức nói chung và các bệnh viện phải tự xác định những quy trình quan trọng nhất, tìm cách nghiên cứu, phân tích những quy trình đó và xây dựng các biện pháp cải tiến. Trong những năm gần đây, ngành y tế đã có nhiều chuyển biến nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người bệnh, mà quan trọng nhất là đẩy mạnh vai trò của quản lý bệnh viện [36]. Việc xây dựng và áp dụng quy trình trong quản lý các hoạt động của bệnh viện giúp năng cao chất lượng dịch vụ, hạn chế rủi ro và giảm bớt lãng phí [19].
7 Vai trò của quy trình quản lý đề tài NCKH tại bệnh viện có thể tóm gọn như sau: - Nâng cao về chất lượng NCKH của cán bộ, viên chức, nhân viên bệnh viện. - Đảm bảo thực hiện các hoạt động NCKH đúng quy định và kiểm soát chất lượng nghiên cứu một cách hiệu quả. - Nâng cao trách nhiệm của các khoa, phòng trong việc phối hợp thực hiện quy định về quản lý đề tài, phục vụ công tác NCKH của bệnh viện. Quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học tại một số bệnh viện 1.
Các Luật, Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học tại Việt Nam Tại Việt Nam, Nhà nước rất quan tâm phát triển các hoạt động NCKH và đã xây dựng Luật KH & CN, Nghị định, Thông tư về NCKH của Chính phủ, của Cục KH & CN, Bộ Y tế, Sở Y tế để căn cứ vào đó các trường đại học, viện nghiên cứu, bệnh viện xây dựng quy trình quản lý NCKH và thực hiện các hoạt động NCKH. Một số Luật, Thông tư chính về NCKH gồm: - Quyết định số 10/2007 ngày 11/5/2007 của Bộ KH & CN ban hành quy định tuyển chọn, xét chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp Nhà nước [15]. - Thông tư số 12/2009/TT-BKHCN ngày 08/5/2009 của Bộ Khoa học công nghệ hướng dẫn đánh giá nghiệm thu đề tài KH & CN, dự án sản xuất thử nghiệm cấp nhà nước [16]. - Luật KH & CN số 29/2013/QH13 [35].
- Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật KH & CN [22]. - Thông tư số 44 /2007/TTLT-BTC-BKHCN ngày 07 tháng 5 năm 2007 của Bộ Tài chính – Bộ KH & CN về hướng dẫn định mức xây dựng và phân bổ dự toán kinh phí đối với các đề tài, dự án KH & CN có sử dụng ngân sách nhà nước [17]. - Thông tư 37/2010/TT-BYT quy định về quản lý đề tài nghiên cứu khoa học và dự án sản xuất thử nghiệm cấp Bộ Y tế [18]. 8 - Hướng dẫn 4000/SYT-NVY hướng dẫn quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh [39].
- Hướng dẫn 8798/SYT-NVY hướng dẫn hoạt động nghiên cứu khoa học cho các đơn vị trực thuộc chuyên môn do Sở Y tế quản lý từ năm 2017 của Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh [40]. Nghiên cứu về sức khỏe là một sức mạnh then chốt để cải thiện các hoạt động của hệ thống y tế. Việc nghiên cứu giúp các quốc gia xác định nhu cầu và liên kết việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu [30]. Chất lượng của các nghiên cứu trong lĩnh vực y khoa được đảm bảo là yếu tố quan trọng giúp phát triển hệ thống y tế.
Quy trình quản lý đề tài nghiên cứu khoa học trên thế giới Hiện tại, ở Úc đang sử dụng trang web “hệ thống quản trị nghiên cứu” để quản lý các nghiên cứu liên quan đến con người tại khu vực. Cán bộ quản lý nghiên cứu sẽ đánh giá rủi ro, nguồn lực và các yếu tố liên quan trước khi phê duyệt khoa học và đạo đức để tiến hành nghiên cứu. Quy trình quản lý đề tài NCKH tại Úc được thực hiện thông qua các hình thức điện tử. Các nhà nghiên cứu có thể tìm kiếm và điền đầy đủ những mẫu đơn đánh giá nguồn ngân sách cho nghiên cứu hay lợi ích và rủi ro khi tiến hành nghiên cứu để nộp về cho cán bộ quản lý.