Đặt vấn đề Trình bày sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu. Tổng quan Giới thiệu tổng quan về chương trình XĐGN và tổng quan về địa bàn nghiên cứu như: đặc điểm tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội của xã Da Kia. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày sơ lược về những khái niệm nghèo đói, các chỉ tiêu đánh giá nghèo đói, thực trạng đói nghèo, nguyên nhân dẫn đến nghèo. Trình bày các phương pháp nghiên cứu, trong đó có các phương pháp như: thu thập số liệu sơ cấp, thứ cấp, phương pháp thống kê mô tả, phương pháp phân tích, xử lý số liệu và một số chỉ tiêu đánh giá.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận Khái quát về tình hình chung của hộ nghèo, thực trạng nghèo, cũng như thu — chỉ của hộ nghèo, tình hình vay vốn và sử dung vốn của hộ nghéo, từ đó xác định được nguyên nhân nghèo. Bên cạnh đó còn có kết quả thực hiện các chương trình XDGN, các chương trình XDGN đang hoạt động, đưa ra một số giải pháp nhằm day nhanh tốc độ giảm nghèo. Cuối cùng là đánh giá của ban chỉ đạo XĐGN. Kết luận và đề nghị Tổng kết đánh giá lại những vấn đề nghiên cứu.
Nêu lên những kiến nghị, đề xuất dé thực hiện tốt trong thời gian tới. CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN 2. Tống quan về vấn đề nghiên cứu 2. Tổng quan nghèo đói Đa Kia là một xã nghèo của huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước, có số hộ nghèo cũng khá cao trong huyện.
Theo tiêu chí cũ, trong giai đoạn từ năm 2001 — 2005 chuẩn nghèo được áp dụng ở nông thôn là 100 ngàn đồng/người/tháng thì năm 2002 toàn xã có 314 hộ nghèo chiếm 10,94% trên tổng số hộ dân sống trên địa bàn. Nhờ được sự quan tâm của chính quyền địa phương và ban chỉ đạo XDGN tỷ lệ này giảm xuống còn 10,1% với 304 hộ nghèo vào năm 2003. Đến cuối năm 2004 số hộ nghèo giảm xuống còn 208 hộ chiếm 6,6%. Tuy nhiên, khi cả nước áp dụng tiêu chí nghèo mới với chuẩn nghèo được áp dụng ở nông thôn trong giai đoạn từ năm 2006 — 2010 là 200 ngàn đồng/người/tháng thì năm 2005 toàn xã Da Kia có 409 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 12,7% trên tổng số hộ sống tại xã Da Kia.
Nhưng đến năm 2006, nhờ được tăng cường công tác XĐGN và một số chương trình vì người nghèo như: cấp nhà tình thương cho người nghèo neo đơn, người có hoàn cảnh gia đình khó khăn, chương trình cấp đất sản xuất cho hộ nghèo không có đất sản xuất, cấp phân bón, thuốc trừ sâu và giống cây trồng vật nuôi đã làm cho tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống một cách đáng kế còn 307 hộ nghèo chiếm 8,65% trên tổng số hộ. Tổng Số Hộ Nghèo qua Các Năm tại Xã Đa Kia 409 314 304 307 208 2002 2003 2004 2005 2006 Nguồn tin: Ban chỉ đạo XDGN So sánh ty lệ hộ nghèo giữa các thôn với nhau trong dia bàn xã, thi thôn Bình Giai có nhiều hộ nghèo nhất 49 hộ chiếm 16% trên tổng số hộ nghèo của xã, kế đến là thôn Bình Hà 1 là 14%, thôn Bình Tân 12,7%, Bình Thủy 12%. Và được thể hiện qua biểu đỗ sau: Hình 2. Tổng Số Hộ Nghèo Phân Bố ở Các Thôn Trong Địa Bàn Xã Da Kia Năm 2006 Bình Giai Bo Tam Binh Ha 2 Binh Hà 1 Bình Tân Bình Thủy Bình Tiền Thôn 6 Thôn 3 Thôn 2 Nguồn tin: Ban chỉ đạo XĐGN 2.
Tông quan về chương trình xóa đói giảm nghèo Từ năm 1992, XDGN đã được triển khai ở một số tỉnh, thành phố, đến năm 1994 trở thành phong trào ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong giai đoạn 1992 — 1997, phong trào XĐGN đã được các dia phương và các tô chức đoàn thé phát động dé trợ giúp hộ nghèo vẻ đời sống va sản xuất. =7 Đến cuối năm 1997 nhiều mô hình XDGN thành công đã xuất hiện và được nhân rộng. Để tập trung được nguồn lực một cách đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, XDGN phải trở thành một chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nhằm hỗ trợ trực tiếp xã nghèo, hộ nghèo, người nghèo các điều kiện cần thiết để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, ổn định cuộc sống, tự vươn lên thoát khỏi đói nghèo, tạo môi trường thuận lợi XDGN bền vững.
Chính vì vậy, ngày 23/07/1998 thủ tướng chính phủ đã ký quyết định phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia XĐGN giai đoạn 1998 — 2000 (gọi là chương trình 133), đây là một quyết sách lớn của Đảng và nhà nước. Đến tháng 09/2001 tiếp tục phê duyệt chương trình XĐGN và việc làm giai đoạn 2001 — 2005 (gọi là chương trình 143). Cơ cấu nhân sự, chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của ban chỉ đạo XDGN a) Cơ cấu nhân sự Bảng 2. Cơ Cau Nhân Sự Ban XDGN Xã Da Kia STT Nhân sự Nhiệm vụ 1 Chủ tịch UBND xã Trưởng ban 2 Cán bộ chuyên trách XĐGN Phó ban 3 Cán bộ thương binh xã hội Thành viên 4 Chủ tịch hội nông dân nt 5 Chủ tịch hội phụ nữ nt 6 Chủ tịch hội cựu chiến binh not 7 Chủ tịch mặt trận tô quốc nt 8 Chủ tịch hội chữ thập đỏ nt 4 Trưởng ban tai chính nt 10 Bi thư đoàn thanh niên nt 1] Thôn trưởng của 12 thôn nt Nguôn tin: Ban chỉ dao XDGN b) Chire nang Ban chỉ đạo XDGN có chức năng xây đựng các chương trình, dy án, kế hoạch và tổ chức triển khai thực hiện mục tiêu XDGN trên địa bàn xã.
c) Nhiệm vụ Ban chi đạo XDGN xã phối hợp với các tổ chức đoàn thé tiền hành điều tra xác định hộ nghèo, lập danh sách, phân loại đối tượng, tổng hợp và báo cáo kết quả điều tra. Tổ chức thực hiện các biện pháp hỗ trợ cấp nhà, cấp đất sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc nghèo thuộc chương trình 134, xây dung nhà tình thương, hướng dẫn hộ nghèo làm khuyến nông. Nhiệm vụ quan trọng tiếp theo mà hang năm ban chỉ đạo XDGN phải thực hiện là theo đõi biến động hộ nghèo, xác định hộ vượt nghèo, hộ phát sinh mới, hộ có thu nhập đưới chuẩn nghèo và lập danh sách kết quả điều tra. đ) Hoạt động của ban XĐGN Nhìn chung công tác XDGN thường được chỉ đạo thường xuyên và được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của địa phương, do đó các đồng chí trong ban chỉ đạo luôn luôn tích cực xuống tận thôn ấp, vận động bà con nhân dân tăng gia sản xuất, cải tạo cây trồng giống vật nuôi, áp dụng khoa học kỹ thuật vào cây trồng vật nuôi để tăng năng suất, đưa đời sống đi lên, phấn đấu xóa hộ đói giảm hộ nghèo.
Mục tiêu, phương hướng thực hiện công tác XĐGN 2006 - 2010 a) Mục tiêu Phấn đấu giảm được 25% số hộ nghèo, tức là từ 100 - 150 hộ/595 hộ thoát nghèo (năm 2005). Bằng các nguồn vốn vận động từ các cơ quan đơn vị trên địa bàn, các nhà hảo tâm tài trợ giúp hộ nghèo phát triển sản xuất. Đồng thời đề nghị trên hỗ trợ cây, con, giống, vốn vay ưu đãi ngân hàng chính sách, vốn hỗ trợ của các ban ngành vận động, mở các lớp khuyến nông hướng dẫn khoa học kỹ thuật cây trồng vật nuôi cho nhân dan và đồng thời đưa điện về 12/12 thôn, số hộ sử dụng điện từ 80 - 85% số hộ có điện sinh hoại. Về cơ sở hạ tang, tranh thi vén 135, 134, 174 vén ha tang co sở nông thôn dựa vào cộng đồng, vốn đóng góp của nhân dan để xây dựng với mục đích nâng cao đời sống sinh hoạt dân sinh.
Đồng thời đề cập với cấp trên hỗ trợ con em hộ nghèo được miễn giảm các khoản đóng góp. Đầu tư xây dựng các trường lớp trên địa bàn các thôn bản để con em đồng bào có lớp đề đến trường phổ cập giáo dục. b) Phương hướng ; Xây dựng tỉnh than tương thân tương ái thông qua quỹ hội tự đóng góp giúp đỡ hội viên nghèo khắc phục khó khăn, đầu tư thâm canh vào trồng trọt, chăn nuôi tạo thu nhập én định, nâng cao mức sống, giảm nghèo, vươn lên ôn định cuộc sống. Tạo điều kiện thuận lợi nhất về mọi mặt để hộ nghèo có điều kiện tiếp xúc và nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương trong việc giải quyết việc làm, tăng thu nhập cải thiện đời sống.
Khuyến khích các doanh nghiệp về đầu tư trên địa bàn nhằm thu hút lực lượng lao động nhàn rỗi trên địa bàn tham gia sản xuất. Kết hợp với chính quyền địa phương, nhà nước và nhân dân cùng phấn đấu thực hiện mục tiêu là xóa nhà tranh tre, tạm bo, giảm hộ nghèo từ 19% xuống 9% năm 2010. Điều kiện tự nhiên 2. Vị trí địa lý Đa Kia là một xã thuộc trung du miền núi năm trong điện 135 của chính phủ, đa số người dân nơi đây chủ yếu là dân nhập cư từ hầu hết các tỉnh trong cả nước, cách trung tâm huyện Phước Long - tỉnh Bình Phước 20km về phía Tây Băc, với ranh giới hành chính như sau: — Phía bắc giáp huyện Bi Đốp — Phía nam giáp xã Bình Phước và Long Hà — Phía đông giáp xã Phú Nghĩa — Phía tây giáp xã Bình Thắng Đa Kia nằm trên trục đường 749, đây là tỉnh lộ nối liền hai huyện Phước Long và Bù Dép, góp phần rất lớn trong việc vận chuyển hàng hóa và thúc day phát triển kinh tế xã hội của xã.
Tuy nhiên, Đa Kia vẫn là một vùng quê hẻo lánh xa xôi, mặt bằng dân trí thấp, xa các trung tâm kinh tế chính trị và các thành phố lớn nên ít có cơ hội được hưởng sức lan tỏa của các trung tâm phát triển đó. Điều đó là một trở ngại không nhỏ đến sự phát triển kinh tế của xã và cũng như đến cuộc sống của người dân không khá lên được. Địa hình Địa hình của xã chịu ảnh hưởng của phong trào bazan và thường có dạng đồi lượn sóng, tương đối ít đốc và có chiều hướng thấp dần về phía hồ Cần Don. Phần phía Đông Nam chịu ảnh hưởng của nền đá phiến nên địa hình bị phân cắt mạnh và dốc hơn.
Nơi có độ cao nhất là 205m và thấp nhất là 82m. Những nơi có địa hình tương đối đốc ảnh hưởng đến việc bố trí các loại hình sử dụng đất, xây dựng cơ sở hạ tầng như: giao thông, trường học, các công trình công cộng.