Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về Xây dựng Nông thôn mới là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao toàn diện đời sống vật chất, tinh thần cho cư dân nông thôn. Tại huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, khu vực nông thôn giữ vị thế đặc biệt quan trọng với dân số nông thôn chiếm tới 91,23% (tương đương 143.714 người) trên tổng diện tích tự nhiên 11.791,01 ha. Dù sở hữu vị trí địa lý thuận lợi cùng mạng lưới giao thông liên vùng phát triển, địa phương vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức: sản xuất nông nghiệp còn manh mún, kết cấu hạ tầng kỹ thuật thiếu đồng bộ và sức ép chuyển dịch đất đai trong quá trình công nghiệp hóa nhanh.

Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của đề tài là đánh giá toàn diện tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới và đi sâu phân tích thực trạng triển khai các đồ án quy hoạch nông thôn mới tại 17 xã thuộc huyện Thuận Thành trong giai đoạn 2011 - 2016. Nghiên cứu tập trung làm rõ những kết quả đạt được, nhận diện các nút thắt cản trở tiến độ tại các xã điểm, từ đó cung cấp căn cứ khoa học để điều chỉnh phương án quy hoạch phù hợp với thực tiễn.

Kết quả đánh giá mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi trực tiếp đóng góp giải pháp nâng cao tỷ lệ hoàn thành 19 tiêu chí quốc gia, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp - dịch vụ và thúc đẩy 7 xã còn lại cán đích nông thôn mới, nâng tỷ lệ xã đạt chuẩn từ 58,82% (10/17 xã vào cuối năm 2016) lên 100% trong các giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết phát triển nông thôn bền vững và lý thuyết tổ chức không gian lãnh thổ nông nghiệp - nông thôn. Tiếp cận theo quan điểm của các tổ chức quốc tế và các nhà khoa học nông nghiệp, phát triển nông thôn là quá trình cải thiện có chủ ý, toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường nhằm nâng cao chất lượng sống của cư dân bản địa dựa trên vai trò chủ thể của người dân cùng sự hỗ trợ định hướng từ Nhà nước.

Đồng thời, đề tài tổng kết các bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu như phong trào Saemaul Undong tại Hàn Quốc (hoàn thành công cuộc hiện đại hóa nông thôn trong 26 năm), mô hình "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) tại tỉnh Oita - Nhật Bản (tạo dựng thành công 329 dòng sản phẩm nông sản đặc trưng giá trị cao), cùng các chính sách nông thôn mới tại Trung Quốc và Thái Lan.

Hệ thống khái niệm nghiên cứu tập trung vào 3 trụ cột quy hoạch nông thôn mới cấp xã:

  1. Quy hoạch sử dụng đất (xác định chỉ tiêu không gian, chuyển đổi mục đích sử dụng đất).
  2. Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp (vùng chuyên canh, dồn điền đổi thửa, ứng dụng công nghệ cao).
  3. Quy hoạch mạng lưới hạ tầng kỹ thuật - xã hội (giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, thiết chế văn hóa).

Toàn bộ hệ thống tiêu chí đánh giá được chuẩn hóa theo Quyết định số 491/QĐ-TTg, Quyết định số 342/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các thông tư hướng dẫn liên bộ với 5 nhóm gồm 19 tiêu chí quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập từ năm 2011 đến năm 2016. Dữ liệu thứ cấp bao gồm các báo cáo kinh tế - xã hội, hồ sơ đồ án quy hoạch và số liệu thống kê thu thập tại UBND huyện Thuận Thành, Phòng Nông nghiệp & PTNT và Văn phòng Điều phối Nông thôn mới tỉnh Bắc Ninh.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để lựa chọn 2 xã điểm nghiên cứu mang tính đại diện tương phản rõ rệt trên địa bàn huyện:

  • Xã Nghĩa Đạo: Đại diện cho nhóm xã thuần nông đã hoàn thành xuất sắc 19/19 tiêu chí và thực hiện tốt quy hoạch.
  • Xã Ngũ Thái: Đại diện cho nhóm xã chưa hoàn thành các tiêu chí (mới đạt 12/19 tiêu chí) và tiến độ thực hiện quy hoạch còn nhiều vướng mắc.

Cỡ mẫu điều tra sơ cấp gồm 12 cán bộ trong Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp xã và 100 hộ dân (50 hộ tại xã Nghĩa Đạo và 50 hộ tại xã Ngũ Thái) thông qua bảng hỏi cấu trúc kết hợp khảo sát thực địa.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, so sánh đối chiếu chuỗi thời gian và đánh giá đa tiêu chí là nhằm định lượng chính xác tỷ lệ hoàn thành của từng chỉ tiêu đất đai, nguồn lực tài chính, đồng thời phản ánh chân thực mức độ hài lòng, tính chủ động tham gia của người dân đối với từng phương án quy hoạch cụ thể.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tiến độ xây dựng nông thôn mới toàn huyện đạt kết quả tích cực nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các phân vùng. Đến ngày 31/12/2016, toàn huyện Thuận Thành có 10/17 xã đạt chuẩn 19/19 tiêu chí (chiếm tỷ lệ 58,82%), bao gồm các xã: An Bình, Song Hồ, Đại Đồng Thành, Thanh Khương, Trí Quả, Hoài Thượng, Nghĩa Đạo, Gia Đông, Đình Tổ và Xuân Lâm. Trong khi đó, 7 xã còn lại mới đạt từ 12 đến 16 tiêu chí.

Thứ hai, việc thực thi 3 phương án quy hoạch tại 2 xã điểm thể hiện sự phân hóa rõ rệt:

  • Tại xã Nghĩa Đạo: Cả 3 phương án quy hoạch (sử dụng đất, sản xuất nông nghiệp, hạ tầng cơ sở) đều hoàn thành đạt và vượt kế hoạch đề ra; công tác dồn điền đổi thửa tạo điều kiện hình thành vùng chuyên canh lúa chất lượng cao, giúp xã hoàn thành 100% tiêu chí nông thôn mới.
  • Tại xã Ngũ Thái: Việc triển khai quy hoạch còn chậm, nhiều công trình hạ tầng và chỉ tiêu đất đai chưa đạt kế hoạch phê duyệt, dẫn đến việc xã mới chỉ đạt 12/19 tiêu chí (tương đương 63,15%) tính đến cuối năm 2016.

Thứ ba, sự bứt phá về tăng trưởng kinh tế và hạ tầng nông thôn. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) huyện năm 2016 đạt 3.819,128 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 10,34%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 30,5 triệu đồng/người/năm, giá trị sản xuất trồng trọt - thủy sản đạt 90,8 triệu đồng/ha, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống mức 3,52%. Tổng vốn đầu tư phát triển giao thông năm 2016 đạt 381,7 tỷ đồng (tăng 20% so với năm 2015), nâng cấp nhiều tuyến đường trục xã, liên thôn.

Thứ tư, nguồn lực huy động còn thiếu cân đối. Trong tổng nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới toàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2015 đạt 5.488,9 tỷ đồng, ngân sách địa phương chiếm tỷ trọng chi phối (trên 80%), người dân đóng góp 573,2 tỷ đồng (chiếm 10,4%), trong khi nguồn vốn từ doanh nghiệp chỉ đạt 58,1 tỷ đồng (chiếm tỷ lệ rất thấp 1,1%).

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự khác biệt giữa xã Nghĩa Đạo và xã Ngũ Thái nằm ở năng lực chỉ đạo điều hành của Ban chỉ đạo cấp cơ sở và cơ chế huy động nguồn lực xã hội hóa. Xã Nghĩa Đạo đã làm tốt công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân để hiến đất mở đường và đóng góp ngày công, kết hợp lồng ghép nguồn vốn hiệu quả. Ngược lại, xã Ngũ Thái gặp khó khăn lớn trong việc giải phóng mặt bằng, nguồn vốn đối ứng của địa phương hạn hẹp và công tác lập hồ sơ quy hoạch chi tiết chưa sát với điều kiện thực tế.

Trong phân tích dữ liệu học thuật, các kết quả này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua bảng đối chiếu tiến độ 19 tiêu chí giữa 2 nhóm xã, kết hợp biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu nguồn vốn huy động (ngân sách nhà nước chiếm trên 80%, dân đóng góp 10,4%, doanh nghiệp 1,1%) và biểu đồ mạng radar đánh giá mức độ hoàn thành 3 phương án quy hoạch.

So sánh với kinh nghiệm quốc tế, kết quả tại Thuận Thành khẳng định bài học từ phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc: vai trò chủ thể của cộng đồng là yếu tố quyết định thành bại. Tuy nhiên, điểm hạn chế nổi bật tại địa phương là sự thu hút đầu tư từ khu vực kinh tế tư nhân vào nông nghiệp còn quá khiêm tốn (1,1%), đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới cơ chế hợp tác công tư (PPP) trong quy hoạch nông thôn.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Rà soát và điều chỉnh đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới cấp xã: UBND huyện Thuận Thành chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và UBND 17 xã tiến hành rà soát 100% đồ án quy hoạch đã phê duyệt trong giai đoạn 2017 - 2018. Thực hiện điều chỉnh cục bộ các chỉ tiêu quy hoạch sử dụng đất xen kẹp, quy hoạch mạng lưới điểm dân cư nông thôn và hạ tầng kỹ thuật nhằm thích ứng với quá trình đô thị hóa nhanh của vùng ven đô.

  2. Cơ cấu lại và đa dạng hóa nguồn lực tài chính: Ban Chỉ đạo NTM huyện Thuận Thành cùng chính quyền các xã xây dựng cơ chế ưu đãi nhằm nâng tỷ trọng vốn đầu tư từ doanh nghiệp từ mức 1,1% lên 10 - 15% tổng nguồn lực trong giai đoạn 2017 - 2020. Huy động mục tiêu từ 500 đến 600 tỷ đồng vốn xã hội hóa để hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng và cơ sở xử lý rác thải tập trung.

  3. Thúc đẩy tích tụ đất đai và phát triển nông nghiệp công nghệ cao: Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện kết hợp UBND các xã (trọng tâm là Ngũ Thái, Song Liễu, Hà Mãn) đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phấn đấu nâng giá trị sản xuất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản từ 90,8 triệu đồng/ha lên trên 120 triệu đồng/ha vào năm 2020. Hình thành tối thiểu 5 vùng sản xuất chuyên canh tập trung ứng dụng công nghệ cao với quy mô trên 20 ha/vùng.

  4. Nâng cao năng lực cán bộ và phát huy quy chế dân chủ cơ sở: Phòng Nội vụ huyện tổ chức đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn về quản lý quy hoạch cho 100% cán bộ thuộc Ban Quản lý NTM 17 xã trong giai đoạn 2017 - 2019. Thực hiện công khai, minh bạch 100% kế hoạch sử dụng đất và dự toán xây dựng công trình để nhân dân trực tiếp tham gia giám sát, phấn đấu đưa xã Ngũ Thái đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2019 và toàn huyện hoàn thành mục tiêu nông thôn mới trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý quy hoạch cấp huyện, xã: Tiếp cận khung đánh giá thực chứng 3 phương án quy hoạch (đất đai, sản xuất, hạ tầng) để trực tiếp áp dụng vào việc thẩm định, quản lý trật tự xây dựng và điều chỉnh quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại các địa bàn có tốc độ đô thị hóa nhanh.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn: Khai thác phương pháp nghiên cứu so sánh đối chứng giữa các xã điểm, cùng hệ thống bảng hỏi điều tra 100 hộ dân và 12 cán bộ làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về quản lý đất đai và không gian kinh tế nông thôn.
  • Đơn vị tư vấn lập quy hoạch xây dựng và kiến trúc nông thôn: Rút ra các bài học thực tiễn trong việc khớp nối mạng lưới hạ tầng liên xã, hệ thống thủy lợi phân nhánh (kênh Bắc 55,84 km, kênh Giữa 56,48 km) nhằm khắc phục tình trạng quy hoạch dập khuôn, thiếu tính khả thi.
  • Các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp: Nắm bắt dữ liệu định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng, các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn tại Thuận Thành để xây dựng phương án liên kết sản xuất và bao tiêu sản phẩm nông nghiệp sạch.

Câu hỏi thường gặp

Tỷ lệ đạt chuẩn nông thôn mới tại huyện Thuận Thành tính đến cuối năm 2016 đạt mức nào? Tính đến ngày 31/12/2016, toàn huyện Thuận Thành có 10/17 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí nông thôn mới (đạt tỷ lệ 58,82%). 7 xã còn lại đạt từ 12 đến 16 tiêu chí, trong đó xã Ngũ Thái mới đạt 12/19 tiêu chí do vướng mắc về nguồn vốn và tiến độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật.

Ba phương án quy hoạch trọng tâm được luận văn phân tích và đánh giá là gì? Nghiên cứu đánh giá sâu 3 phương án quy hoạch cấp xã gồm: Quy hoạch sử dụng đất, Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp và Quy hoạch hạ tầng cơ sở (giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế). Sự phối hợp đồng bộ giữa 3 phương án này là yếu tố cốt lõi quyết định tính bền vững của các tiêu chí nông thôn mới.

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác huy động vốn xây dựng nông thôn mới tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là sự phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước (chiếm trên 80% tổng nguồn lực 5.488,9 tỷ đồng toàn tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011 - 2015). Tỷ lệ đóng góp từ cộng đồng doanh nghiệp rất khiêm tốn, chỉ đạt 1,1% (khoảng 58,1 tỷ đồng), làm hạn chế nguồn lực đầu tư cho các dự án quy mô lớn.

Cơ cấu kinh tế của huyện Thuận Thành đã chuyển dịch như thế nào trong quá trình xây dựng nông thôn mới? Cơ cấu kinh tế huyện chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực: tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 42,2%, thương mại - dịch vụ chiếm 37,1% và nông nghiệp giảm còn 20,7% vào năm 2016. Sự chuyển dịch này giúp GRDP tăng trưởng 10,34% và nâng thu nhập bình quân đầu người lên 30,5 triệu đồng/năm.

Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng để tháo gỡ khó khăn cho các xã chậm tiến độ như Ngũ Thái? Luận văn nhấn mạnh bài học từ phong trào Saemaul Undong (Hàn Quốc) và mô hình Mỗi làng một sản phẩm (Nhật Bản). Địa phương cần phát huy tính tự chủ của người dân (từng đóng góp 10,4% vốn toàn tỉnh), lựa chọn phát triển sản phẩm nông nghiệp đặc thù và tinh giản thủ tục giải ngân vốn hỗ trợ từ ngân sách.

Kết luận

  • Huyện Thuận Thành đã đạt được nhiều thành tựu vượt bậc sau 6 năm triển khai xây dựng nông thôn mới với 10/17 xã (58,82%) hoàn thành 19/19 tiêu chí và GRDP tăng trưởng 10,34% vào năm 2016.
  • Nghiên cứu chỉ rõ sự tương phản sâu sắc giữa xã điểm Nghĩa Đạo (hoàn thành 100% kế hoạch 3 phương án quy hoạch) và xã Ngũ Thái (mới đạt 12/19 tiêu chí do chậm tiến độ hạ tầng và thiếu vốn).
  • Đề tài đóng góp khung phương pháp luận định lượng thực chứng để đánh giá toàn diện 3 phương án quy hoạch đất đai, sản xuất và hạ tầng tại cấp xã đồng bằng Bắc Bộ.
  • Xác lập hệ thống giải pháp và lộ trình thực thi giai đoạn 2017 - 2020, tập trung rà soát 100% đồ án quy hoạch, nâng giá trị canh tác lên 120 triệu đồng/ha và đưa xã Ngũ Thái cán đích nông thôn mới vào năm 2019.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn giá trị dành cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và các địa phương đang triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới. Bạn đọc quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để vận dụng chi tiết các giải pháp vào thực tiễn quản lý đất đai và quy hoạch nông thôn.