Tổng quan nghiên cứu

Huyện Ba Vì là địa bàn bán sơn địa đặc thù của thành phố Hà Nội với tổng diện tích tự nhiên đạt 42.402,69 ha, quy mô dân số trên 252,6 nghìn người phân bổ tại 31 xã và thị trấn. Địa hình huyện có sự phân hóa sâu sắc thành 3 tiểu vùng sinh thái gồm vùng núi chiếm 46,5% diện tích tự nhiên, vùng đồi gò chiếm 34,66% và vùng đồng bằng ven sông Hồng chiếm 18,48%. Bước vào giai đoạn 2011 - 2020, Ba Vì đối mặt với nhiều thách thức lớn trong phát triển nông nghiệp, nông thôn: cơ sở hạ tầng thiếu đồng bộ, sản xuất nông nghiệp manh mún với công nghệ canh tác thô sơ, chênh lệch mức sống giữa các vùng miền còn sâu sắc.

Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của luận văn là đánh giá toàn diện tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn 2011 - 2020, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đồ án quy hoạch, từ đó xác lập các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả quản lý quy hoạch trong giai đoạn tiếp theo. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung phân tích sâu tại 02 xã đại diện: xã Tản Hồng (đại diện cho 16 xã vùng đồng bằng đã về đích nông thôn mới) và xã Yên Bài (đại diện cho 7 xã miền núi còn nhiều khó khăn, chưa về đích). Phạm vi thời gian sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2019 kết hợp điều tra khảo sát thực địa năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ vững chắc để địa phương nâng cao tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới từ mức 50% (15/30 xã vào cuối năm 2019) hướng tới mục tiêu phủ kín 100% xã đạt chuẩn, đồng thời thúc đẩy thu nhập bình quân đầu người vượt mốc 38 triệu đồng/người/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng có hệ thống lý thuyết quy hoạch không gian nông thôn hiện đại và lý thuyết quản lý kinh tế đất đai bền vững. Nghiên cứu tham chiếu các bài học kinh nghiệm quốc tế tiêu biểu như phong trào Saemaul Undong (Làng mới) của Hàn Quốc với triết lý cần cù - tự lực - hợp tác, phong trào "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) tại Nhật Bản về khai thác tài nguyên bản địa, cùng các mô hình tái cơ cấu nông nghiệp chế biến thực phẩm tại Thái Lan và Trung Quốc.

Hệ thống khung pháp lý và khái niệm cốt lõi được xây dựng trên nền tảng Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tam nông; Quyết định số 491/QĐ-TTg và Quyết định số 1600/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Bộ tiêu chí quốc gia gồm 19 tiêu chí và 11 nội dung trọng tâm; Thông tư liên tịch số 13/2011/TTLT-BXD-BNNPTNT-BTNMT hướng dẫn lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Các khái niệm trung tâm bao gồm: nông thôn mới, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất cấp xã và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn theo chuẩn hóa hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Ba Vì, các văn kiện chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội, các đề án quy hoạch của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý Đô thị và báo cáo tổng kết giai đoạn 2012 - 2019 của 30 xã. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên với cỡ mẫu khảo sát 160 hộ dân (80 hộ tại xã Tản Hồng và 80 hộ tại xã Yên Bài) cùng 21 cán bộ quản lý trực tiếp tham gia chỉ đạo xây dựng nông thôn mới cấp huyện và cơ sở.

Lý do lựa chọn phương pháp chọn điểm đại diện và khảo sát xã hội học là nhằm lượng hóa chính xác sự khác biệt về địa hình, trình độ phát triển kinh tế và năng lực thực thi quy hoạch giữa vùng đồng bằng và miền núi. Phương pháp xử lý dữ liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian trước - sau quy hoạch, và đối chiếu chéo 3 hợp phần cốt lõi: quy hoạch vùng sản xuất nông nghiệp, quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch sử dụng đất. Phương pháp này giúp phản ánh khách quan mức độ hài lòng của cộng đồng dân cư cũng như tính khả thi thực tế của các đồ án quy hoạch trên địa bàn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế huyện Ba Vì có sự chuyển dịch tích cực qua các năm. Tỷ trọng giá trị gia tăng ngành nông - lâm - thủy sản giảm từ 50,7% năm 2017 xuống còn 36,9% năm 2019, trong khi khu vực dịch vụ tăng từ 32,7% lên 42,9% và công nghiệp - xây dựng tăng từ 13,2% lên 20,2%. Giá trị sản xuất toàn huyện tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 11% giai đoạn 2017 - 2018 và 20,9% giai đoạn 2018 - 2019.

Thứ hai, kết quả đạt chuẩn nông thôn mới bộc lộ sự phân hóa sâu sắc giữa các tiểu vùng. Tính đến tháng 12/2019, toàn huyện có 15/30 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt tỷ lệ 50%). Xã Tản Hồng (vùng đồng bằng) đã về đích sớm từ năm 2014, hoàn thành 100% các tiêu chí về đường giao thông trục thôn, trạm biến áp và hệ thống công trình công cộng. Ngược lại, xã Yên Bài (vùng núi) gặp nhiều khó khăn trong việc hoàn thiện các tiêu chí hạ tầng kỹ thuật, nhà văn hóa thôn và quy hoạch vùng sản xuất tập trung.

Thứ ba, cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo nhưng còn manh mún. Năm 2019, tổng diện tích đất nông nghiệp toàn huyện là 29.176,56 ha (chiếm 68,81% diện tích tự nhiên), trong đó đất sản xuất nông nghiệp đạt 17.134,09 ha (chiếm 58,73% quỹ đất nông nghiệp). Đất chưa sử dụng còn 273,79 ha (chiếm 0,64%), tập trung rải rác tại các xã như Châu Sơn (85,01 ha) và Khánh Thượng (38,38 ha).

Thứ tư, nguồn vốn đầu tư cho xây dựng nông thôn mới còn phụ thuộc nặng nề vào ngân sách nhà nước (chiếm trên 75% tổng nguồn vốn huy động), trong khi sự đóng góp từ các doanh nghiệp và xã hội hóa từ cộng đồng dân cư chỉ chiếm tỷ lệ khiêm tốn khoảng 6% đến 13%.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch rõ rệt trong kết quả thực hiện quy hoạch giữa xã Tản Hồng và xã Yên Bài bắt nguồn từ sự khác biệt về địa hình bán sơn địa và nguồn lực đầu tư. Vùng núi Ba Vì chiếm 46,5% diện tích tự nhiên nhưng địa hình chia cắt phức tạp, suất đầu tư hạ tầng giao thông và thủy lợi cao gấp 2-3 lần so với vùng đồng bằng. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ hình cột so sánh tiến độ hoàn thành 19 tiêu chí giữa hai nhóm xã, kết hợp cùng bảng thống kê cơ cấu nguồn vốn huy động để làm rõ mức độ phụ thuộc vào bầu sữa ngân sách.

Khi so sánh với bức tranh chung của cả nước (nơi có 99,7% số xã đã hoàn thành lập quy hoạch nông thôn mới), công tác quy hoạch tại Ba Vì giai đoạn 2011 - 2020 cũng bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống. Nhiều đồ án quy hoạch do các đơn vị tư vấn lập còn mang tính dập khuôn, nặng về xây dựng cơ bản hạ tầng mà chưa bám sát tiềm năng phát triển kinh tế sinh thái và chuỗi giá trị nông sản. Thêm vào đó, năng lực của đội ngũ cán bộ cấp xã trong giai đoạn đầu triển khai còn nhiều hạn chế, dẫn đến việc quản lý trật tự xây dựng sau quy hoạch chưa đạt hiệu quả tối ưu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh tổng thể các đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì phối hợp cùng Phòng Quản lý Đô thị và Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành rà soát 100% đồ án quy hoạch tại 30 xã trong giai đoạn 2021 - 2025. Định hướng điều chỉnh phải khớp nối đồng bộ với Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bảo đảm khai thác bền vững 29.176,56 ha đất nông nghiệp.

Thứ hai, cơ cấu lại không gian sản xuất nông nghiệp gắn với chuỗi giá trị: Phòng Kinh tế huyện chủ trì hướng dẫn các xã miền núi như Yên Bài quy hoạch vùng trồng cây ăn quả, dược liệu và chăn nuôi bò sữa tập trung theo tiêu chuẩn VietGAP. Phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng ngành nông nghiệp đạt trên 15%/năm trong giai đoạn 2022 - 2025, kết hợp phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp tại các vùng đồi gò ven chân núi Ba Vì.

Thứ ba, đa dạng hóa các nguồn lực tài chính đầu tư hạ tầng kỹ thuật: Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Ba Vì cần đẩy mạnh cơ chế hợp tác công tư (PPP), thu hút các tập đoàn kinh tế đầu tư vào chế biến nông sản, mục tiêu nâng tỷ trọng vốn ngoài ngân sách lên 30% - 35% trong giai đoạn 2021 - 2025, giảm áp lực cho ngân sách nhà nước.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý đất đai cơ sở: Ủy ban nhân dân huyện Ba Vì chỉ đạo tổ chức đào tạo chuyên sâu về kỹ năng quản lý quy hoạch và ứng dụng công nghệ thông tin cho 100% cán bộ địa chính - xây dựng xã trước năm 2023, đảm bảo thực thi nghiêm túc quy chế dân chủ cơ sở trong việc giám sát các công trình công cộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tại Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Kinh tế, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì: Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu thực chứng và khung giải pháp đồng bộ để chỉ đạo 15 xã còn lại hoàn thành đạt chuẩn nông thôn mới và xây dựng các xã đạt chuẩn nâng cao giai đoạn 2021 - 2025.

Nhóm đơn vị tư vấn và chuyên gia lập quy hoạch xây dựng nông thôn: Tài liệu là cẩm nang hữu ích giúp các kiến trúc sư và kỹ sư quy hoạch nhận diện các rào cản đặc thù của vùng bán sơn địa có diện tích 42.402,69 ha, từ đó thiết kế đồ án có tính khả thi cao, tránh rập khuôn.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Quản lý đất đai, Phát triển nông thôn: Công trình là tài liệu tham khảo học thuật giá trị về phương pháp luận đánh giá quy hoạch đa tiêu chí, kết hợp xử lý số liệu sơ cấp từ 160 hộ dân và 21 cán bộ quản lý.

Nhóm doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp: Luận văn giúp các nhà đầu tư nắm bắt định hướng không gian sản xuất và hiện trạng 17.134,09 ha đất canh tác để xây dựng các dự án liên kết chuỗi giá trị nông sản sạch và du lịch trải nghiệm.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân cốt lõi khiến tiến độ xây dựng nông thôn mới giữa các xã vùng đồng bằng và miền núi tại Ba Vì có sự chênh lệch lớn là gì? Sự chênh lệch xuất phát từ điều kiện tự nhiên và xuất phát điểm kinh tế. Xã vùng đồng bằng như Tản Hồng có địa hình bằng phẳng, kinh tế tiểu thủ công nghiệp phát triển và hoàn thành 19 tiêu chí từ năm 2014. Trong khi đó, xã vùng núi như Yên Bài chiếm diện tích rộng, hạ tầng giao thông chia cắt và suất đầu tư lớn gấp nhiều lần.

Quy hoạch sử dụng đất đóng vai trò như thế nào trong chương trình nông thôn mới huyện Ba Vì? Quy hoạch sử dụng đất là công cụ định hướng và phân bổ hợp lý 29.176,56 ha đất nông nghiệp trên toàn huyện. Đây là căn cứ pháp lý để chuyển đổi cơ cấu cây trồng, xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, bảo vệ môi trường sinh thái và thúc đẩy tạo việc làm mới cho hơn 121 nghìn lao động địa phương.

Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới của huyện Ba Vì tính đến hết năm 2019 đạt bao nhiêu phần trăm? Tính đến ngày 31/12/2019, toàn huyện Ba Vì có 15 trên tổng số 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới, tương ứng tỷ lệ 50%. Thu nhập bình quân đầu người toàn huyện đạt 38 triệu đồng/người/năm, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn tăng tốc hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới nâng cao tiếp theo.

Nguồn vốn thực hiện chương trình nông thôn mới tại địa phương gặp những khó khăn gì? Khó khăn lớn nhất là nguồn vốn đầu tư chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước (chiếm hơn 75%), trong khi nguồn vốn đóng góp của doanh nghiệp và cộng đồng dân cư còn rất hạn chế (chiếm dưới 13%). Việc lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn còn vướng mắc về thủ tục giải ngân.

Phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu được tiến hành như thế nào? Tác giả đã thu thập toàn diện chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 - 2019 từ các phòng ban chuyên môn huyện Ba Vì, kết hợp khảo sát trực tiếp 160 hộ dân và 21 cán bộ quản lý tại hai xã điểm Tản Hồng và Yên Bài trong năm 2020 để bảo đảm tính khách quan, khoa học.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện thực trạng thực hiện quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại 30 xã thuộc huyện Ba Vì giai đoạn 2011 - 2020, ghi nhận tỷ lệ 50% số xã đạt chuẩn vào năm 2019.
  • Phân tích sâu sắc sự phân hóa kinh tế - xã hội giữa 16 xã đồng bằng và 7 xã miền núi thông qua việc nghiên cứu điển hình tại xã Tản Hồng và xã Yên Bài.
  • Hệ thống hóa hiện trạng quản lý và sử dụng 29.176,56 ha đất nông nghiệp, chỉ rõ tiềm năng và thách thức trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
  • Nhận diện các điểm nghẽn chính về chất lượng đồ án quy hoạch, năng lực cán bộ cơ sở và cơ chế huy động nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, có tính khả thi cao gắn với quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội định hướng giai đoạn 2021 - 2025 và tầm nhìn 2030.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Thị Như Quỳnh là công trình khoa học công phu, đóng góp nguồn tư liệu quý báu cho công tác quản lý quy hoạch đất đai và phát triển nông thôn bền vững. Các nhà quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể ứng dụng trực tiếp các đề xuất trong đề tài để nâng cao hiệu quả quy hoạch xây dựng nông thôn mới tại các địa phương có điều kiện tự nhiên tương đồng.