Chương 1 giới thiệu về Đề tài. Chương 2 trình bày thiết kế nghiên cứu và khung lý thuyết. Chương 3 nhận biết nhu cầu cải cách qua đánh giá bất cập trong đạo luật cấp GPLĐ cho người nước ngoài. Chương 4 đánh giá hiệu quả của đạo luật về cấp GPLĐ cho người nước ngoài sau một thời gian thi hành để tìm ra những bất cập trong thực tế.
Chương 5 thống kê và mô tả phiếu điều tra các doanh nghiệp KCN để kiểm chứng khách quan cho những bất cập đã được phát hiện. Chương 6 kết luận và đưa ra những đề xuất kiến nghị hoàn thiện đạo luật về cấp GPLĐ cho người nước ngoài. 4 Phạm Duy Nghĩa (2014). -5- CHƢƠNG 2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 2.
Thiết kế nghiên cứu Quy trình nghiên cứu được tác giả thiết kế cụ thể như hình dưới đây: Hình 1. Thiết kế nghiên cứu DN phản ánh khó khăn Trải nghiệm công việc Phát hiện vấn đề chính sách Mục tiêu nghiên cứu 07 08 tiêu Phát hiện những bất cập Phát hiện bất cập chí của phạm của đạo luật trong thực tế triển khai trù OECD Roccipi Kiểm chứng Phân tích kết quả Phiếu điều tra Phiếu điều tra Xây dựng bảng hỏi, Lấy mẫu các tiêu chí phỏng vấn Kiến nghị giải pháp Nguồn: Tác giả tự vẽ.1 thể hiện tóm tắt quy trình tác giả thực hiện luận văn. Từ nhận biết trục trặc của đạo luật về cấp GPLĐ qua trải nghiệm công việc và phản ánh của doanh nghiệp, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu của luận văn, lựa chọn phương pháp nghiên cứu, tìm khung -6- phân tích cho luận văn, xây dựng phiếu điều tra đến các doanh nghiệp, chọn mẫu để phát phiếu điều tra, và cuối cùng kiến nghị giải pháp để hoàn thiện đạo luật. Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, tác giả tập trung nghiên cứu các bất cập trong quy định về cấp GPLĐ cho người nước ngoài.
Chiến lược nghiên cứu gồm 2 bước: (i) dùng lý thuyết lập pháp để tìm ra những bất cập và chứng minh những bất cập phát hiện ra là có cơ sở lý luận chắc chắn; (ii) thiết kế phiếu điều tra và lấy mẫu để kiểm chứng khách quan những bất cập đã được phát hiện. Khung lý thuyết áp dụng để tìm ra những bất cập Ba tác giả Ann Seidman, Robert Seidman, Nalin Abeysekere5 là những chuyên gia về lý thuyết lập pháp và có nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong việc giúp đỡ các nước nghèo và các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) soạn thảo và thực thi một đạo luật hiệu quả. Theo khung lý thuyết của 03 tác giả trên xây dựng thì những bất cập của một đạo luật được phát hiện qua hai phương pháp: (i) nhận biết nhu cầu cải cách của đạo luật ngay khi đọc hiểu đạo luật, (ii) những bất cập được phát hiện khi tiến hành đánh giá hiệu quả thực tiễn của đạo luật đó sau một thời gian thực thi nhất định. (i) Nhận biết nhu cầu cải cách của đạo luật được Ann Seidman và các cộng sự xây dựng thành 04 bước: (1) nhận diện hành vi sai luật và chủ thể của hành vi này, (2) so sánh với bối cảnh rộng hơn, (3) dùng các phạm trù Roccipi6 tìm ra nguyên nhân của những hành vi sai luật; (4) từ việc nhận diện các nguyên nhân, quy định chi tiết trong đạo luật phải như thế nào để thay đổi được nguyên nhân gây ra các hành vi sai luật trên.
Nếu các quy định của đạo luật không làm thay đổi nguyên nhân của hành vi sai luật thì chính là bất cập của đạo luật đó. 5 Ann Seidman và Robert Seidman là những học giả có kinh nghiệm trên 40 năm giúp đỡ các nước Trung Quốc, Lào, Xri lanca, Butan, Nepan, Nam Phi, Indonexia, Việt Nam … bằng việc tham gia vào dự thảo những đạo luật có thực để truyền đạt lý thuyết, phương pháp luận và kỹ thuật dự thảo. Nalin Abeyesekera là học giả chuyên nghiên cứu lý thuyết lập pháp, là nhà soạn thảo Luật cho Xri Lanca, cố vấn Tổng thống (1990), thành viên sáng lập của Hiệp hội cố vấn lập pháp Khối thịnh vượng (Ann Seidman, Robert Seidman, Nalin (2004), Xem xét dự án luật: Cẩm nang cho các nhà lập pháp). 6 Lý thuyết lập pháp theo xu hướng thể chế xây dựng trên tiền đề cho rằng, không phải một yếu tố đơn lẻ tạo ra hành vi.
Nó đưa ra bảy phạm trù rộng góp phần tạo ra tất cả những giả thiết có thể đối với nguyên nhân của một tập hợp những hành vi của chủ thể thực hiện hành vi trái luật: quy tắc, cơ hội, năng lực, truyền đạt, lợi ích, quy trình và nhận thức (viết tắt theo tiếng Anh những chữ cái đầu của bảy phạm trù này là Roccipi) (Xem xét dự án luật: Cẩm nang cho các nhà lập pháp, Ann Seidman và các cộng sự, 2004). -7- (ii) Phát hiện những bất cập khi tiến hành đánh giá hiệu quả thực tế của đạo luật sau thời gian triển khai nhất định. Phương pháp đánh giá này yêu cầu thu thập chứng cứ để chứng minh những luận điểm phân tích của tác giả. Dùng khung lý thuyết 08 tiêu chí của OECD7 để đánh giá một đạo luật là chứng cứ để chứng minh những luận điểm phân tích của tác giả.
Ngoài ra nghiên cứu cũng áp dụng một số lý thuyết khác của Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright trong quá trình phân tích những bất cập xảy ra trong thực tiễn thi hành đạo luật. Luận văn dùng đồng thời 02 khung phân tích (Roccipi và 08 tiêu chí của OECD) cho 02 phần khác nhau: Roccipi dùng để nhận biết nhu cầu cải cách pháp luật ngay trong quá trình đọc hiểu một đạo luật để khám phá ra những lỗ hổng mà chưa được văn bản quy phạm pháp luật quy định, để từ đó kiến nghị hoàn thiện lập pháp. 08 tiêu chí OECD đưa ra các tiêu chí để đánh giá chất lượng pháp luật sau khi một đạo luật đi vào triển khai thực tiễn. Với những phương pháp khác nhau, 02 khung lý thuyết này sẽ bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau để tìm ra những lỗ hổng, những điểm chưa phù hợp trong đạo luật một cách hiệu quả nhất và hoàn toàn phù hợp để sử dụng đồng thời trong luận văn.
Thiết kế phiếu điều tra Tác giả xây dựng phiếu điều tra phục vụ Đề tài luận văn với mục tiêu kiểm chứng những phân tích ở trên. Vì vậy, nó phải đạt được những tiêu chí sau: (i) cập nhật hầu hết các khó khăn của doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành thủ tục xin GPLĐ, (ii) lấy ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp về cảm nhận độ khó, phức tạp của từng đầu mục thủ tục qua cách thức thực hiện, chi phí của thủ tục hay thái độ của nhân viên tiếp nhận thủ tục, (iii) lấy kiến nghị của các doanh nghiệp để các thủ tục đó được tiến hành thuận lợi, đơn giản hơn. 7 08 tiêu chí OECD gồm: (i) phục vụ mục tiêu chính xác, rõ ràng, đã ấn định trước; (ii) có cơ sở pháp luật, thực tiễn chắc chắn; (iii) mang lại lợi ích nhiều hơn là chi phí, có tính tới tác động phân bổ trên toàn xã hội, các yếu tố kinh tế, xã hội và môi trường; (iv) giảm thiểu chi phí và tác động lệch lạc tới thị trường; (v) khuyến khích cạnh tranh, thông qua khuyến khích thị trường và các phương pháp tiếp cận dựa trên cơ sở các mục tiêu đã định; (vi) rõ ràng, đơn giản, thiết thực đối với người sử dụng; (vii) phù hợp, tương thích với các chính sách pháp luật khác; (viii) tương thích ở mức độ tối đa đối với các nguyên tắc về khuyến khích cạnh tranh, thương mại trong pháp luật quốc gia và điều ước quốc tế (Phạm Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu Luật học). -8- Khung lý thuyết xây dựng phiếu điều tra dựa vào các tiêu chí của Chính phủ đánh giá về kiểm soát thủ tục hành chính8.
Để đạt hiệu quả cao trong việc lấy thông tin từ các doanh nghiệp và đơn giản dễ hiểu cho người được điều tra, tác giả quy về 02 chỉ tiêu chính là “thời gian” và “chi phí”. Các tiêu chí đánh giá gồm: thời gian, chi phí, chấm điểm độ khó theo cảm nhận của doanh nghiệp khi tiến hành thủ tục với thang điểm từ 1-5 lần lượt là: rất khó, khó, bình thường, dễ và rất dễ. Phiếu điều tra được thiết kế thành 03 phần: Phần một là bảng hỏi các chi phí (tính bằng tiền), thời gian dài nhất, trung bình, ngắn nhất để hoàn thiện các đầu mục hồ sơ, bảng chấm điểm đánh giá độ khó của từng đầu mục hồ sơ với thang điểm từ 1 đến 5 như đã nêu ở trên; Phần hai là câu hỏi mở nhằm điều tra sâu về những khó khăn cụ thể doanh nghiệp gặp phải khi tiến hành các thủ tục xin GPLĐ tại Việt Nam, đồng thời đề nghị doanh nghiệp nêu ý kiến đề xuất (nếu có) để cải thiện thủ tục cho nhanh gọn, đơn giản, tiện lợi hơn cho doanh nghiệp cũng như người nước ngoài. Phần ba là hướng dẫn cách điền phiếu điều tra.
Phƣơng pháp thu thập thông tin cho phiếu điều tra Phiếu điều tra được phát tới các doanh nghiệp có sử dụng lao động nước ngoài, các công ty tư vấn dịch vụ làm GPLĐ. Để đạt hiệu quả cao trong việc thu thập thông tin, phiếu điều tra khuyến khích các doanh nghiệp cập nhật đầy đủ các khó khăn thực tiễn để làm căn cứ đề nghị cấp có thẩm quyền sửa đổi cho phù hợp. Giai đoạn 1: Phiếu điều tra được phát tới thử nghiệm tới 05 doanh nghiệp đại diện, có sử dụng nhiều lao động nước ngoài, tham vấn ý kiến của người điền phiếu nhằm điều chỉnh lại bảng hỏi cho phù hợp. Giai đoạn 2: Thực hiện trên diện rộng, gửi tới tất cả các doanh nghiệp trong KCN có sử dụng lao động là người nước ngoài.
Tóm tắt lại, chương 2 của luận văn trình bày quy trình nghiên cứu, thiết kế nghiên cứu, khung phân tích, thiết kế phiếu điều tra và phương pháp thu thập thông tin cho phiếu điều tra. 8 Chính phủ (2010). -9- CHƢƠNG 3 PHÁT HIỆN BẤT CẬP TRONG ĐẠO LUẬT Căn cứ vào lý thuyết lập pháp, thì những bất cập trong những quy định của luật có thể được phát hiện ngay trong quá trình đọc hiểu và phân tích.