Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TRONG CÁC LÀNG NGHỀ GỐM SỨ 2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động làng nghề 2.
Khái niệm về lao động và lao động làng nghề a. Lao động và các khái niệm có liên quan - Lao động: Theo Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 1994 thì Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Do đó, khi nói đến quản lý và sử dụng lao động cũng chính là nói đến quản lý và sử dụng con người trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Lao động luôn được diễn ra theo một quá trình. Quá trình lao động là tổng thể những hành động của con người để hoàn thành một công việc nhất định. Quá trình lao động là hiện tượng kinh tế xã hội vì thế, nó luôn được xem xét trên hai mặt vật chất và xã hội. + Về mặt vật chất: Quá trình lao động dưới bất kì hình thái kinh tế xã hội nào muốn tiến hành được đều phải gồm ba yếu tố: Bản thân lao động - Đối tượng lao động - Công cụ lao động.
+ Về mặt xã hội: Quá trình lao động được thể hiện ở sự phát sinh những mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau. Chính nhờ những mối quan hệ đó, con người đã lao động cải tạo giới tự nhiên một cách có hiệu quả, đồng thời có điều kiện ngày càng thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu khác nhau của mình. Những mối quan hệ phức tạp, đan xen, bện quyện vào nhau đó hình thành tính tập thể, tính xã hội của lao động. - Người lao động: là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.
- Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55) đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm 5 c việc (Nguyễn Mậu Dũng và cs. Lực lượng lao động được thể hiện ở hai mặt chất lượng và số lượng: +Về mặt số lượng :Theo Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam, số lượng lao động là tòan bộ số người nằm trong độ tuổi lao động quy định. Tuổi lao động quy định là đủ 15-60 tuổi đối với nam và đủ 15-55 tuổi đối với nữ. Những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm các đối tượng từ đủ 15-60 tuổi đang đi học, làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc, những người mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật.
+Về mặt chất lượng: Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động thể hiện ở sức khỏe, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa, nhận thức hiểu biết khoa học kĩ thuật và trình độ kinh tế tổ chức. - Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tập hợp thể lực và trí lực của con người vận dụng trong quá trình lao động.Mác: sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con nguời đang sống, nó được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008). - Lao động nông thôn: là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn. Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn … - Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.
Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội (Điều 13 – Bộ Luật lao động). - Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động. Làng nghề và đặc điểm của làng nghề Theo Trần Quốc Vượng và cs. (1996) thì làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương.
Song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ 6 c cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài. Theo Trần Minh Yến (2003) thì làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố “làng” và “nghề” tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2006) quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống thì làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.
Theo thông tư này thì làng nghề là làng (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (3) Các thành viên trong làng nghề đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Lao động làng nghề là những người lao động tham gia sản xuất ra những sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương đó. Lao động làng nghề nói chung hiện nay chia ra 2 nhóm rõ rệt: Nhóm lao động không thường xuyên: thiếu kỹ năng, làm những công việc đơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản. Lao động thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sở hoặc doanh nghiệp làm hàng mỹ nghệ cao cấp.
Đặc điểm của lao động làng nghề Sản phẩm của các làng nghề muốn tạo nên sự khác biệt, đặc trưng phải dựa vào sự sáng tạo của người lao động. Mặc dù hiện nay việc sử dụng máy móc khá phổ biến ở các làng nghề nhưng lao động sống là yếu tố không thể thiếu. Lao động làm việc trong các làng nghề có những đặc điểm riêng biệt như: 7 c - Sử dụng lao động thủ công là chính. Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau.
Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo sản phẩm. Người thợ thủ công trước hết là người nông dân. Làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau.
Có thể lúc này người lao động làm nghề nhưng ở thời điểm khác họ lại làm công việc của nhà nông. Lao động làng nghề đôi khi tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn (Mai Thế Hởn, 2013). - Người thợ nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân để làm ra sản phẩm. Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn. Tuy nhiên, một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. - Lao động được học nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Tuy nhiên, hiện nay đã có sự kết hợp phương thức đào tạo nghề mới, mở các trường đào tạo nghề đồng thời vừa học vừa làm có sự truyền nghề của nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc.
- Trình độ học vấn thấp làm hạn chế việc sử dụng thiết bị, công nghệ cao vào sản xuất. Hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo sản phẩm mới. Tính kỷ luật lao động, tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn. Vai trò của lao động làng nghề Quá trình CNH đã khiến nhiều người dân ở nông thôn không còn đất sản xuất, do đất nông nghiệp của người dân bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp.
Vì thế, để đảm bảo đời sống cho người dân nông thôn, công tác đào tạo nghề cho người lao động là việc làm ý nghĩa và hết sức cấp bách, đặc biệt đối với những người lao động lớn tuổi, không thể xin vào các KCN để làm việc.