Luận văn thạc sĩ đánh giá tình hình quản lý và sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất trong các làng nghề gốm sứ trên địa bàn huyện gia lâm thành phố hà nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá tình hình quản lý và sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất trong các làng nghề gốm sứ, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2018

110
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

2. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

3. DANH MỤC BẢNG

4. DANH MỤC HÌNH

5. TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

6. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

7. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

7.1. Mục tiêu chung

7.2. Mục tiêu cụ thể

8. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

8.1. Đối tượng nghiên cứu

8.2. Phạm vi nghiên cứu

9. ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN VĂN

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quản Lý Lao Động Làng Nghề Gốm Sứ Gia Lâm

Làng nghề ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực nông thôn. Hà Nội là địa phương có nhiều làng nghề nhất cả nước. Phát triển làng nghề giúp giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động nông thôn, duy trì bản sắc văn hóa và giảm áp lực di cư. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề như quản lý lao động, ô nhiễm môi trường và tiêu thụ sản phẩm. Quản lý và sử dụng lao động trong các làng nghề là vấn đề cần được quan tâm do nhiều cơ sở chưa ký hợp đồng lao động bằng văn bản, không tuân thủ quy định của pháp luật, ít chú trọng đào tạo nghề và đảm bảo an toàn lao động. Theo báo cáo của Hiệp hội làng nghề (2013), Việt Nam có khoảng gần 3.350 làng nghề.

1.1. Khái Niệm và Đặc Điểm Lao Động Trong Làng Nghề Gốm Sứ

Lao động trong làng nghề gốm sứ mang những đặc điểm riêng biệt so với các ngành nghề khác. Đây thường là lao động thủ công, truyền thống, được truyền từ đời này sang đời khác. Kỹ năng và kinh nghiệm đóng vai trò quan trọng hơn bằng cấp. Tính thời vụ cũng ảnh hưởng đến quản lý lao động trong làng nghề truyền thống. Theo Nguyễn Văn Tuyên, sản xuất gốm sứ là một nghề truyền thống lâu đời ở huyện Gia Lâm, Hà Nội với những làng nghề gốm sứ nổi tiếng như Bát Tràng, Giang Cao.

1.2. Vai Trò Của Quản Lý Lao Động Hiệu Quả Tại Làng Nghề

Quản lý lao động hiệu quả giúp tạo ra nguồn lao động có trình độ, chất lượng và tay nghề tốt. Điều này thuận lợi cho việc cải tiến kỹ thuật, công nghệ sản xuất, tiết kiệm chi phí và tăng năng suất lao động. Về mặt xã hội, quản lý lao động tốt tạo môi trường ổn định, an ninh được đảm bảo, giúp người lao động yên tâm làm việc. Do đó, công tác quản lý lao động ở đây trở thành vấn đề quan trọng và cần thiết, phải có sự kết hợp giữa cơ sở làm nghề và chính quyền địa phương.

II. Thực Trạng Sử Dụng Lao Động Tại Xưởng Gốm Sứ Gia Lâm Hiện Nay

Gia Lâm là huyện ngoại thành Hà Nội có nhiều lợi thế phát triển. Huyện có 7 làng nghề, nổi tiếng nhất là gốm sứ Bát Tràng với lịch sử hơn 800 năm. Sự phát triển của Bát Tràng thúc đẩy các làng nghề gốm sứ khác như Giang Cao, Kim Lan. Các làng nghề này góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn và tạo việc làm cho lao động địa phương và các vùng lân cận. Tuy nhiên, công tác quản lý lao động còn nhiều bất cập do nhận thức hạn chế của cả người lao động và người sử dụng lao động.

2.1. Phân Tích Tình Hình Sử Dụng Lao Động Tại Các Làng Nghề

Hiện có trên 1.300 cơ sở sản xuất gốm sứ tại Gia Lâm, tạo việc làm cho 6.200 lao động. Các cơ sở đã triển khai khá tốt công tác quản lý và sử dụng lao động, từ dự báo nhu cầu đến tuyển dụng, bố trí công việc, đào tạo và chi trả thù lao. Đa số người lao động đánh giá tích cực về công tác trả lương, thời gian làm việc và đào tạo, đặc biệt là ở các cơ sở lớn. Theo thống kê, toàn huyện Gia Lâm hiện có 07 làng nghề, trong đó có những làng nghề khá nổi tiếng như các làng nghề gốm sứ, giầy da, dược liệu, quỳ vàng, đặc biệt là làng nghề gốm sứ Bát Tràng với tuổi đời rên 800 năm.

2.2. Đánh Giá Mức Lương và Thu Nhập Của Thợ Gốm Sứ

Mức lương và thu nhập của người lao động gốm sứ phụ thuộc vào tay nghề, kinh nghiệm và năng suất làm việc. Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng trả lương chưa thỏa đáng, đặc biệt là ở các cơ sở nhỏ. Nhiều lao động không ký hợp đồng lao động, không đăng ký hộ khẩu, và nhiều quyền lợi không được đảm bảo. Trong khi đó, chủ cơ sở cũng gặp khó khăn trong quản lý do người lao động có thể tự ý bỏ việc, trình độ tay nghề còn hạn chế. Do đó, công tác quản lý lao động ở đây trở thành vấn đề quan trọng và cần thiết, phải có sự kết hợp giữa cơ sở làm nghề và chính quyền địa phương.

III. Vấn Đề An Toàn Lao Động Trong Sản Xuất Gốm Sứ Tại Gia Lâm

An toàn lao động là một vấn đề quan trọng trong sản xuất gốm sứ, do môi trường làm việc tiềm ẩn nhiều rủi ro như bụi, tiếng ồn, nhiệt độ cao và các hóa chất độc hại. Tuy nhiên, nhiều cơ sở sản xuất, đặc biệt là các cơ sở nhỏ, chưa chú trọng đến việc trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động và thực hiện các biện pháp an toàn. Điều này dẫn đến nguy cơ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

3.1. Thực Trạng Trang Bị Bảo Hộ Lao Động Tại Các Xưởng Gốm

Tình hình trang bị bảo hộ lao động tại các xưởng gốm sứ còn nhiều hạn chế. Nhiều cơ sở chưa trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ như khẩu trang, găng tay, kính bảo hộ, quần áo bảo hộ. Người lao động cũng chưa có ý thức tự giác sử dụng các thiết bị này. Theo kết quả nghiên cứu, việc ký kết hợp đồng lao động giữa chủ cơ sở sản xuất và người lao động chưa được chú ý, đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất vừa và nhỏ.

3.2. Các Biện Pháp Đảm Bảo An Toàn Lao Động Hiệu Quả

Để đảm bảo an toàn lao động, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục về an toàn lao động cho cả người lao động và người sử dụng lao động. Các cơ sở sản xuất cần trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ lao động và thực hiện các biện pháp an toàn. Cần có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cơ quan chức năng để đảm bảo việc tuân thủ các quy định về an toàn lao động. Bên cạnh đó công tác đào tạo nghề vẫn theo hình thức truyền thống cầm tay chỉ việc, vừa học vừa làm là chủ yếu mặc dù địa phương có tổ chức các lớp đào tạo nghề nhưng vẫn chưa thực sự thu hút được người lao động đến tham gia.

IV. Giải Pháp Nâng Cao Quản Lý Lao Động Làng Nghề Gốm Sứ Gia Lâm

Để nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng lao động trong các làng nghề gốm sứ tại Gia Lâm, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía chính quyền địa phương, các cơ sở sản xuất và người lao động. Các giải pháp này cần tập trung vào việc nâng cao năng lực quản lý, trình độ chuyên môn, ý thức trách nhiệm và đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

4.1. Đào Tạo Nghề Gốm Sứ Tại Gia Lâm Giải Pháp Cốt Lõi

Cần tăng cường đào tạo nghề cho người lao động, cả về kỹ năng chuyên môn và kiến thức về an toàn lao động. Các chương trình đào tạo cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của các cơ sở sản xuất. Khuyến khích các cơ sở sản xuất tham gia vào quá trình đào tạo nghề. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý lao động tại các làng nghề gốm sứ huyện Gia Lâm như nâng cao năng lực quản lý của các chủ cơ sở sản xuất gốm sứ, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức của người lao động.

4.2. Chính Sách Lao Động Hợp Lý Cho Làng Nghề Gốm Sứ

Cần xây dựng chính sách tiền lương và chế độ phúc lợi xã hội hợp lý cho người lao động. Khuyến khích ký kết hợp đồng lao động bằng văn bản giữa chủ cơ sở sản xuất với người lao động. Đăng ký tình hình lao động với địa phương. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát. Xây dựng các chính sách phát triển làng nghề, hỗ trợ người lao động. Bên cạnh đó công tác đào tạo nghề vẫn theo hình thức truyền thống cầm tay chỉ việc, vừa học vừa làm là chủ yếu mặc dù địa phương có tổ chức các lớp đào tạo nghề nhưng vẫn chưa thực sự thu hút được người lao động đến tham gia.

V. Tác Động Của Công Nghệ Đến Việc Sử Dụng Lao Động Gốm Sứ

Sự phát triển của công nghệ đang có những tác động lớn đến việc sử dụng lao động trong ngành gốm sứ. Một mặt, công nghệ giúp tăng năng suất, giảm chi phí và cải thiện chất lượng sản phẩm. Mặt khác, công nghệ cũng có thể thay thế một số công đoạn thủ công, dẫn đến giảm nhu cầu lao động. Do đó, cần có sự điều chỉnh phù hợp để tận dụng tối đa lợi ích của công nghệ và giảm thiểu tác động tiêu cực đến người lao động.

5.1. Ứng Dụng Công Nghệ Mới Trong Sản Xuất Gốm Sứ

Việc ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất gốm sứ giúp tự động hóa một số công đoạn, giảm sự phụ thuộc vào lao động thủ công. Tuy nhiên, cần có sự đầu tư bài bản và đào tạo kỹ năng cho người lao động để vận hành và bảo trì các thiết bị công nghệ. Công tác quản lý lao động ở làng nghề gốm sứ huyện Gia Lâm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như quy mô sản xuất của cơ sở, năng lực quản lý của chủ cơ sở, các yếu tố thuộc về bản thân người lao động (như trình độ chuyên môn, ý thức), tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp và các chính sách của Nhà nước và chính quyền địa phương.

5.2. Đào Tạo Lao Động Thích Ứng Với Công Nghệ Mới

Để người lao động có thể thích ứng với công nghệ mới, cần có các chương trình đào tạo lại và nâng cao kỹ năng. Các chương trình này cần tập trung vào việc trang bị kiến thức về công nghệ, kỹ năng vận hành thiết bị và kỹ năng giải quyết vấn đề. Cần có sự phối hợp giữa các cơ sở sản xuất, các trường nghề và các tổ chức đào tạo để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của các chương trình đào tạo. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý lao động tại các làng nghề gốm sứ huyện Gia Lâm như nâng cao năng lực quản lý của các chủ cơ sở sản xuất gốm sứ, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức của người lao động.

VI. Phát Triển Bền Vững Làng Nghề Gốm Sứ Gia Lâm Tầm Nhìn

Phát triển bền vững làng nghề gốm sứ Gia Lâm đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và đảm bảo an sinh xã hội. Cần có các giải pháp tổng thể để giải quyết các vấn đề về ô nhiễm môi trường, quản lý lao động, bảo tồn văn hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm gốm sứ.

6.1. Bảo Vệ Môi Trường Trong Sản Xuất Gốm Sứ

Cần có các biện pháp để giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất gốm sứ, như sử dụng nhiên liệu sạch, xử lý chất thải và khí thải, và tái chế nguyên vật liệu. Khuyến khích các cơ sở sản xuất áp dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn. Cần có sự kiểm tra, giám sát thường xuyên của các cơ quan chức năng để đảm bảo việc tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường. Do đó, công tác quản lý lao động ở đây trở thành vấn đề quan trọng và cần thiết, phải có sự kết hợp giữa cơ sở làm nghề và chính quyền địa phương.

6.2. Bảo Tồn và Phát Huy Giá Trị Văn Hóa Gốm Sứ

Cần có các biện pháp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống của nghề gốm sứ, như bảo tồn các di tích lịch sử, phục dựng các kỹ thuật sản xuất cổ truyền, và khuyến khích các nghệ nhân truyền dạy nghề cho thế hệ trẻ. Cần có sự kết hợp giữa bảo tồn và phát triển để tạo ra các sản phẩm gốm sứ vừa mang giá trị văn hóa truyền thống, vừa đáp ứng nhu cầu của thị trường hiện đại. Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý lao động tại các làng nghề gốm sứ huyện Gia Lâm như nâng cao năng lực quản lý của các chủ cơ sở sản xuất gốm sứ, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức của người lao động.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá tình hình quản lý và sử dụng lao động của các cơ sở sản xuất trong các làng nghề gốm sứ trên địa bàn huyện gia lâm thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.

Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG CỦA CÁC CƠ SỞ SẢN XUẤT TRONG CÁC LÀNG NGHỀ GỐM SỨ 2. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của lao động làng nghề 2.

Khái niệm về lao động và lao động làng nghề a. Lao động và các khái niệm có liên quan - Lao động: Theo Bộ Luật lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 18 tháng 6 năm 1994 thì Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Do đó, khi nói đến quản lý và sử dụng lao động cũng chính là nói đến quản lý và sử dụng con người trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh.

Lao động luôn được diễn ra theo một quá trình. Quá trình lao động là tổng thể những hành động của con người để hoàn thành một công việc nhất định. Quá trình lao động là hiện tượng kinh tế xã hội vì thế, nó luôn được xem xét trên hai mặt vật chất và xã hội. + Về mặt vật chất: Quá trình lao động dưới bất kì hình thái kinh tế xã hội nào muốn tiến hành được đều phải gồm ba yếu tố: Bản thân lao động - Đối tượng lao động - Công cụ lao động.

+ Về mặt xã hội: Quá trình lao động được thể hiện ở sự phát sinh những mối quan hệ qua lại giữa những người lao động với nhau. Chính nhờ những mối quan hệ đó, con người đã lao động cải tạo giới tự nhiên một cách có hiệu quả, đồng thời có điều kiện ngày càng thỏa mãn đầy đủ các nhu cầu khác nhau của mình. Những mối quan hệ phức tạp, đan xen, bện quyện vào nhau đó hình thành tính tập thể, tính xã hội của lao động. - Người lao động: là người ít nhất đủ 15 tuổi, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động.

- Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động (nam từ đủ 15 tuổi đến hết 60 tuổi, nữ từ đủ 15 tuổi đến hết 55) đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm 5 c việc (Nguyễn Mậu Dũng và cs. Lực lượng lao động được thể hiện ở hai mặt chất lượng và số lượng: +Về mặt số lượng :Theo Bộ luật Lao động của nước CHXHCN Việt Nam, số lượng lao động là tòan bộ số người nằm trong độ tuổi lao động quy định. Tuổi lao động quy định là đủ 15-60 tuổi đối với nam và đủ 15-55 tuổi đối với nữ. Những người không thuộc lực lượng lao động bao gồm các đối tượng từ đủ 15-60 tuổi đang đi học, làm nội trợ, không có nhu cầu làm việc, những người mất khả năng lao động do ốm đau, bệnh tật.

+Về mặt chất lượng: Chất lượng lao động chính là sức lao động của bản thân người lao động thể hiện ở sức khỏe, trình độ lành nghề, trình độ văn hóa, nhận thức hiểu biết khoa học kĩ thuật và trình độ kinh tế tổ chức. - Sức lao động là phạm trù chỉ khả năng lao động của con người, là tập hợp thể lực và trí lực của con người vận dụng trong quá trình lao động.Mác: sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con nguời đang sống, nó được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó (Trần Xuân Cầu và Mai Quốc Chánh, 2008). - Lao động nông thôn: là toàn bộ những hoạt động lao động sản xuất tạo ra sản phẩm của những người sống ở nông thôn. Do đó, lao động nông thôn bao gồm: lao động trong các ngành nông nghiệp, công nghiệp nông thôn, dịch vụ ở nông thôn … - Việc làm: Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm.

Giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm là trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp và toàn xã hội (Điều 13 – Bộ Luật lao động). - Người sử dụng lao động là doanh nghiệp, cơ quan tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động. Làng nghề và đặc điểm của làng nghề Theo Trần Quốc Vượng và cs. (1996) thì làng nghề là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương.

Song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ 6 c cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả. cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung quanh và với thị trường đô thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả nước ngoài. Theo Trần Minh Yến (2003) thì làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố “làng” và “nghề” tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (2006) quy định nội dung và các tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống thì làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau.

Theo thông tư này thì làng nghề là làng (1) Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (3) Các thành viên trong làng nghề đều chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Lao động làng nghề là những người lao động tham gia sản xuất ra những sản phẩm mang tính đặc trưng của địa phương đó. Lao động làng nghề nói chung hiện nay chia ra 2 nhóm rõ rệt:  Nhóm lao động không thường xuyên: thiếu kỹ năng, làm những công việc đơn giản, không hoặc ít có đào tạo bài bản.  Lao động thường xuyên, kỹ năng cao, thường làm việc ở những cơ sở hoặc doanh nghiệp làm hàng mỹ nghệ cao cấp.

Đặc điểm của lao động làng nghề Sản phẩm của các làng nghề muốn tạo nên sự khác biệt, đặc trưng phải dựa vào sự sáng tạo của người lao động. Mặc dù hiện nay việc sử dụng máy móc khá phổ biến ở các làng nghề nhưng lao động sống là yếu tố không thể thiếu. Lao động làm việc trong các làng nghề có những đặc điểm riêng biệt như: 7 c - Sử dụng lao động thủ công là chính. Lao động trong làng nghề có nhiều loại hình và nhiều trình độ khác nhau.

Trong đó, nghệ nhân đóng vai trò quan trọng, được coi là nòng cốt của quá trình sản xuất và sáng tạo sản phẩm. Người thợ thủ công trước hết là người nông dân. Làng nghề tồn tại ở nông thôn, gắn bó chặt chẽ với nông nghiệp. Các làng nghề xuất hiện trong từng làng - xã ở nông thôn sau đó các ngành nghề thủ công nghiệp được tách dần nhưng không rời khỏi nông thôn, sản xuất nông nghiệp và sản xuất - kinh doanh thủ công nghiệp trong các làng nghề đan xen lẫn nhau.

Có thể lúc này người lao động làm nghề nhưng ở thời điểm khác họ lại làm công việc của nhà nông. Lao động làng nghề đôi khi tách khỏi nông nghiệp nhưng không tách khỏi nông thôn (Mai Thế Hởn, 2013). - Người thợ nhờ vào kỹ thuật khéo léo, tinh xảo của đôi bàn tay, vào đầu óc thẩm mỹ và sáng tạo của người thợ, của các nghệ nhân để làm ra sản phẩm. Trước kia, do trình độ khoa học và công nghệ chưa phát triển thì hầu hết các công đoạn trong quy trình sản xuất đều là thủ công, giản đơn.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, việc ứng dụng khoa học - công nghệ mới vào nhiều công đoạn trong sản xuất của làng nghề đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, giản đơn. Tuy nhiên, một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật lao động thủ công tinh xảo. - Lao động được học nghề chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong các gia đinh từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Tuy nhiên, hiện nay đã có sự kết hợp phương thức đào tạo nghề mới, mở các trường đào tạo nghề đồng thời vừa học vừa làm có sự truyền nghề của nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc.

- Trình độ học vấn thấp làm hạn chế việc sử dụng thiết bị, công nghệ cao vào sản xuất. Hạn chế khả năng tư duy, sáng tạo sản phẩm mới. Tính kỷ luật lao động, tác phong làm việc chưa nhanh nhẹn. Vai trò của lao động làng nghề Quá trình CNH đã khiến nhiều người dân ở nông thôn không còn đất sản xuất, do đất nông nghiệp của người dân bị thu hồi để xây dựng các khu công nghiệp.

Vì thế, để đảm bảo đời sống cho người dân nông thôn, công tác đào tạo nghề cho người lao động là việc làm ý nghĩa và hết sức cấp bách, đặc biệt đối với những người lao động lớn tuổi, không thể xin vào các KCN để làm việc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Quản Lý Và Sử Dụng Lao Động Trong Các Làng Nghề Gốm Sứ Tại Gia Lâm, Hà Nội" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình quản lý và sử dụng lao động trong các làng nghề gốm sứ tại Gia Lâm. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả lao động, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về thực trạng lao động trong ngành gốm sứ mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội phát triển trong bối cảnh hiện đại.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến làng nghề, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý khoa học và công nghệ nhận diện những rào cản trong đổi mới công nghệ tại các làng nghề ở tỉnh Nam Định, nơi phân tích các rào cản trong việc đổi mới công nghệ tại các làng nghề. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận tốt nghiệp hoạt động bảo tồn và phát huy các giá trị của làng nghề truyền thống ở huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội cũng sẽ cung cấp cái nhìn về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa của các làng nghề. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn bảo tồn và phát huy làng nghề nón Gò Găng huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các chiến lược bảo tồn trong các làng nghề truyền thống. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến làng nghề và lao động trong ngành nghề truyền thống.