CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DOI MỚI CÔNG NGHỆ VÀ LANG NGHE 1. Khái niệm về rao cản, công nghệ va đổi mới công nghệ 1. Khái niệm về rào cản Theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam thì “rào” ngoài nghĩa đen là hàng cây, cọc, giậu, sản phâm xây dựng có chức năng ngăn cách không gian, địa giới thì hiểu theo nghĩa bóng có nghĩa là ngăn, chắn vì dụ như rào trước đón sau; còn “cản” có nghĩa là ngăn lại. Như vậy “rào cản” ở đây có thể hiểu là việc ngăn, không cho vượt qua, là sự trở ngại ngăn cách.
Khái niệm về công nghệ Khái nệm “công nghệ” vốn dĩ là một khái niệm phức tạp với nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, tùy thuộc vào từng bối cảnh hay lĩnh vực cụ thé mà có những định nghĩa tương ứng. Thuật ngữ “công nghệ” được xuất hiện lần đầu trong tiếng Hy Lạp, được ghép bởi hai thuật ngữ: “techne” va “logos” — “Technology” có thé hiểu là kiến thức về cái gì đó được làm như thế nào. Các định nghĩa về công nghệ hiện nay thường ở hai xu hướng chung phô biến nhất, ở xu hướng thứ nhất công nghệ được hiểu thuần túy chỉ là phần mềm không bao gồm máy móc, thiết bị, công cụ sản xuất được thé hiện dưới các dang khác nhau như: dạng kiến thức, cách thức, tập hợp các kiến thức, nguồn lực bao gồm các kiến thức, sự áp dụng khoa học (các kiến thức khoa học). Chăng hạn như tác giả F.
Root định nghĩa “công nghệ là dạng kiến thức có thể áp dụng được vào việc sản xuất ra các sản phẩm và sang tạo ra các sản phẩm mới” Ở xu hướng thứ hai, ngoài phần kiến thức (phần mềm) thì công nghệ còn được thê hiện đưới dạng phần cứng như là: thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất, vật thé (thiết bị máy móc). Theo xu hướng này thì công nghệ được định nghĩa rộng hơn. Định nghĩa về công nghệ của Tổ chức PRODEC (1982) là một điển hình trong số đó “công nghệ là mọi loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) đã đưa ra một định nghĩa trung nhất “công nghệ được hiểu là một tập hợp các kỹ thuật, mà bản 10 thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong hoàn cảnh cụ thể nhất định.” Luật KH&CN năm 2000 có định nghĩa Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm.
Còn theo Luật chuyền giao công nghệ 2006 thì Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Với cách định nghĩa của Luật Chuyển gia công nghệ (2006) công nghệ được hiểu linh hoạt hơn là sự tổng hợp của cả xu hướng thứ nhất coi công nghệ chỉ gồm phần mềm và xu hướng thứ hai coi công nghệ không chỉ bao gồm phần mềm mà còn cả phần cứng. Ở đây bản chất của công nghệ là các giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm (tức là có tính đến phần cứng) hoặc không kèm (tức là không bao gồm phần cứng) công cụ, phương tiên và mục tiêu là dé biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. Bên cạnh việc định nghĩa công nghệ theo tiêu chí phần cứng và phần mềm thì công nghệ còn được định nghĩa theo những tiêu chí khác.
Ví dụ theo Hall&Johnson (1970), công nghệ là thông tin và kiến thức, có thể được chia ra theo công nghệ chung, công nghệ đặc thù cho một hệ thống nào đó hoặc cho một công ty nào đó. Khái niệm đổi mới công nghệ Đổi mới ngày nay được coi là ưu tiên hàng đầu trong chính sách phát triển KH&CN của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển, nơi mà nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào trình độ tri thức. Hiện nay có không ít những định nghĩa khác nhau về đổi mới công nghệ. Theo OECD: Đổi mới KH&CN có thé được xem như là biến đối một ý tưởng thành sản phẩm mới có thé bán được hoặc thành quá trình vận hành trong công nghiệp, trong thương mại hoặc thành phương pháp mới về dịch vụ xã hội.
11 Theo hội đồng tư vẫn KH&CN Anh: Đổi mới công nghệ là quá trình kỹ thuật, công nghiệp, thương mại nhằm marketing sản phẩm mới, nhằm sử dụng các quá trình kỹ thuật và thiết bị mới. Đôi mới được hiéu là một hệ thống và là một cách tiếp cận có nhiều tính chất nhất thé hóa nhiều yếu tố đối với việc tạo ra, phô biến công nghệ va của những chính sách liên quan đến đổi mới. Cụ thé các kiêu đổi mới như sau: - Du nhập một sản phâm mới hoặc nâng cao chất luợng sản phâm dang có - Dua một quá trình mới vào một ngành công nghiệp - Mở ra một thị truờng mới - Phat triển nguồn cung cấp mới nguyên liệu hoặc các đầu vào khác; - Thay đổi trong các tổ chức, sản xuất công nghiệp. Đôi mới công nghệ là động lực tăng trưởng kinh tế dài hạn, động lực của năng suất lao động và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Đôi mới công nghệ diễn ra theo một quá trình nhất định bắt đầu từ nghiên cứu, triển khai, chuyền giao, phố biến những tư tưởng, sản phẩm, công nghệ mới trong nền kinh tế. Quá trình này diễn ra theo kiểu lan tỏa “tao mới — phá cũ”. Ở thời đại mà KH&CN ngày càng đóng vai trò qua trọng trong sự phát trién của mỗi nền kinh tế, chúng ta thay rằng việc áp dung các công nghệ mới đã chuyên hóa cấu trúc kinh tế của nhiều nước và nâng tỷ lệ tăng truởng qua đó tạo ra sự giàu có, thịnh vượng cho các quốc gia. Tại các nước phát triển việc tiến hành đổi mới công nghệ liên tục đã giúp cho các doanh nghiệp ngày càng phát triển và liên tục lớn mạnh từ đó góp phần tạo ra một nền kinh tế hùng mạnh.
Hiện nay các nước đều tiến hành xây dựng và thực thi các chính sách đổi mới và phổ biến công nghệ nhăm mục tiêu tạo ra các điều kiện trong đó các ý tuởng, sản phẩm, công nghệ mới có thê chuyển hóa nhanh thành lợi ích lớn nhất về kinh tế và xã hội. Trong nền kinh tế thị truờng đó là điều kiện của quá trình thuong mai hóa các hoạt động và san phim KH&CN. Tuy nhiên dé quá trình này có thê xảy ra thì các doanh nghiệp ngòai việc củng cố dé có các cơ sở trí tuệ thì cân phải có được các điêu kiện phô biên, tiêp nhận thực hiện 12 công nghệ trong tòan nền kinh tế. Và dé làm được điều này thì ngoài sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp ra còn cần phải có sự hỗ trợ từ phía chính phủ mà cụ thé là các chính sách về đổi mới công nghệ.
Đổi mới công nghệ có thé chỉ nhằm giải quyết các bài toán tối ưu các thông số sản xuất như năng suất, chất lượng, hiệu quả. Đổi mới công nghệ có thể là đưa ra hoặc ứng dụng những công nghệ hoàn toàn mới (ví dụ sáng chế công nghệ mới) chưa có trên thị trường công nghệ hoặc là mới ở nơi sử dụng nó lần đầu và trong một hoàn cảnh hoàn toàn mới (ví dụ đổi mới công nghệ nhờ chuyển giao công nghệ theo chiều ngang).Schumpeter có 5 trường hợp đôi mới : - Đưa ra sản pham mới; - Đưa ra phương pháp sản xuất và thương mại hóa mới; - Chinh phục thị trường mới; - Sử dụng nguồn nguyên liệu mới; - Tổ chức mới đơn vị sản xuất; Các hình thức đổi mới công nghệ - Đổi mới công nghệ theo tính sáng tạo: gồm đổi mới gián đoạn (Discontinuous Innovation) và đổi mới liên tục (Continuous Innovation). + Đổi mới gián đoạn còn gọi là đôi mới căn bản (Radical Innovation), thé hiện sự đột phá về sản phâm va quá trình, tạo ra những ngành mới, quá trình mới và tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường mới. + Đổi mới liên tục còn gọi là đổi mới dần dần (Incremental Innovation), nhằm cải tiến sản phẩm và quá trình dé duy trì vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường hiện có.
- Đôi mới công nghệ theo sự áp dụng: Nếu xem công nghệ gồm công nghệ sản phẩm (product technology) và công nghệ quá trình (process technology) thì đổi mới công nghệ bao gồm đổi mới sản phẩm (sản phan gồm hàng hoá và dịch vụ) và đôi mới quá trình. 13 + Đổi mới sản phẩm: Đưa ra thị trường một loại sản phẩm mới (mới về mặt công nghệ). + Đổi mới quá trình: Đưa vào doanh nghiệp hoặc đưa ra thị trường một quá trình sản xuất mới (mới về mặt công nghệ). Đổi mới sản phẩm và quá trình có thé là đổi mới gián đoạn hay liên tục.
Đặc điểm của đổi mới công nghệ: - Đôi mới tác động đến năng suất, chất lượng sản pham, chu kỳ sống của sản phẩm, chiến lược cạnh tranh, việc làm. - Cơ sở của đổi mới là các thành tựu của khoa học bao gồm phát minh và sáng chế. - Đồi mới công nghệ là quá trình thay thé theo quy luật phủ định. - Đồi mới công nghệ có tinh xã hội chỉ thành công khi được thương mại hóa va đáp ứng nhu cau xã hội.
Đổi mới công nghệ là tất yếu nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, góp phan duy trì, củng cỗ và mở rộng thị truờng. Đổi mới giúp giảm chi phí sản xuất, tạo ra tính linh hoạt cao và khả năng đáp ứng nhanh nhu cầu của thị truờng cho doanh nghiệp. Đổi mới nâng cao chất luợng của sản phâm nhưng đồng thời lại rút ngắn chu kỳ sống của sản phẩm. Trong chiến luge kinh doanh của mỗi doanh nghiệp, đôi mới làm thay đôi thiết kế về sản phẩm, hệ thong sản xuất, thiết bị, kiến thức va kỹ năng lao động.
Các nhân tô ảnh hưởng đến đổi mới công nghệ - Thị trường : Những nên kinh tế thị trường có thể có lợi thế trong quá trình đôi mới. Nếu thị trường của một loại sản pham nao đó được mở rộng thì điều này sẽ thúc day đổi mới.