CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ RÁC THẢI SINH HOẠT Rác thải sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con người. nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại.
Trong các loại phế thải thì rác thải sinh hoạt là chất thải phức tạp không những ở thành phần của chúng mà còn ở sự quản lý và biện pháp xử lý, sao cho phù hợp với mức sống và tập tục của từng địa phương. Rác thải sinh hoạt thường không kiểm soát được các nguồn nguyên liệu ban đầu, do đó không đồng nhất về thành phần. Chúng phụ thuộc vào mức sống của con người ở các khu dân cư, du lịch, dịch vụ, vui chơi. Các đặc trưng điển hình của rác thải sinh hoạt: Hợp phần có nguồn gốc hữu cơ cao (56% - 65%).
Thành phần của chúng chủ yếu là các hợp chất hữu cơ cao phân tử, mà trước hết là xenluloza và lignin, thường là 40 - 50%, có nhiều trường hợp chiếm 70 - 80%; Độ ẩm cao; Có lẫn đất cát, sỏi đá vụn, gạch vỡ, mảnh sành sứ. Nguồn gốc hình thành rác thải sinh hoạt Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các hoạt động kinh tế, xã hội của con người bao gồm (Trần Hiếu Nhuệ, Ưng Quốc Dũng, Nguyễn Thị Kim Thái, 2001). + Các quá trình sản xuất. + Các quá trình phi sản xuất.
+ Hoạt động sống và tái sản sinh con người. + Các hoạt động quản lý. + Các hoạt động giao tiếp và đối ngoại. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3 Các hoạt động kinh tế - xã hội của con người Các Các Hoạt động Các Các hoạt quá trình quá trình sống và tái hoạt động động giao sản xuất phi sản sản sinh con quản lý tiếp, đối xuất người ngoại CHẤT THẢI SINH HOẠT Hình 1.
Các nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt Chất thải tạo ra từ các nguồn khác nhau tồn tại chủ yếu ở 3 dạng: rắn (chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, các loại khác…), lỏng (bùn ga cống, chất thải dầu mỡ) và khí (hơi độc hại). Phân loại rác thải sinh hoạt Phân loại theo nguồn phát sinh - Chất thải sinh hoạt: phát sinh hàng ngày ở các đô thị, làng mạc, khu dân cư, các trung tâm dịch vụ, công viên. - Chất thải công nghiệp: phát sinh từ trong quá trình sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp (gồm nhiều thành phần phức tạp, đa dạng, trong đó chủ yếu là các dạng rắn, dạng lỏng, dạng khí) - Chất thải xây dựng: là các phế thải như đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra. - Chất thải nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trước và sau thu hoạch.
Phân loại theo mức độ nguy hại - Chất thải nguy hại: là chất thải dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này tiềm ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe doạ sức khoẻ con người Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4 và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí - Chất thải không nguy hại: là các chất thải không chứa các chất và các hợp chất có các tính chất nguy hại. Thường là các chất thải phát sinh trong sinh hoạt gia đình, đô thị…. Phân loại theo thành phần - Chất thải vô cơ: là các chất thải có nguồn gốc vô cơ như tro, bụi, xỉ, vật liệu xây dựng như gạch, vữa, thuỷ tinh, gốm sứ, một số loại phân bón, đồ dùng thải bỏ gia đình.
- Chất thải hữu cơ: là các chất thải có nguồn gốc hữu cơ như thực phẩm thừa, chất thải từ lò giết mổ, chăn nuôi cho đến các dung môi, nhựa, dầu mỡ và các loại thuốc bảo vệ thực vật. Phân loại theo trạng thái chất thải: Phân loại theo các trạng thái rắn, lỏng, khí. - Chất thải trạng thái rắn: bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở chế tạo máy, xây dựng ( kim loại, da, hoá chất sơn , nhựa, thuỷ tinh, vật liệu xây dựng…) - Chất thải ở trạng thái lỏng: phân bùn từ cống rãnh, bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, rượu bia, nước từ nhà máy sản xuất giấy, dệt nhuộm và vệ sinh công nghiệp…. - Chất thải ở trạng thái khí: bao gồm các khí thải các động cơ đốt trong các máy động lực, giao thông, ô tô, máy kéo, tàu hoả, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu… 1.
Thành phần của rác thải sinh hoạt Thành phần lý, hoá học của chất thải sinh hoạt rất khác nhau tuỳ thuộc vào từng địa phương, vào các mùa khí hậu, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. * Thành phần cơ học: Một trong những đặc điểm rõ nhất thấy ở rác thải sinh hoạt ở Việt Nam là thành phần các chất hữu cơ chiếm rất cao, khoảng 56% - 65%. Còn các cấu tử phi hữu cơ (kim loại, thuỷ tinh, mảnh sành, sứ,. Phần còn lại là những cấu tử khác (Bảng 1.
Ở các nước phát Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5 triển, do mức sống của người dân cao cho nên tỷ lệ thành phần hữu cơ trong rác thải sinh hoạt thường chỉ chiếm 35 - 40% (Bảng 1. Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số tỉnh, thành phố Thành phần (%) Hà Nội Hải Phòng TP. Hồ Chí Minh Lá cây, vỏ hoa quả, xác động vật 50,27 50,07 62,24 Giấy 2,72 2,82 0,59 Giẻ rách, củi, gỗ 6,27 2,72 4,25 Nhựa nilon, cao su, da 0,71 2,02 0,46 Vỏ ốc, xương 1,06 3,69 0,50 Thuỷ tinh 0,31 0,72 0,02 Rác xây dựng 7,42 0,45 10,04 Kim loại 1,02 0,14 0,27 Tạp chất khó phân huỷ 30,21 23,9 15,27 Nguồn: Đặng Kim Cơ, kĩ thuật môi trường, NXB khoa học kĩ thuật 2004 Bảng 1. Thành phần rác thải ở một số nước trên thế giới Thành phần(%) Nhật Bản Pháp Singapo Mỹ Các chất dễ cháy 28,2 0 0 0 Giấy 12,1 30 20 - 25 30 -40 Thực phẩm 8,1 34 26 - 45 9,4 Vải 5,1 2 0 2,0 Gỗ 1,9 4 23 - 26 0,5 Chất dẻo 19,8 0 0 7,0 Cao su 1,4 10 1-2 0,5 Da 0,8 7 2-4 0,5 Kim loại 20 0 3-7 0,5 Thuỷ tinh 22,7 13 5-9 7,9 Đất cát 3,9 0 0 0 Vật liệu khác 3,2 0 5 - 10 3,2 Nguồn: PGS.
TS Nguyễn Xuân Thành, giáo trình công nghệ vi sinh vật trong xử lý ô nhiễm môi trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6 * Thành phần hoá học: Trong các cấu tử hữu cơ của của rác thải sinh hoạt thành phần hoá học của chúng chủ yếu là C, H,O, N, S và các chất tro. Hàm lượng các nguyên tố trên dao động trong một khoảng rộng. Kết luận này có thể được minh hoạ qua số liệu ở bảng 1.3 ta thấy, nếu rác thải đô thị phân huỷ một cách vô tổ chức thì môi trường sẽ bị ô nhiễm một cách ghê gớm. Nhưng nếu chúng được xử lý để tạo ra nguồn phân hữu cơ thì đây chính là nguồn dinh dưỡng khổng lồ sẽ được trả về cho đất, tạo ra được sự cân bằng về mặt sinh thái (Lê Văn Nhương, 1998).
Thành phần hoá học trong rác thải sinh hoạt Thành phần ( % ) Các chất Cacbon Hydro Oxy Nito Lưu huỳnh Tro Thực phẩm 48,0 6,4 37,6 2,6 0,4 5,0 Giấy 43,5 6,0 44,6 0,3 0,2 6,0 Cattông 41,0 5,9 44,6 0,3 0,2 5,0 Chất dẻo 60,0 7,2 22,8 - - 10,0 Vải 55,0 6,6 31,2 1,6 0,15 - Cao su 78,0 10,0 - 2,0 - 10,0 Da 60,0 8,0 11,6 10,0 0,4 10,0 Rác làm vườn 49,5 6,0 38,0 3,40 0,3 4,5 Gỗ 49,5 6,0 42,7 0,2 0,1 1,5 Nguồn: PGS. TS Nguyễn Xuân Thành, giáo trình vi sinh vật học nông nghiệp NXB sư phạm, 2004 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7 1.3 Tính chất của rác thải sinh hoạt 1.1 Tính chất lý học Việc lựa chọn và vận hành thiết bị, phân tích và thiết kế hệ thống xử lý, đánh giá khả năng thu hồi năng lượng… phụ thuộc rất nhiều vào tính chất vật lý của chất thải rắn. Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn bao gồm: khối lượng riêng, độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp. Trong đó, khối lượng riêng và độ ẩm là hai tính chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam.
Khối lượng riêng Khối lượng riêng (hay mật độ) của rác thải thay đổi theo thành phần, độ ẩm, độ nén của chất thải. Trong công tác quản lý chất thải rắn, khối lượng riêng là thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải. Qua đó có thể phân bổ và tính được nhu cầu trang thiết bị phục vụ công tác thu gom vận chuyển, khối lượng rác thu gom và thiết kế quy mô bãi chôn lấp chất thải. Khối lượng riêng được xác định bởi khối lượng của vật liệu trên một đơn vị thể tích (kg/m3).
Dữ liệu về khối lượng riêng cần thiết để định mức tổng khối lượng và thể tích chất thải cần phải quản lý. Khối lượng riêng của các hợp phần trong chất thải rắn được trình bày ở bảng 1. Khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ ràng theo vị trí địa lý, mùa trong năm và thời gian lưu trữ, do đó cách tốt nhất là sử dụng các giá trị trung bình đã được lựa chọn. Khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ 120 đến 590 kg/m3.
Đối với xe vận chuyển, rác có thể ép lên đến 830 kg/m3. Khối lượng riêng của rác được xác định bằng phương pháp cân trọng lượng để xác định tỷ lệ giữa trọng lượng của mẫu với thể tích của nó, có đơn vị là kg/m3 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8 Bảng 1. Khối lượng riêng các thành phần của chất thải rắn Chú thích: 1lb/yd3 = 593 kg/m3 b. Độ ẩm Độ ẩm của chất thải rắn là thông số có liên quan đến giá trị nhiệt lượng của chất thải, được xem xét nhất lựa chọn phương án xử lý, thiết kế bãi chôn lấp và lò đốt.
Độ ẩm rác thay đổi theo thành phần và theo mùa trong năm.