ĐẶT VẤN ĐỀ Xã hội phát triển cùng với đó là dân số ngày càng tăng khiến áp lực giải quyết vấn đề rác thải ngày càng lớn. Rác thải ngày nay không đơn thuần chỉ là rác hữu cơ, mà có rất nhiều những thành phần khó phân hủy và độc hại. Với số lƣợng rác đƣợc thải ra môi trƣờng cực kỳ lớn nhƣ hiện nay, gây ảnh hƣởng trực tiếp tới môi trƣờng sống và môi trƣờng sinh thái. Bất kỳ một hoạt động sống nào của con ngƣời, tại nhà, công sở, trên đƣờng đi, tại nơi công cộng…, đều sinh ra một lƣợng rác đáng kể.
Theo ƣớc tính của ngân hàng thế giới thì con ngƣời thải ra khoảng 1,3 tỷ tấn rác thải rắn mỗi năm trên phạm vi toàn thế giới và con số này sẽ tăng lên 2,2 tỷ tấn vào năm 2025 (Daniel Hoornweg and Perinaz Bhada – Tata, 2012). Theo thống kê của Bộ Xây dựng, mỗi năm, tổng lƣợng chất thải rắn sinh hoạt của cả nƣớc gần 16 triệu tấn/năm tƣơng ứng khoảng 43. đến nay, tại hầu hết các địa phƣơng, việc xử lý rác thải sinh hoạt bằng hình thức phổ biến là chôn lấp, chiếm trên 70%, và đốt thủ công chiếm 28%. Trong tổng số 660 bãi chôn lấp có quy mô lớn hơn 1 ha, mới có 120 bãi chôn lấp hợp vệ sinh có lớp che phủ hàng ngày trên rác thải đạt 18% rất thấp.
Những bãi chôn rác tại các thành phố luôn trong tình trạng quá tải, thƣờng trực nguy cơ gây ô nhiễm nƣớc và không khí. Vì vậy quản lý rác thải hiện nay đang là vấn đề nóng và mang tính toàn cầu. Quản lý tốt chất thải rắn mang lại nhiều lợi ích kinh tế. Trƣớc hết, nó tạo nguồn nguyên liệu sạch cho sản xuất phân compost.
Chất thải rắn phần lớn có khả năng tái sinh, tái chế nhƣ nylon, thủy tinh, nhựa, giấy, kim loại, cao su. Nếu biết tận thu rác thực phẩm, xã hội sẽ giảm đƣợc chi phí chôn lấp rác và có nguồn thu từ hoạt động bán phân compost. Nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt là Châu Âu đang đi đầu trong các giải pháp xử lý rác thải và họ coi rác thải chính là nguồn tài nguyên quý giá, rác chính là cơ hội kinh doanh mang lại lợi nhuận kinh tế vừa bảo vệ môi 2 trƣờng nhƣ: Thụy Điển là quốc gia trong nhiều năm liền đi đầu trong hoạt động tái chế rác thải. Hiện tỷ lệ rác thải từ các hộ gia đình đƣợc tái chế lên tới 99%; Australia đã dùng công nghệ sinh học để tái chế nhựa, chuyển đổi lại thành nhựa chất lƣợng cao; Na Uy cũng là một trong những quốc gia đi đầu thế giới trong phong trào tái chế chất thải nhựa.
Bằng chứng là 97% chai nhựa từ nƣớc này đã đƣợc tái chế, 92% trong số đó quay trở lại thành nhựa chất lƣợng cao và có thể tiếp tục đựng nƣớc uống. Ngoài lợi ích kinh tế có thể tính toán đƣợc, việc quản lý chất thải rắn còn mang lại nhiều lợi ích đối với môi trƣờng. Khi giảm đƣợc khối lƣợng chất thải rắn sinh hoạt phải chôn lấp, khối lƣợng nƣớc rỉ rác sẽ giảm. Diện tích bãi chôn lấp thu hẹp sẽ góp phần hạn chế hiệu ứng nhà kính do khí của bãi chôn lấp.
Việc giảm chôn lấp chất thải rắn có thể phân hủy kéo theo việc giảm lƣợng khí làm ảnh hƣởng đến tầng ôzôn. Việc tận dụng các chất thải rắn có thể tái sinh tái chế giúp bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Thay vì khai thác tài nguyên để sử dụng, chúng ta có thể sử dụng các sản phẩm tái sinh tái chế này nhƣ một nguồn nguyên liệu thứ cấp. Bên cạnh đó lợi ích xã hội mang lại chính là việc hình thành ở mỗi cá nhân nhận thức cần bảo vệ môi trƣờng sống.
Quản lý rác thải đƣợc thực hiện tốt làm giảm thiểu ô nhiễm môi trƣờng, tiết kiệm chi phí và nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân. Mỹ Đức là một huyện nông thôn ngoại thành của thành phố Hà Nội, vốn nổi tiếng với nhiều phong cảnh đẹp và môi trƣờng sống trong lành, tuy nhiên hiện nay lƣợng rác thải sinh hoạt đƣợc thu gom sau đó lƣu giữ tại các bãi rác lộ thiên nằm rải rác trên khắp địa bàn gây ra nhiều vấn đề môi trƣờng và ảnh hƣởng xấu đến cảnh quan. Điển hình hàng chục nghìn tấn rác thải sinh hoạt còn tồn đọng ở 38 điểm tập kết trên toàn huyện dẫn đến lo ngại rằng nguồn nƣớc ngầm bị ô nhiễm mà 90% dân số, tƣơng đƣơng khoảng 170.000 ngƣời dân trong huyện vẫn đang sử dụng nguồn nƣớc này để sinh hoạt (Phòng QLĐT huyện Mỹ Đức, 2017). Ngoài ra, với tốc độ gia tăng dân số 1%/năm 3 lƣợng rác thải sinh hoạt sẽ không ngừng gia tăng kéo theo đó là các áp lực lớn hơn đối với môi trƣờng và đời sống của ngƣời dân.
Trong thời gian gần đây, tuy đã có đƣợc sự quan tâm nhất định nhƣng vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận rằng hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt của chính quyền địa phƣơng còn thấp so với yêu cầu đặt ra. Để nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân cũng nhƣ giữ gìn và bảo vệ giá trị cảnh quan thiên nhiên vốn có của Mỹ Đức, thì yêu cầu việc hoàn thiện công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn là điều cần thiết phải thực hiện. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn nêu trên, tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài “Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm về quản lý Từ khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt đƣợc với tƣ cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý cũng hình thành nhƣ một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân để hƣớng tới những mục tiêu chung. Trong quá trình lao động con ngƣời buộc phải phối hợp với nhau. Chính vì vậy đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong công việc, phải có sự quản lý.
Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của hệ thống xã hội nhằm đạt đƣợc mục đích của hệ thống với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động (Nguyễn Thị Ngọc Huyền và cs, 2012). Từ khái niệm nêu trên có thể thấy rằng quản lý là quá trình chủ thể quản lý thông qua các công cụ quản lý tác động đến hoạt động của đối tƣợng quản lý nhằm đạt đƣợc những mục tiêu chung đã đề ra. Khái niệm rác thải sinh hoạt Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dƣ thừa… (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2010).
Rác thải sinh hoạt là chất thải rắn sinh ra từ các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cƣ…), khu thƣơng mại (cửa hàng, nhà hàng, chợ, siêu thị, văn phòng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ, của hàng sử xe…), cơ quan 5 (trƣờng học, viện nghiên cứu, trung tâm, bệnh viện, nhà tù, các trung tâm hành chánh nhà nƣớc…) khu dịch vụ công cộng (quét đƣờng, công viên, giải trí, tỉa cây xanh…) và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nƣớc. Chất thải sinh hoạt bao gồm cả chất thải nguy hại sinh ra từ các nguồn trên (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010). Nhƣ vậy, có thể nói rác thải sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thƣờng ngày của con ngƣời. Vì thế rác thải sinh hoạt có thành phần và nguồn thải rất đa dạng, trong đó các nguồn chính thải ra bao gồm: - Rác thải từ các hộ gia đình, khu dân cƣ: Thành phần chính bao gồm thực phẩm thừa, thuỷ tinh, gỗ, giấy nhựa, ngoài ra còn có rác thải hữu cơ từ hoạt động nông nghiệp đối với ngƣời dân nông thôn…; - Rác thải ra từ các khu trung tâm thƣơng mại, nhà hàng, khách sạn, cửa hàng bách hóa, siêu thị… Bao gồm các loại chất thải nhƣ giấy, nhựa, bìa cac tông, gỗ, thực phẩm, kim loại, đồ điện tử gia dụng… Bên cạnh đó còn có phát sinh rác thải sinh hoạt từ các chợ, khu công sở, trƣờng học, bến xe… 1.
Khái niệm về quản lý rác thải sinh hoạt Tại điểm 15, Điều 3 của Luật bảo vệ môi trƣờng (số 55/2014/QH13) quy định quản lý chất thải là quá trình phòng ngừa, giảm thiểu, giám sát, phân loại, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải. Quản lý rác thải sinh hoạt là sự kết hợp kiểm soát nguồn thải, tồn trữ, thu gom, trung chuyển và vận chuyển, xử lý và đổ chất thải theo phƣơng thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hƣởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trƣờng liên quan. Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chƣơng trình quản lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt quản lý chất thải rắn. Quản lý rác thải sinh hoạt bao gồm các hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc và có sự đóng góp của cộng đồng (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010).
6 Trong đó, thu gom rác thải sinh hoạt là hoạt động quét dọn, tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận (Chính phủ, 2007). Trung chuyển và vận chuyển: Các trạm trung chuyển đƣợc sử dụng để tối ƣu hóa năng suất lao động của đội thu gom và đội xe. Trạm trung chuyển đƣợc sử dụng khi xảy ra hiện tƣợng đổ chất thải rắn không đúng quy định do khoảng cách vận chuyển quá xa, vị trí thải bỏ quá xa tuyến đƣờng thu gom (thƣờng lớn hơn 16 km), sử dụng xe thu gom có dung tích nhỏ (thƣờng nhỏ hơn 15 m3), khu vực phục vụ là khu dân cƣ thƣa thớt, sử dụng thùng chứa tƣơng đối nhỏ để thu gom chất thải từ khu thƣơng mại (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010).