lời mở đầu của chỉ thị số 36-CT-TW ngày 25/06/1998 của bộ chính trị trung ƣơng Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VIII về tăng cƣờng công tác bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc. Tiếp đó ngày 15/11/2004, Bộ chính trị (khóa IX) ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW “Về bảo vệ môi trƣờng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc”. Hai văn kiện quan trọng với cùng một nội dung đã cho thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng và sự tiến triển logic của quá trình chỉ đạo cơ quan đầu não của Đảng liên quan đến các quan điểm và chính sách bảo vệ môi trƣờng. Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị và nghị quyết trên, các ngành, các cấp trong cả nƣớc và đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trƣờng, chống ô nhiễm và suy thoái môi trƣờng.
Cùng với cả nƣớc, ban lãnh đạo tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây đã có những chủ trƣơng chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề môi trƣờng nhƣ: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục về bảo vệ môi trƣờng, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất sạch hơn… Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc đã giúp cho tỉnh Thái Nguyên ngày một phát triển hơn, một mặt tạo sự phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, nâng cao mức sống cho ngƣời dân. Mặt khác, đây cũng là nguy cơ làm giảm chất lƣợng môi trƣờng. Một trong những vấn đề môi trƣờng cấp bách hiện nay ở nƣớc ta đó là rác thải sinh hoạt – đây là một thách thức lớn đƣợc toàn xã hội quan tâm. n 2 Nền kinh tế xã hội càng phát triển, dân số gia tăng thì nhu cầu tiêu thụ của con ngƣời càng tăng lên.Việc bùng nổ rác thải sinh hoạt là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trƣờng và ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng, làm mất cảnh quan văn hoá đô thị và nông thôn… Hiện nay tình trạng rác thải nói chung và rác thải sinh hoạt nói riêng tại thị trấn Đu – huyện Phú Lƣơng – tỉnh Thái Nguyên chƣa có đánh giá một cách đầy đủ dẫn đến việc thu gom và quản lý rác thải gặp nhiều khó khăn và chƣa có biện pháp xử lý rác thải phù hợp cũng nhƣ chƣa có công tác bảo vệ môi trƣờng hiệu quả.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và đƣợc sự đồng ý của ban giám hiệu nhà trƣờng, ban chủ nhiệm khoa Môi trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của cô giáo Th.S Nguyễn Thị Huệ tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá công tác quản lý, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường tại thị trấn Đu - huyện Phú Lương - Thái Nguyên” 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài + Đánh giá đƣợc thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu. +Đánh giá đƣợc thực trạng công tác thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu. + Đề xuất một số biện pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phƣơng.
Yêu cầu của đề tài + Đánh giá khách quan, số liệu trung thực. + Đƣa ra các giải pháp bảo vệ môi trƣờng mang tính cụ thể và phù hợp với tình hình thực tế của địa phƣơng. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học + Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
n 3 + Vận dụng và phát huy đƣợc các kiến thức đã học tập và nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn + Đánh giá đƣợc lƣợng rác thải sinh hoạt phát sinh, tình hình quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Đu. + Đề xuất một số biện pháp quản lý, thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn thị trấn Đu. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Các khái niệm có liên quan 2. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm đƣợc phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con ngƣời, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thƣơng mại du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trƣờng học, các khu dân cƣ, nhà hàng, khách sạn (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]. Khái niệm về chất thải rắn Chất thải rắn – CTR (còn gọi là rác) là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt, hoạt động sản xuất của con ngƣời và động vật.
CTR phát sinh từ những hộ gia đình, khu công cộng, khu thƣơng mại, khu xây dựng, bệnh viện, khu xử lý chất thải… Trong đó CTR sinh hoạt chiếm tỷ lệ cao nhất (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ, thƣơng mại (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn a. Nguồn phát sinh chất thải rắn Có thể phân ra các nguồn phát sinh chất thải rắn nhƣ sau (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]: - Từ sinh hoạt: Phát sinh từ các hộ gia đình, các khu biệt thự và các căn hộ chung cƣ.
- Từ khu thƣơng mại: Phát sinh từ các nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, nhà trọ, các trạm sửa chữa bảo hành và dịch vụ. n 5 - Từ cơ quan công sở: Phát sinh từ trƣờng học, bệnh viện, văn phòng cơ quan chính phủ. - Từ hoạt động giao thông và các công trình xây dựng: Phát sinh từ các hoạt động xây dựng và tháo dỡ công trình xây dựng, giao thông vận tải. -Từ dịch vụ công cộng đô thị: đó là các hoạt động dọn rác vệ sinh đƣờng phố, công viên, khu vui chơi giải trí.
- Từ hoạt động công nghiệp: Phát sinh từ các hoạt động sản xuất của các xí nghiệp, nhà máy sản xuất công. Đối với rác thải công nghiệp độc hại phải đƣợc quản lý và xử lý riêng. - Từ hoạt đông nông nghiệp: Phát sinh từ đồng ruộng, ao, vƣờn, chuồng trại…Các loại chất thải bao gồm: phân, rác, rơm rạ, thức ăn thừa… b. Phân loại chất thải rắn Các loại chất thải rắn đƣợc thải ra từ các hoạt động khác nhau đƣợc phân loại theo nhiều cách.
Có thể phân loại chất thải rắn nhƣ sau (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]: Theo mức độ nguy hại, chất thải rắn đƣợc phân thành các loại: - Chất thải nguy hại: Bao gồm các loại hoá chất gây phản ứng, độc hại, chất thải sinh học dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các chất phóng xạ, các chất thải nhiễm khuẩn, lây lan…Có nguy cơ đe doạ đến sức khoẻ của con ngƣời và động vật cây cỏ. Nguồn phát sinh chất thải nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp. - Chất thải không nguy hại: Là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tƣơng tác thành phần. Thành phần chất thải rắn Chất thải rắn nói chung là một hỗn hợp đồng nhất và phức tạp của nhiều vật chất khác nhau.
Tuỳ theo cách phân loại, mỗi một loại chất thải rắn có một số thành phần đặc trƣng nhất định. Thành phần của chất thải rắn đô n 6 thị là bao quát hơn tất cả vì nó bao gồm mọi thứ chất thải rắn từ nhiều nguồn gốc phát sinh khác nhau (sinh hoạt, công nghiệp, y tế, xây dựng, chăn nuôi, xác chết, rác đƣờng phố) (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004)[7]. Hoạt động thu gom, vận chuyển, quản lý, xử lý chất thải rắn Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn. - Hoạt động thu gom chất thải rắn: Là hoạt đông tập hợp, phân loại, đóng gói và giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp nhận.
- Vận chuyển chất thải rắn: Là quá trình chuyển trở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp. - Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch, quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lƣu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khoẻ con ngƣời. - Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ tiêu huỷ các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích. Cơ sở pháp lý + Căn cứ luật BVMT 2005 đƣợc quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006; + Căn cứ nghị định 80/2006/NĐ – CP ngày 28/2/2006 hƣớng dẫn thực hiện luật BVMT; n 7 + Căn cứ nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/2/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trƣờng; + Nghị định số 59/2007/NĐ – CP ngày 09/04/2007 về quản lý chất thải rắn; + Căn cứ thông tƣ số 39/2008/TT- BTC ngày 19/05/2008 về việc hƣớng dẫn thực hiện nghị định số 174/2007/NĐ – CP ngày 29/11/2007 của chính phủ về phí BVMT đối với chất thải rắn; + Căn cứ vào nghị định số 117/2009/NĐ – CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trƣờng; + Thông báo số 160 – TB/TU ngày 10/10/2006 của ban thƣờng vụ tỉnh uỷ về đề án giải quyết các vấn đề bức xúc trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên; + Quyết định số 74/2007/QĐ – UBND về bảo vệ môi trƣờng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới 2. Tình hình phát sinh thu gom và phân loại rác thải trên thế giới Hiện nay ở hầu hết các nƣớc trên thế giới tốc độ đô thị hoá diễn ra nhanh, công nghiệp hoá - hiện đại hoá phát triển mạnh đã làm nảy sinh nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng.