mở đầu cuộc kháng chiến toàn quốc 9 năm. ChiÕn th¾ng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ®· buộc Pháp phải ký hiệp định Giơ-ne-vơ, công nhận độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta. Tiếp đó, trong những năm tháng hào hùng vừa xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc, vừa chi viện cho tiền tuyến miền Nam, Hà Nội đã không tiếc sức người, sức của dốc lòng cho tiền tuyến lớn. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân ra miền Bắc và đánh phá Thủ đô, Hà Nội đã chấp nhận cuộc đối đầu lịch sử.
Trong suốt 12 ngày đêm của trận “Điện Biên Phủ trên không”, Hà Nội đã khiến bọn giặc hoảng loạn, buộc Mỹ phải ký hiệp định Pa-ri, tạo bước chuyển vô cùng quan trọng cho chiến thắng lịch sử mùa Xuân 1975, thu non sông về một mối, cả nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Có thể thấy, cho tới nay, trải gần mười thế kỷ, qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử, mảnh đất Thăng Long - Hà Nội với vị trí “thắng địa”, với 15 truyền thống văn hiến ngàn năm, luôn xứng đáng là trung tâm của đất nước, trái tim của Tổ quốc. Vị trí, vai trò Thủ đô của mảnh đất Hà Nội là sự lựa chọn khách quan của lịch sử, của dân tộc. Điều đó vừa là niềm tự hào sâu sắc, vừa là trách nhiệm lớn lao của nhân dân Hà Nội.
Nghị quyết 15 - NQ/TW của Bộ Chính trị khoá VIII (ngày 15/12/2000) đã chỉ rõ: “Cổ Loa - Thăng Long - Hà Nội là địa danh tiêu biểu cho lịch sử hàng ngàn năm văn hiến của dân tộc ta”. Sự tồn tại và không ngừng phát triển của Thăng Long - Hà Nội khẳng định bề dày lịch sử văn hiến vẻ vang của Thủ đô, khẳng định hùng hồn sự tồn tại, phát triển bền vững của một quốc gia độc lập, tự chủ. Trải gần trọn một ngàn năm, Thăng Long - Hà Nội đã thu hút hiền tài bốn phương, hội tụ tinh hoa mọi miền, tiếp thu, chưng cất kinh nghiệm trăm vùng, xây đắp nên tinh hoa văn hoá Thăng Long - Hà Nội. Bởi vậy, phẩm chất con người và nền văn minh, văn hiến Thăng Long - Hà Nội chứa trong mình đầy đủ bản sắc văn hoá dân tộc và toả ngời nét đặc sắc của vùng đất Thủ đô.
Gần một thiên niên kỷ qua, khi yên bình cũng như lúc chiến tranh, bất luận trong hoàn cảnh nào, Thăng Long - Hà Nội cũng dồi dào sinh khí của một dân tộc anh hùng và sáng tạo trong lao động xây dựng, chiến đấu bảo vệ quê hương, và càng đậm đà cốt cách bản sắc của trung tâm văn hoá tiêu biểu. Rõ ràng, Thăng Long - Hà Nội là nơi lắng hồn núi sông; nơi hội tụ, kết tinh và toả sáng văn hoá của đất nước. Từ ngày dân tộc ta có Đảng do Bác Hồ sáng lập, dẫn dắt, vùng đất Thăng Long - Hà Nội đã phát huy cao độ truyền thống văn hoá Việt Nam, truyền thống văn hoá Thăng Long - Hà Nội, đồng thời bồi đắp thêm phẩm chất văn hoá mới, biến nó thành sức mạnh vật chất vĩ đại đấu tranh góp phần xứng đáng cùng toàn dân làm Cách mạng tháng Tám thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập nên Nhà nước dân chủ mới, đánh thắng hai đế quốc lớn, mang lại độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc. Truyền thống văn hiến, anh hùng của Thăng Long - Hà Nội được xây dựng, vun đắp, bảo vệ bằng mồ hôi, xương máu, đức cần cù dũng cảm, trí thông minh sáng tạo của biết bao thế hệ người Hà Nội, không chỉ là nguồn vốn văn hoá vô cùng quý báu, đặc sắc mà còn là nguồn lực vô giá để Hà Nội thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.
KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH THỦ ĐÔ HÀ NỘI THỜI KỲ TRƯỚC ĐỔI MỚI A. Bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn 1975-1985 Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Thắng lợi đó đã kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm đấu tranh giành độc lập tự do, hoàn 16 thành cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước. Non sông thu về một mối, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới - giai đoạn cả nước cùng tiến vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Sự nghiệp xây dựng Thủ đô Hà Nội xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ lịch sử mới diễn ra trong bối cảnh vừa có những thuận lợi rất cơ bản, vừa có những khó khăn to lớn và phức tạp. Với kinh nghiệm tích lũy được, Đảng bộ Hà Nội đã lãnh đạo nhân dân Thủ đô vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, từng bước đưa Hà Nội vượt qua khó khăn, từng bước đi lên. Đáp ứng nguyện vọng thiết tha của nhân dân, cuối năm 1975 Hội nghị hiệp thương chính trị giữa Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa và Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã nhất trí tổ chức Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của cả nước. Ngày 25/4/1976, trong ngày hội non sông, cử tri Hà Nội cùng cử tri cả nước nô nức thực hiện quyền công dân, tham gia bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất.
Cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa VI thắng lợi “biểu thị hùng hồn ý chí của toàn dân ta đối với việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa”2. Ngày 2/7/1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã quyết định lấy tên nước là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Thủ đô là Hà Nội. Ngày 20/9/1976, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về quy hoạch, cải tạo và xây dựng Thủ đô Hà Nội. Nghị quyết nêu rõ: Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật; đồng thời là một trung tâm kinh tế quan trọng và một trung tâm giao dịch quốc tế của cả nước.
Hà Nội phải được xây dựng thành một thành phố tiêu biểu cho chế độ xã hội chủ nghĩa trên đất nước ta, vừa có tính hiện đại, vừa có tính dân tộc, làm chỗ dựa cho sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của cả nước. Nghị quyết Bộ Chính trị là nguồn cổ vũ to lớn, đồng thời cũng là nhiệm vụ nặng nề đối với Đảng bộ và nhân dân Hà Nội trong quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô trước thời kỳ đổi mới (1975 - 1985). Những nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân Thủ đô qua 3 kỳ Đại hội Đảng bộ Thành phố, từ Đại hội VII (1977) đến Đại hội IX (1985) Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ và nhân dân Hà Nội phát huy truyền thống cách mạng, tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế. Hầu hết các xí nghiệp Trung ương, địa phương bị máy bay địch đánh phá đều được xây dựng lại.
Nhiều xí nghiệp được xây mới và mở rộng. Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp bước đầu phát triển sản xuất, thu hút lao động. Nông nghiệp được phục hồi; thu mua lương thực đạt kết quả cao. Xây dựng cơ bản và quản lý đô thị có kết quả.
Giáo dục, y tế có nhiều tiến bộ. Hệ thống chính trị được kiện toàn vững mạnh. 2 Báo cáo chính trị của BCH TW Đảng tại ĐH đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, NXB Sự thật, Hà Nội, 1977, tr. 17 Từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại Thủ đô Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng.
Về dự Đại hội có 1008 đại biểu thay mặt cho hơn 1,5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đã xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta và vạch ra đường lối kinh tế và đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển kinh tế văn hóa trong thời gian 1976-1980. Đại hội quyết định đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Việt Nam. Thắng lợi của Đại hội đã mang lại niềm tin tưởng sâu sắc cho cán bộ, đảng viên và nhân dân Hà Nội đối với sự lãnh đạo của Đảng, với tương lai của đất nước, tiền đồ của dân tộc.
Từ ngày 25/5 đến 2/6/1977, tại câu lạc bộ Lao động (nay là Cung văn hóa - thể thao thanh niên) đã diễn ra Đại hội đại biểu lần thứ VII Đảng bộ Thành phố Hà Nội (vòng 2). Về dự Đại hội có 639 đại biểu, thay mặt cho gần 70.000 đảng viên toàn Đảng bộ. Đại hội nhận định: bước sang giai đoạn cách mạng mới, cơ sở vật chất kỹ thuật của Thành phố còn nhỏ bé, tốc độ phát triển sản xuất chậm, đời sống nhân dân gặp khó khăn, quản lý kinh tế - xã hội còn nhiều khuyết điểm; hiện tượng tiêu cực có chiều hướng phát triển; phong trào cách mạng của quần chúng trong lao động sản xuất chưa được tổ chức mạnh mẽ, liên tục. Đại hội đề ra phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980 và mục tiêu chủ yếu của 2 năm 1977 - 1978, nhằm từng bước xây dựng một cơ cấu kinh tế phù hợp với đường lối của Đảng, với tiềm năng và vị trí của Thủ đô.
Sau Đại hội, Hà Nội mở hướng phát triển công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp vật liệu xây dựng và tiểu thủ công nghiệp. Ngành công nghiệp Hà Nội tiếp tục tổ chức lại sản xuất, xóa bỏ sự phân tán, không đồng bộ, mất cân đối. Công tác quản lý được tăng cường một bước. Nhiều xí nghiệp đã ổn định nhiệm vụ sản xuất trước mắt và xác định phương hướng sản xuất lâu dài.
Hai năm 1977-1978, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp toàn Thành phố đã thu được những kết quả bước đầu. Năm 1977, giá trị tổng sản lượng đạt trên 1.469 triệu đồng, tăng 4,8% so với năm 1976, trong đó công nghiệp Trung ương tăng 3%, công nghiệp quốc doanh địa phương tăng 7,4%, tiểu thủ công nghiệp tăng 9,7%. Năm 1978, công nghiệp Trung ương tăng 8% so với năm 1976, công nghiệp địa phương tăng 21%, riêng tiểu, thủ công nghiệp tăng 24%. Hoạt động tài chính, ngân hàng đều có những cố gắng phục vụ sản xuất, đời sống.
Thi hành chủ trương của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất tiền tệ trong cả nước, từ ngày 3/5 đến ngày 6/5/1978, Hà Nội đã hoàn thành công tác thu đổi tiền.