Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi thảm thực vật trên bãi thải đông cao sơn thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi thảm thực vật trên bãi thải đông cao sơn thành phố cẩm phả, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Tác giả

Ẩn danh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2018

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Các nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật trên bãi thải than trên thế giới

1.1.2. Các nghiên cứu công tác phục hồi thảm thực vật trên bãi thải than tại Việt Nam

1.2. Hiện trạng các bãi thải than trên địa bàn thành phố Cẩm Phả

1.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của bãi thải than trên địa bàn thành phố Cẩm Phả

1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu
1.2.1.1.1. Vị trí địa lý
1.2.1.1.2. Đặc điểm địa chất
1.2.1.1.3. Đặc điểm khí hậu
1.2.1.1.4. Điều kiện thủy văn
1.2.1.1.5. Đặc điểm kinh tế xã hội
1.2.1.2. Thực trạng về loài cây và diện tích trồng cây tại các bãi thải than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.2. Nội dung nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Quan điểm và cách tiếp cận của đề tài

2.3.2. Phương pháp nghiên cứu chung

2.3.3. Phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.3.3.1. Phương pháp tổng hợp, kế thừa các tài liệu, số liệu
2.3.3.2. Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
2.3.3.3. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Hiện trạng môi trường bãi thải Đông Cao Sơn

3.1.1. Thành phần, đặc điểm bãi thải

3.1.2. Đặc điểm đất bãi thải sau khai thác than

3.1.3. Hiện trạng môi trường bãi thải

3.1.4. Hiện trạng tài nguyên sinh vật trên bãi thải

3.1.5. Đánh giá thực trạng trồng rừng cải tạo môi trường tại bãi thải

3.1.6. Diện tích rừng trồng trong dự án cải tạo bãi thải than Đông Cao Sơn

3.1.7. Các biện pháp kỹ thuật đã được áp dụng trong dự án

3.1.8. Đánh giá khả năng phục hồi của thảm thực vật trên bãi thải

3.1.8.1. Khả năng tự phục hồi của hệ thảm thực vật tự nhiên trên bãi thải
3.1.8.2. Khả năng tồn tại và sinh trưởng của các loài cây trồng trong dự án cải tạo chất lượng môi trường khu vực bãi thải mỏ Đông Cao Sơn
3.1.8.3. Khả năng cải tạo độ phì đất của các loài cây trồng trong dự án sau 1 năm tuổi

3.1.9. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng cải tạo môi trường bãi thải khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh

3.1.9.1. Quan điểm và định hướng chung
3.1.9.2. Các biện pháp kỹ thuật
3.1.9.3. Các biện pháp về chính sách và thể chế

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá phục hồi thảm thực vật bãi thải Đông Cao Sơn

Bãi thải Đông Cao Sơn, nằm tại thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, là một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề từ hoạt động khai thác than. Việc phục hồi thảm thực vật tại đây không chỉ giúp cải thiện môi trường mà còn góp phần bảo tồn đa dạng sinh học. Đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi thảm thực vật là rất cần thiết để đưa ra các giải pháp hiệu quả.

1.1. Tình hình hiện tại của bãi thải Đông Cao Sơn

Bãi thải Đông Cao Sơn hiện đang đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Đất đai bị ô nhiễm, độ phì nhiêu thấp, và sự đa dạng sinh học giảm sút. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc phục hồi thảm thực vật có thể cải thiện tình trạng này.

1.2. Tầm quan trọng của phục hồi thảm thực vật

Phục hồi thảm thực vật không chỉ giúp cải thiện chất lượng đất mà còn tạo ra môi trường sống cho các loài động thực vật. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn hệ sinh thái và phát triển bền vững.

II. Những thách thức trong phục hồi thảm thực vật bãi thải Đông Cao Sơn

Việc phục hồi thảm thực vật tại bãi thải Đông Cao Sơn gặp nhiều thách thức. Các yếu tố như điều kiện đất đai, khí hậu, và sự xâm nhập của các loài ngoại lai đều ảnh hưởng đến quá trình phục hồi. Đánh giá các thách thức này là cần thiết để tìm ra giải pháp phù hợp.

2.1. Điều kiện đất đai và chất lượng môi trường

Đất tại bãi thải Đông Cao Sơn chủ yếu là đất đá thải, nghèo dinh dưỡng và có độ pH thấp. Điều này gây khó khăn cho sự phát triển của thảm thực vật. Cần có các biện pháp cải tạo đất để nâng cao khả năng phục hồi.

2.2. Tác động của khí hậu đến phục hồi thảm thực vật

Khí hậu tại khu vực bãi thải có sự biến đổi lớn, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây trồng. Nhiệt độ cao và lượng mưa không ổn định có thể làm giảm khả năng sống sót của các loài cây trồng.

III. Phương pháp phục hồi thảm thực vật bãi thải Đông Cao Sơn hiệu quả

Để phục hồi thảm thực vật tại bãi thải Đông Cao Sơn, cần áp dụng các phương pháp khoa học và công nghệ hiện đại. Việc lựa chọn loài cây phù hợp và áp dụng các biện pháp kỹ thuật là rất quan trọng.

3.1. Lựa chọn loài cây trồng phù hợp

Việc lựa chọn các loài cây bản địa có khả năng chịu đựng điều kiện khắc nghiệt là rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng cây keo lá tràm (Acacia auriculiformis) có khả năng sinh trưởng tốt trên đất bãi thải.

3.2. Các biện pháp kỹ thuật trong phục hồi

Áp dụng các biện pháp như cải tạo đất, tưới nước, và kiểm soát cỏ dại sẽ giúp nâng cao hiệu quả phục hồi thảm thực vật. Các biện pháp này cần được thực hiện đồng bộ để đạt được kết quả tốt nhất.

IV. Kết quả nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật bãi thải Đông Cao Sơn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc phục hồi thảm thực vật tại bãi thải Đông Cao Sơn đã đạt được những thành công nhất định. Tỷ lệ sống sót của cây trồng cao, và chất lượng đất cũng được cải thiện.

4.1. Tỷ lệ sống sót của cây trồng

Các loài cây trồng như keo lá tràm cho thấy tỷ lệ sống sót cao, đạt khoảng 80% sau một năm trồng. Điều này cho thấy khả năng phục hồi của thảm thực vật tại bãi thải là khả thi.

4.2. Cải thiện chất lượng đất

Sau một năm trồng cây, chất lượng đất tại bãi thải đã có sự cải thiện rõ rệt. Các chỉ tiêu hóa học như độ pH, hàm lượng dinh dưỡng đã được nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của thảm thực vật.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho phục hồi thảm thực vật bãi thải Đông Cao Sơn

Việc phục hồi thảm thực vật tại bãi thải Đông Cao Sơn là một quá trình cần thiết và cấp bách. Đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi sẽ giúp đưa ra các giải pháp hiệu quả trong tương lai.

5.1. Định hướng phát triển bền vững

Cần có các chính sách hỗ trợ và đầu tư cho công tác phục hồi thảm thực vật. Điều này không chỉ giúp cải thiện môi trường mà còn góp phần phát triển kinh tế địa phương.

5.2. Tăng cường nghiên cứu và ứng dụng công nghệ

Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới trong phục hồi thảm thực vật sẽ giúp nâng cao hiệu quả và bền vững cho các dự án phục hồi trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi thảm thực vật trên bãi thải đông cao sơn thành phố cẩm phả tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành công nghiệp khai thác than đã có ở Quảng Ninh từ hơn 100 năm nay và trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có khoảng 30 mỏ than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và Tổng công ty Đông Bắc (Đông Bắc) đang hoạt động với sản lượng than nguyên khai khai thác năm 2016 đạt khoảng 42 triệu tấn, khối lượng đất bóc 207 triệu tấn. Ngành công nghiệp khai thác than đã có đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Quảng Ninh cũng như cả nước, giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động; tuy nhiên khai thác than cũng gây ra những tác động lớn đến môi trường.

Những năm vừa qua, công tác bảo vệ môi trường đã được ngành Than quan tâm thực hiện thông qua việc di dời các cơ sở sản xuất khỏi trung tâm các khu đô thị, đầu tư cải tạo phục hồi môi trường các bãi thải, xây dựng đê đập chắn đất đá chân các bãi thải, nạo vét hệ thống sông suối thoát nước, xây dựng các trạm xử lý nước thải mỏ, thu gom xử lý chất thải rắn, thực hiện các biện pháp giảm thiểu bụi ồn và giải quyết các vấn đề môi trường khác; nhờ đó đã bước đầu khắc phục được tình trạng ô nhiễm môi trường do quá trình khai thác than trước đây để lại và xử lý, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường mới phát sinh, chất lượng môi trường cảnh quan các khu vực có hoạt động khai thác than và các khu vực dân cư, đô thị lân cận đã được cải thiện, nâng cao một bước. Bên cạnh những việc đã làm được, quá trình khai thác than tại Quảng Ninh cũng còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất an toàn và ảnh hưởng đến môi trường, thể hiện qua đợt mưa lũ lịch sử cuối tháng 7, đầu tháng 8 năm 2015 như: Sạt lở bãi thải, trôi lấp đất đá; bồi lấp sông suối thoát nước, mặt bằng sản xuất, khu dân cư; bụi bẩn từ quá trình vận chuyển, chế biến than, đổ thải đất đá. Xuất phát từ những vấn đề cấp bách như trên, năm 2016 Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam đã giao cho Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV làm chủ đầu tư dự án kết hợp với Công ty Cổ phần Tin học, Công nghệ, Môi 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường – Vinacomin về việc thực hiên dự án trồng rừng cải tạo cảnh quan và môi trường bãi thải Đông Cao Sơn. Sau hơn một năm thực hiện, dự án đã triển khai trồng được gần 80ha cây keo lá tràm (Acacia auriculiformis) trên toàn bộ diện tích bãi thải.

Đến nay dự án vẫn được kéo dài và chưa có đánh giá về khả năng sinh trưởng và phát triển cả cây trồng, khả năng cải tạo đất trên bãi thải cũng như cơ sở khoa học cho các biện pháp kỹ thuật để nâng cao chất lượng phủ xanh bãi thải sau khai thác than. Xuất phát từ những cơ sở trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Đánh giá hiện trạng và khả năng phục hồi thảm thực vật trên bãi thải Đông Cao Sơn, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” 2. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng thảm thực vật trên bãi thải Đông Cao Sơn, Thành phố Cẩm Phả - Đánh giá khả năng phục hồi thảm thực vật trên bãi thải Đông Cao Sơn, Thành phố Cẩm Phả 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu: 1.

Các nghiên cứu về phục hồi thảm thực vật trên bãi thải than trên thế giới Qua một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy các nước có mỏ khai thác khoáng sản, đặc biệt là khai thác than đã và đang rất quan tâm đến các vấn đề trồng loài cây gì, trồng bằng biện pháp nào, cũng như cải tạo đất ở các bãi thải ra sao để nhanh chóng phủ xanh các bãi thải của những khu vực khai thác khoáng sản, khôiphục, hoàn trả lại hệ thực vật rừng ban đầu. Kết quả nghiên cứu chothấy: Ở Mỹ, các nhà khoa học đã tiến hành trồng thí nghiệm 07 loài cây bụi và cây rừng bao gồm Cây tân bì, ô lưu Nga, Silver buffaloberry, Siberian peashrub, mận Mỹ, Ponderosa pine và loài bách xù tại bãi thải ở các mỏ than thuộc vùng đông bắc bang Wyoming nước Mỹ. Kết quả nghiên cứu chothấy: + Tỷ lệ sống sót của cây trồng được tưới nước cao hơn cây không được tưới nước khoảng 14% trong mùa thu năm đầu tiên. Trong mùa đông thì cây được tưới nước có tỷ lệ sống sót cao hơn cây không được tưới nước tới 30%.

Hai năm sau khi ngừng tưới nước các loài cây có quả hình nón chết một nửa, trong khi đó loài cây tân bì chỉ chết có 20%, cây ô lưu Nga, Silver buffaloberry, Siberian peashrubvà mận Mỹ không chết cây nào. + Các loài cây rễ trần càng về sau càng phát triển kém, tỷ lệ cây chết càngcao. Trong các loài cây đã trồng có cây tân bì là có tỷ lệ sống sót cao nhất và phát triển khá nhất. Các loài cây như Ponderosa pine, Silver buffaloberry, Siberian peashrub và mận Mỹ phát triển rất kém trong thời gian mới trồng, tỷ lệ cây chết cao nhất trong năm đầu tiên [42].

Những năm gần đây, công trình nghiên cứu phát triển công nghệ thực vật để xử lý đất bị ô nhiễm cũng đã được thiết lập ở Trung Quốc. Chen và cộng sự đã thành công với các mô hình xử lý đất bị ô nhiễm As bằng loài dương xỉ siêu tích tụ Peteris vittata [45], [46]. Nghiên cứutrồng cỏ trên đất bãi thải bằng biện pháp gieo hạt giống của 29 loài cỏ lâu năm và 2 loài cỏ hai năm trên bãi thải của mỏ than ở hạt Dickinson. Kết quả 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan sát và nghiên cứu trong hai năm cho thấy một số loài khi trồng bằng biện pháp gieo hạt phát triển rất nhanh đó là: Cỏ 3 lá trắng, cam thảo rừng, cây bông tai lá dài.

Một số loài phát triển chậm hơn nhưng vẫn ở mức đạt yêu cầu là cúc tây, bông tai xanh, cỏ 3 lá tím, sao đêm. Các loài khác phát triển chậm hoặc không nảy mầm được do đó, không thể thích hợp với biện pháp gieo hạt trực tiếp. Đối với 29 giống cỏ được gieo hạt trực tiếp, quá trình nảy mầm diễn ra trong một thời gian khá dài, 23 giống cỏ có hạt nảy mầm trong vòng 120 ngày, 6 giống cỏ không nảy mầm khi gieo hạt trên đất bãi thải của mỏ than gồm các loại cỏ như: Penstemon angustifolius, Solidago rigida, Helianthus rinidus, Campanula rotundifolia, Suaeda fruticosa và Lygodesmia juncea. Một số giống cỏ khác cho kết quả nảy mầm đạt yêu cầu.

Một số giống cỏ qua nghiên cứu cho thấy triển vọng khá thích nghi với biện pháp gieo hạt trực tiếp trên các bãi thải của mỏ than đó là: Petalostemum candidum, Ratibida columnifera,Glveyrrhiza lepidota, Liatris punctada Astragalus ceramicus [43]. Mỏ than lộ thiên Hunter Valey – Ôxtrâylia: thực hiện sự kết hợp giữa công tác cải tạo hoàn thổ môi trường ngay từ bước lập dự án đầu tư. Với kế hoạch này đã đem đến thành công và bài học kinh nghiệm cho các dự án khai thác mỏ khác. Mỏ đã mua một vùng đất đệm có giá trị ở xung quanh mỏ và duy trì canh tác ở đó, thường là trong sự kết hợp với các chủ đất truyền thống.

Điều này mang lại sự tín nhiệm từ phía cộng đồng dân cư đồng thời tích luỹ những kinh nghiệm về kỹ thuật canh tác của địa phương để sau này có thể áp dụng vào việc sử dụng các vùng đất hoàn thổ cho sản xuất. Mỏ là người tiên phong trong ngành công nghiệp khai thác than với các kỹ thuật gieo mầm trực tiếp. Mỏ đã sử dụng kỹ thuật gieo mầm trực tiếp các loại cỏ, cây họ đậu nhiều loại cây bản địa vào vật liệu thải ra khi rửa than mà trước đây được xem như một sản phẩm thải. Vật liệu thải ra ở dạng thô có thể được sử dụng thay thế lớp đất mặt hỗ trợ sự nảy mầm của các mầm cây [37].

Các nghiên cứu công tác phục hồi thảm thực vật trên bãi thải than tại Việt Nam. Ở nước ta có một số công trình nghiên cứu về công tác cải tạo, phục hồi bãi thải khai thác than và khoáng sản như các công trình nghiên cứu và một số bài báo 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Theo kết quả nghiên cứu của TS. Trần Minh Đản về thí nghiệm gây trồng thảm thực vật trên bãi thải bờ mỏ lộ thiên đã ngừng hoạt động, nhưsau: - Mùa xuân 1973 đã có thí nghiệm trồng dảnh Lecon trên sườn dốc bãi thảicủaMỏ Vàngdanh,Hàtu,sau6thángcâytrồngđãxanhtốtvàbắtđầupháttriển.

- Năm 1974 tiến hành thí nghiệm gieo trồng Le trên bãi thải đã ngừng hoạtđộng của mỏ than Hà tu, sau 2- 3 tháng hạt Le đã nảy mầm, một năm sau cây Le cao 20 -30 cm, phát triển tương đối tốt. Từ đó tác giả đưa ra kết luậnsau: - Phục hồi thảm thực vật trên các bãi thải mỏ lộ thiên là biện pháp cấp thiết,hiệu quả và triệt để nhất để bảo vệ môi t rường trong khu vực. - Khai thác than ở vùng mỏ Hòn gai, Cẩm phả đã và sẽ chiếm phá nhữngdiện tích đất đai rộng lớn của nông lâm nghiệp, phá hoại các đường giao thông, công trình xây dựng lân cận, phá hoại môi trường sống khu vực lân cận vùng mỏ. Những tác hại này ngày càng phát triển đến mức độ trầm trọng.

Vấn đề phục hồi thảm thực vật trên các bãi thải đất đá mỏ ngày nay càng trở lên cấp thiết [13]. Hiện trạng các bãi thải than trên địa bàn thành phố Cẩm Phả Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có 4 khu vực khai thác than tập trung là Đông Triều, Uông Bí, Hạ Long và Cẩm Phả với tổng sản lượng khai thác đạt trên 45 triệu tấn/năm. Trong đó, diện tích khai thác than lộ thiên khoảng 6.000ha với sản lượng đạt gần 20 triệu tấn/năm, tập trung chủ yếu tại thành phố Cẩm Phả với các mỏ lộ thiên lớn như: Đèo Nai, Cọc Sáu, Cao Sơn. Hầu hết các mỏ than lộ thiên sử dụng hệ thống bãi thải ngoài với công nghệ đổ thải bãi thải cao.

Khối lượng thải lớn nhất tập trung tại vùng Cẩm Phả, khoảng 60 - 70 triệu m3/năm. Các bãi thải của các mỏ than khai thác lộ thiên thường có chiều cao khoảng từ 60 - 150m, có nơi lên tới 250m. Góc dốc sườn bãi thải tương đối lớn (30o - 400). Thành phần trên bãi thải ngoài của các mỏ than thường là các loại đất đá nổ mìn với các cỡ hạt khác nhau và có tính chất rời rạc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ