Tổng quan nghiên cứu

Thống kê từ Ủy ban Đập lớn Thế giới cho thấy trong tổng số hơn 45.000 đập lớn có chiều cao trên 15m tại 140 quốc gia, nguy cơ mất an toàn do mực nước lũ vượt tần suất thiết kế chiếm khoảng 9,35% các sự cố đập. Tại Việt Nam, hồ chứa nước Định Bình trên lưu vực sông Côn thuộc xã Vĩnh Hảo, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định là công trình đầu mối cấp II trọng điểm với dung tích toàn bộ đạt 227 triệu m³, dung tích hữu ích 210 triệu m³ và chiều cao đập lớn nhất 54,30m. Công trình đảm nhận nhiệm vụ đa mục tiêu: cắt giảm lũ chính vụ, chống lũ sớm và lũ muộn với tần suất 10%, cấp nước tưới nông nghiệp cho 15.515 ha đến 34.000 ha, kết hợp phát điện công suất 6,6 MW và xả duy trì dòng chảy môi trường hạ du tối thiểu 3,0 m³/s.

Dưới tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, sự xuất hiện của các trận thiên tai dị thường vượt xa lũ kiểm tra thiết kế đang đặt ra thách thức sống còn đối với công trình thủy công bê tông trọng lực dài 571,0m này. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm tập trung vào việc đánh giá ứng xử thủy lực, tính toán độ ổn định trượt và lật của thân đập khi xuất hiện trận lũ lớn nhất khả năng, đồng thời dự báo kịch bản rủi ro ngập lụt nhằm thiết lập phương án ứng phó khẩn cấp. Phạm vi nghiên cứu bao trùm toàn bộ lưu vực sông Côn với diện tích hứng nước 1.040 km² thông qua chuỗi tài liệu khí tượng thủy văn nhiều năm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học định lượng chuẩn xác, giúp giảm thiểu nguy cơ thảm họa vỡ đập, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản cho hàng trăm nghìn hộ dân vùng hạ du Bình Định.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hai hệ thống lý thuyết nền tảng trong cơ học công trình thủy và thủy văn công trình: lý thuyết cân bằng giới hạn theo tiêu chuẩn phá hoại Mohr-Coulomb và phương pháp trạng thái giới hạn quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 04-05:2012/BNNPTNT. Các mô hình này cho phép phân tích chi tiết ứng suất đáy móng, kiểm tra điều kiện chống trượt phẳng dọc theo mặt tiếp xúc bê tông - đá móng và trượt gãy phức hợp qua các mặt xung yếu của địa chất nền. Đồng thời, điều kiện chống lật được xác lập nghiêm ngặt qua việc kiểm soát vị trí hợp lực tác dụng luôn nằm trong phạm vi 1/3 lõi giữa của tiết diện đáy đập.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Lượng mưa lớn nhất khả năng (PMP) – tổng lượng mưa lớn nhất về mặt vật lý có thể xảy ra trên lưu vực; Lũ lớn nhất khả năng (PMF) – trận lũ cực hạn hình thành từ tổ hợp khí tượng bất lợi nhất khi độ ẩm lưu vực đã bão hòa; Mực nước dâng gia cường và Lưu lượng xả qua đập tràn đỉnh rộng có bề rộng tràn mở rộng dần theo địa hình khi mực nước hồ vượt qua cao trình đỉnh đập chắn 95,55m.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu đầu vào sử dụng mạng lưới gồm 9 trạm khí tượng thủy văn phân bố trên lưu vực sông Côn, tiêu biểu là trạm Vĩnh Kim với chuỗi số liệu quan trắc lượng mưa 1 ngày lớn nhất liên tục suốt 19 năm từ 1981 đến 1999 và trạm Quy Nhơn với dữ liệu phân phối mưa giờ chi tiết. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm chuỗi số liệu đo đạc lượng mưa 72 giờ của trận mưa lịch sử ngày 11/11/2003 kết hợp các thông số hình thái lòng hồ với quan hệ mực nước - dung tích từ cao trình 65,0m đến 110,0m.

Phương pháp chọn mẫu điển hình khí tượng được áp dụng để xác định hệ số cực đại hóa trận mưa thực đo, từ đó tính chuyển sang mưa PMP thời đoạn ngắn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích mô phỏng số thông qua phần mềm chuyên dụng LTK05 và thuật toán lặp lập trình trên nền tảng Visual Basic 6.0 là nhằm giải quyết triệt để hệ phương trình vi phân cân bằng nước kết hợp phương trình động lực dòng chảy. Thuật toán này cho phép đưa trực tiếp đường cong quan hệ thực nghiệm lưu lượng - mực nước vào tính toán diễn toán lũ, khắc phục hoàn toàn nhược điểm dùng hệ số lưu lượng cố định của các phần mềm truyền thống khi xuất hiện dòng tràn qua đỉnh đập dâng chắn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích thủy văn xác định tổng lượng mưa PMP 72 giờ trên lưu vực hồ Định Bình đạt mức 1.724 mm, trong đó lượng mưa cực hạn tập trung trong 1 ngày lên tới 1.235 mm. Quá trình diễn toán mưa dòng chảy bằng mô hình toán cho kết quả đỉnh lũ cực hạn PMF đổ về hồ đạt 21.275 m³/s. Trị số này gấp 2,61 lần lưu lượng lũ thiết kế tần suất 0,5% (8.130 m³/s) và gấp 2,20 lần lưu lượng lũ kiểm tra tần suất 0,1% (9.690 m³/s).

Quá trình điều tiết lũ PMF với mực nước hồ ban đầu ở cao trình mực nước trước lũ 65,0m cho thấy mực nước hồ dâng cao nhất lên đến cao trình 98,0m. Mức nước này vượt đỉnh đập không tràn hiện hữu (cao trình 95,55m) một khoảng 2,45m, dẫn tới tổng lưu lượng xả cực đại qua các công trình xả mặt, xả đáy và tràn qua đỉnh đập lên tới 18.508 m³/s. Kiểm tra ổn định cơ học tại mặt cắt 12 (đập tràn) và mặt cắt 18 (đập dâng chắn) chứng minh: dưới tổ hợp tải trọng đặc biệt khi mực nước thượng lưu ở 98,0m và mực nước hạ lưu dâng lên 67,3m, thân đập bê tông trọng lực vẫn giữ được ổn định trượt và lật tổng thể nhờ cấu tạo nền đá tốt, nhưng mái đất đắp hạ lưu tại mặt cắt 18 đứng trước nguy cơ xói trôi nghiêm trọng.

Thảo luận kết quả

Tỷ số lưu lượng đỉnh lũ PMF trên lũ kiểm tra tần suất 0,1% của hồ Định Bình đạt 2,20, hoàn toàn tương thích và đồng nhất với tỷ số tính toán tại các công trình thủy điện lớn như Thủy điện Sơn La (2,10) và Thủy điện Trung Sơn (2,32). Toàn bộ diễn biến thủy lực được trực quan hóa qua hệ thống bảng biểu số liệu xả lũ và đồ thị quan hệ mực nước - dung tích lòng hồ cùng đường quá trình lũ PMF theo 110 bước thời gian, phản ánh chân thực động thái gia tăng áp lực nước lên công trình đầu mối.

Khi lưu lượng xả đạt đỉnh 18.508 m³/s, sự gia tăng đột ngột của mực nước hạ lưu vượt ngưỡng 67,0m tạo ra chênh lệch áp lực thủy tĩnh lớn và vùng xoáy nước vận tốc cao sau tiêu năng. Biểu đồ ứng suất đáy móng thể hiện rõ sự phân bố lại tải trọng, nếu không có giải pháp xả sự cố để hạ thấp mực nước thượng lưu từ 98,0m xuống dưới đỉnh đập, dòng chảy tràn qua đỉnh với cột nước 2,45m sẽ phá hủy các hạng mục phụ trợ, nhà máy thủy điện công suất 6,6 MW và gây xói lở chân khay tiếp giáp hạ lưu đập.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm triệt tiêu nguy cơ mất an toàn đập Định Bình trước các đợt lũ cực hạn, hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản trị cần được triển khai đồng bộ:

  • Xây dựng công trình đập tràn sự cố theo Phương án 2 bố trí dốc nước và máng phun tiêu năng hố xói, đảm bảo năng lực tháo lũ bổ sung tối thiểu 3.500 m³/s để khống chế mực nước hồ không vượt quá cao trình đỉnh đập 95,55m. Ban Quản lý Đầu tư và Xây dựng Thủy lợi chủ trì thực hiện, hoàn tất thẩm định và thi công trong lộ trình 24 tháng.
  • Gia cố kết cấu mái đất đắp và chân khay hạ lưu tại mặt cắt 18 bằng khung bê tông cốt thép kết hợp đá hộc lát khan chiều dày 0,5m nhằm chống xói lở cục bộ khi chịu tác động của dòng chảy tràn vận tốc trên 12 m/s. Đơn vị quản lý khai thác công trình hoàn thành trước mùa mưa bão năm 2014.
  • Nâng cấp phần mềm điều tiết lũ thời gian thực có tích hợp thuật toán giải lặp quan hệ lưu lượng - mực nước tràn đỉnh, hỗ trợ kíp trực vận hành đưa ra quyết định đóng mở 6 cửa xả mặt và 6 cửa xả đáy chính xác 100% trong vòng 15 phút từ khi nhận dự báo.
  • Thiết lập quy chế vận hành liên hồ chứa lưu vực sông Côn và xây dựng bản đồ ngập lụt số hóa vùng hạ du chi tiết đến từng xã, cung cấp kịch bản cảnh báo sớm trước 6 đến 12 giờ. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành và diễn tập ứng phó định kỳ hàng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và phương pháp luận của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng:

  • Kỹ sư thiết kế và tư vấn công trình thủy nông - thủy điện: Vận dụng quy trình tính toán mưa cực hạn PMP, lũ PMF và thuật toán điều tiết lũ tràn đỉnh để tối ưu hóa kích thước đập tràn và công trình xả sự cố cho các dự án hồ chứa cấp I, cấp II.
  • Đơn vị quản lý và khai thác công trình thủy lợi: Tiếp cận phương pháp kiểm tra ổn định đập bê tông trọng lực theo QCVN 04-05:2012/BNNPTNT dưới tổ hợp tải trọng đặc biệt, nâng cao năng lực kiểm định an toàn đập định kỳ.
  • Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn các cấp: Ứng dụng số liệu mô phỏng ngập lụt hạ du và các kịch bản xả lũ khẩn cấp để xây dựng phương án sơ tán dân cư, bảo vệ an toàn các vùng trọng điểm kinh tế.
  • Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xây dựng Công trình Thủy: Sử dụng tài liệu như một nghiên cứu điển hình hoàn chỉnh về tính toán thủy văn cực hạn, mô hình hóa tương tác dòng chảy và kết cấu công trình đầu mối.

Câu hỏi thường gặp

Lũ cực hạn PMF khác biệt như thế nào so với lũ thiết kế thông thường của hồ Định Bình?
Lũ thiết kế của hồ Định Bình được tính theo tần suất thống kê 0,5% với đỉnh lũ 8.130 m³/s. Ngược lại, lũ cực hạn PMF là kịch bản giới hạn vật lý hình thành từ lượng mưa PMP 72 giờ đạt 1.724 mm, tạo đỉnh lũ lên tới 21.275 m³/s, tức gấp 2,61 lần lũ thiết kế.

Nguyên nhân chính khiến mực nước hồ Định Bình vượt đỉnh đập dâng chắn là gì?
Khi xuất hiện lũ PMF, tổng dung tích xả qua 6 cửa tràn mặt và 6 cửa xả đáy không đủ đáp ứng lưu lượng lũ đổ về hồ cực đại 21.275 m³/s, khiến mực nước dâng lên cao độ 98,0m, vượt cao trình đỉnh đập 95,55m một khoảng 2,45m.

Tại sao tỷ số PMF trên lũ kiểm tra 0,1% bằng 2,20 lại được đánh giá là đáng tin cậy?
Tỷ số 2,20 của hồ Định Bình có sự tương đồng chặt chẽ với hệ số tính toán tại các công trình thủy điện lớn đã được phê duyệt cấp quốc gia như Thủy điện Sơn La (2,10) và Thủy điện Trung Sơn (2,32), bảo đảm độ tin cậy khoa học cao.

Giải pháp công trình nào tối ưu nhất để bảo vệ an toàn thân đập khi gặp lũ cực hạn?
Bố trí đập tràn sự cố Phương án 2 kết hợp dốc nước và máng phun tiêu năng hố xói, kết hợp gia cố khung bê tông cốt thép lát đá mái đất đắp mặt cắt 18 nhằm hạ mực nước hồ về ngưỡng an toàn dưới 95,55m.

Phần mềm xây dựng trong luận văn có ưu điểm gì vượt trội so với các công cụ điều tiết lũ cũ?
Phần mềm lập trình bằng Visual Basic 6.0 giải lặp trực tiếp hệ phương trình cân bằng nước với đường quan hệ lưu lượng thực tế, cho phép tính toán chính xác lưu lượng tràn qua đỉnh đập dâng chắn với bề rộng mở rộng dần theo cao trình.

Kết luận

  • Luận văn xác lập cơ sở khoa học định lượng hoàn chỉnh về mưa cực hạn PMP 1.724 mm và đỉnh lũ PMF 21.275 m³/s cho lưu vực hồ chứa Định Bình.
  • Phát hiện nguy cơ ngập tràn đỉnh đập 2,45m khi mực nước hồ chạm cao trình 98,0m dưới tác động của trận lũ cực hạn.
  • Đánh giá định lượng độ ổn định công trình bê tông trọng lực tại hai mặt cắt điển hình 12 và 18 theo quy chuẩn QCVN 04-05:2012/BNNPTNT.
  • Đề xuất đồng bộ giải pháp công trình tràn sự cố máng phun tiêu năng và giải pháp phi công trình điều tiết liên hồ chứa.
  • Xây dựng thành công phần mềm tính toán điều tiết lũ thích ứng linh hoạt với bài toán nước tràn qua đỉnh đập chắn.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi các cơ quan chuyên trách khẩn trương phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công tràn sự cố và hoàn thiện bản đồ ngập lụt hạ du số hóa trong giai đoạn 2014-2015. Các đơn vị tư vấn và ban quản lý hồ chứa cần chủ động áp dụng quy trình đánh giá an toàn đập theo tiêu chuẩn PMF nhằm chủ động bảo vệ an toàn công trình trước diễn biến cực đoan của biến đổi khí hậu.