ĐẶT VẤN ĐỀ Truyền máu là một biện pháp điều trị và điều trị hỗ trợ cho người bệnh. Máu là một loại chế phẩm đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có một loại thuốc nào có thể thay thế được. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi quốc gia cần phải tiếp nhận được số lượng máu tương đương khoảng 2% dân số của quốc gia đó, thì mới cung cấp đủ máu cho nhu cầu cấp cứu, điều trị và dự phòng. Vì vậy, việc cung cấp máu và chế phẩm máu an toàn là mục tiêu hàng đầu của dịch vụ truyền máu ở mỗi quốc gia.
Một đơn vị máu trước khi được truyền cho người bệnh phải trải qua hàng loạt quá trình từ bước tuyên truyền vận động hiến máu tình nguyện, tiếp nhận đơn vị máu, xét nghiệm sàng lọc, sản xuất, lưu trữ và phân phối đơn vị máu. Trong đó việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đóng vai trò quan trọng góp phần ngăn ngừa lây truyền các bệnh qua đường truyền máu [2]. Các tác nhân lây qua đường truyền máu bao gồm: virút viêm gan B, virút viêm gan C, HIV, CMV, EBV…và HTLV cũng là một trong những tác nhân lây qua đường truyền máu. Theo ước tính có khoảng 20 triệu người nhiễm HTLV-I trên toàn thế giới và có tới (90%) những người nhiễm HTLV-I không có triệu chứng lâm sàng [15].
Nhiễm HTLV-II có liên quan tới chủng tộc và hành vi nguy cơ, tỷ lệ nhiễm cao ở người nghiện chích ma túy. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nước tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu như: Nhật Bản, Mỹ, Canada, Pháp… Tại Việt Nam trước năm 1995 tỷ lệ nhiễm virút Human T-cell lymphotropic (HTLV) trong cộng đồng là tương đối thấp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây có sự gia tăng số lượng bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp (leukemia) dòng T lympho tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (HHTM-TW) theo từng năm thể hiện trong nghiên cứu của các tác giả Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Triệu Vân, Nguyễn Quang Tùng và Bạch Quốc Khánh [8]. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì vậy, để đánh giá được thực trạng và các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm HTLV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm HTLV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam” với hai mục tiêu sau: 1.
Đánh giá được thực trạng tình hình nhiễm HTLV-I/II cũng như tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I/II với virút viêm gan B, virút viêm gan C và HIV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam. Xác định được một số các yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm HTLV-I/II ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về lịch sử truyền máu 1.
Lịch sử truyền máu trên thế giới Ý tưởng truyền máu từ một loài động vật này sang loài động vật khác hay từ động vật sang con người hoặc từ người này sang người khác đã có từ rất xa xưa. Năm 1628, Wiliam Harvey đã khám phá ra sự tuần hoàn máu [7], chính nhờ ý tưởng này đã tạo ra động lực thúc đẩy ngành truyền máu phát triển. Năm 1901, Giáo sư Karl Landsteiner người Áo đã phát minh ra hệ nhóm máu ABO [7]. Đây là một phát minh hết sức vĩ đại và đã mở ra một bước tiến hết sức quan trọng cho lịch sử truyền máu trên thế giới.
Cho tới ngày nay, truyền máu là hoạt động không thể thiếu trong công tác cấp cứu và điều trị cho người bệnh. Lịch sử truyền máu tại Việt Nam Tại Việt Nam, Truyền máu được thực hiện từ thời chiến tranh. Trước năm 1954 cơ sở cung cấp máu đầu tiên do quân đội Pháp thành lập và trường hợp truyền máu đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện Đồn Thủy. Từ năm 1954 sau khi hoà bình được lập lại, Bệnh viện Đồn Thủy được Nhà nước ta tiếp quản và đổi tên thành Quân Y viện 108, ngày nay gọi là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 [7].
Năm 1956, Bệnh viện Việt Đức đã thành lập khoa “Lấy máu và Truyền máu”. Đến năm 1970, Bệnh viện Bạch Mai đã thành lập khoa “Lấy máu” do GS. Bạch Quốc Tuyên là Chủ nhiệm khoa [7]. Ngày 31 tháng 12 năm 1984, Viện Huyết học và Truyền máu thuộc Bệnh viện Bạch Mai được thành lập.
Đây là cơ quan tham mưu cho Bộ Y tế và chỉ đạo các hoạt động thuộc chuyên ngành Huyết học - Truyền máu trên phạm vi toàn quốc [7]. Quyết định số 31/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 03 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế [7]. Đây là một bước tiến vượt bậc của chuyên ngành Huyết học - Truyền máu tại Việt Nam. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2016, cả nước tiếp nhận được 1.986 lượt hiến máu và các thành phần máu đạt tỷ lệ 1,28% trên dân số toàn quốc (với dân số ước tính năm 2016 là 92.000 người), trong đó lượng máu tiếp nhận từ người tình nguyện đạt 97,6% [4].
Tổng quan về các tác nhân lây qua đƣờng truyền máu Truyền máu có vai trò thiết yếu trong điều trị và thay thế trong những trường hợp bị mất máu do các chấn thương, phẫu thuật hay một số bệnh nội khoa khác nhằm cứu sống người bệnh. Tuy nhiên truyền máu cũng có thể gây ra các tai biến trong đó có các bệnh lây qua đường truyền máu, nếu việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu không được tuân thủ. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu trên thế giới Bên cạnh những thành công về việc phát hiện ra hệ thống nhóm máu ABO góp phần đảm bảo an toàn truyền máu, từ năm 1950 đã có những phát hiện về bệnh lây qua đường truyền máu [6]. Năm 1943, Beeson đã mô tả một bệnh nhân bị viêm gan B sau truyền máu và thấy rằng số lượng đơn vị máu truyền càng nhiều thì khả năng mắc càng cao [68].
Đây cũng là tiền đề cho việc nghiên cứu về các virút lây qua đường truyền máu. Cũng trong khoảng thời gian này hàng loạt các virút được phát hiện như: HBV, HCV, HIV…[68]. Năm 1965, Blumberg và cộng sự lần đầu tiên miêu tả kháng nguyên Australia và cho rằng kháng nguyên này có thể được phát hiện trong huyết tương của bệnh nhân Hemophilia được truyền máu nhiều lần [17]. Năm 1970, nhà bác học Dane và cộng sự đã phân lập được viút viêm gan B hoàn chỉnh gọi là thể Dane [6].
Từ đó việc sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu bắt đầu được thực hiện từ năm 1971, kỹ thuật ban đầu được sử dụng là kỹ thuật khuếch tán trên gel thạch. Năm 1980, bắt đầu sử dụng kỹ thuật ELISA để sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu [14]. Năm 1988, Houghton và Ezzel đã phân lập được virút viêm gan C và năm 1989 ông cũng là người nghiên cứu thành công việc sản xuất kít ELISA để chẩn đoán tình trạng nhiễm virút viêm gan C [14]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1998, các Quốc gia như Đức, Anh, Pháp và Mỹ đã tiến hành xét nghiệm sàng lọc virút viêm gan C cho đơn vị máu cùng với virút viêm gan B và HIV [6].
Năm 1981, Michael Goleb đã mô tả bệnh nhân đầu tiên bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người [43]. Năm 1984, Montagner và Gallo đã phân lập được HIV và đồng thời cũng xác định được đường lây truyền của HIV trong đó có nguyên nhân do bệnh nhân đã được truyền những đơn vị máu không được xét nghiệm sàng lọc HIV. Từ đó vấn đề xét nghiệm sàng lọc HIV cho đơn vị máu trở thành yêu cầu bắt buộc [6]. Năm 1999, FDA đã cho phép sử dụng kỹ thuật NAT trong xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu để phát hiện HBV, HCV, HIV tại Mỹ [39], nhờ ứng dụng kỹ thuật NAT đã góp phần rút ngắn được giai đoạn cửa sổ đối với HBV, HCV, HIV ngay tại thời điểm đó các kỹ thuật huyết thanh học chưa phát hiện được [53].
Xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu được thực hiện vào năm 1986 tại Nhật Bản. Nối tiếp Nhật Bản, Mỹ tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II vào cuối năm 1988 và đã mang lại được hiệu quả trong việc làm giảm sự lây truyền HTLV-I/II qua đường truyền máu [72]. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu tại Việt Nam Trong những năm vừa qua, công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đã có những bước tiến vượt bậc, bắt đầu từ năm 1973 đã ứng dụng kỹ thuật điện di khuếch tán trên gel thạch để phát hiện kháng nguyên HBsAg, năm 1987 tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBsAg và HIV bằng kỹ thuật ELISA. Năm 1994, đã tiến hành xét nghiệm đồng thời HBV, HCV, HIV bằng kỹ thuật ELISA [13].
Năm 2011, đã ứng dụng kỹ thuật miễn dịch hóa phát quang, sử dụng các hệ thống máy xét nghiệm tự động hoàn toàn để tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu, qua đó đã rút ngắn được thời gian thực hiện xét nghiệm và đồng thời cũng làm giảm được các sai sót trong quá trình thực hiện xét nghiệm. Năm 2015, được coi là năm tạo được bước đột phá trong công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu với việc ứng dụng kỹ thuật NAT. Việc ứng dụng kỹ thuật NAT đã mở ra kỷ nguyên mới trong công tác đảm bảo an toàn truyền máu góp phần 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rút ngắn giai đoạn cửa sổ. Đối với HBV nếu sử dụng kỹ thuật huyết thanh học phát hiện được HBsAg ở ngày thứ 59 thì khi sử dụng kỹ thuật NAT đã phát hiện được ở ngày thứ 34, tương tự đối với HCV cũng giảm từ 82 ngày xuống còn 23 ngày và HIV giảm từ 21 ngày xuống còn 11 ngày [53].
Hiện nay theo quy định tại Thông tư số 26/2013/TT/BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu thì xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II chưa yêu cầu bắt buộc phải thực hiện như xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu [2]. Tổng quan về Human T-cell lymphotropic virus (HTLV) 1. Cấu trúc HTLV có cấu trúc tương tự như HIV, bao gồm lớp vỏ ngoài cùng với những chân gai có tác dụng bám dính lên bề mặt tế bào đích, sau đó đến lớp vỏ nhân và trong cùng là nhân virút gồm RNA, enzym sao chép ngược, protease [18]. Sơ đồ cấu trúc của virút 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Genome của HTLV là ARN sợi đơn dương với enzym phiên mã ngược.