Đánh Giá Thực Trạng Nhiễm Human T-Cell Lymphotropic Virus (HTLV) Ở Người Hiến Máu Tại Việt Nam

Luận văn thạc sĩ đánh giá tình hình nhiễm HTLV ở người hiến máu tại Việt Nam, phân tích các yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Vi Sinh Vật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2017

80
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về lịch sử truyền máu

1.1.1. Lịch sử truyền máu trên thế giới

1.1.2. Lịch sử truyền máu tại Việt Nam

1.2. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu

1.2.1. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu trên thế giới

1.2.2. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu tại Việt Nam

1.3. Tổng quan về Human T-cell lymphotropic virus (HTLV)

1.3.1. Cấu trúc HTLV

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Địa điểm nghiên cứu

2.2. Thời gian nghiên cứu

2.3. Đối tượng nghiên cứu

2.3.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

2.3.2. Tiêu chuẩn loại trừ

2.3.3. Giải thích từ ngữ

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Thiết kế nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp chọn mẫu

2.4.3. Trang thiết bị, vật liệu, sinh phẩm

2.4.3.1. Trang thiết bị
2.4.3.2. Vật liệu nghiên cứu

2.4.4. Kỹ thuật sử dụng trong nghiên cứu

2.4.4.1. Nguyên lý kỹ thuật
2.4.4.2. Các hóa chất sử dụng
2.4.4.3. Các bước thực hiện kỹ thuật
2.4.4.4. Cách biện luận kết quả

2.4.5. Xử lý số liệu

2.4.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đặc điểm của người hiến máu bình thường

3.1.1.1. Đặc điểm về tuổi của người hiến máu bình thường
3.1.1.2. Đặc điểm về giới tính của người hiến máu bình thường
3.1.1.3. Đặc điểm về số lần hiến máu của người hiến máu bình thường
3.1.1.4. Đặc điểm nghề nghiệp của người hiến máu bình thường
3.1.1.5. Đặc điểm về nhóm máu ABO của người hiến máu bình thường
3.1.1.6. Đặc điểm về địa dư của người hiến máu bình thường

3.1.2. Đặc điểm của người hiến máu có đồng nhiễm viêm gan B hoặc viêm gan C hoặc HIV

3.1.2.1. Đặc điểm về tuổi của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV
3.1.2.2. Đặc điểm về giới tính của người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV
3.1.2.3. Đặc điểm về số lần hiến máu của người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV
3.1.2.4. Đặc điểm về nghề nghiệp của người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV
3.1.2.5. Đặc điểm về nhóm máu của người hiến máu có đồng nhiễm HBV hoặc HCV hoặc HIV
3.1.2.6. Đặc điểm về địa dư của người người hiến máu có đồng nhiễm với HBV hoặc HCV hoặc HIV

3.2. Thực trạng nhiễm Human T-cell Lymphotropic virus (HTLV) ở người hiến máu bình thường

3.2.1. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường

3.2.2. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm tuổi

3.2.3. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo giới tính

3.2.4. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo số lần hiến máu

3.2.5. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo nhóm nghề nghiệp

3.2.6. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo hệ nhóm máu ABO

3.2.7. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu bình thường theo yếu tố địa dư

3.3. Thực trạng nhiễm Human T-cell Lymphotropic virus (HTLV) và đồng nhiễm với virút viêm gan B hoặc virút viêm gan C hoặc HIV

3.3.1. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu

3.3.2. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có đồng nhiễm với HCV

3.3.3. Tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có đồng nhiễm với HIV

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu Tại Việt Nam

Nhiễm HTLV (Human T-cell Lymphotropic Virus) là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng, đặc biệt trong bối cảnh người hiến máu. Tại Việt Nam, việc đánh giá tình trạng nhiễm HTLV ở người hiến máu là cần thiết để đảm bảo an toàn cho nguồn máu. Theo nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, điều này đặt ra thách thức lớn cho ngành y tế. Việc hiểu rõ về tình trạng nhiễm HTLV sẽ giúp cải thiện quy trình xét nghiệm và sàng lọc máu, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

1.1. Tình Trạng Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu Tại Việt Nam

Theo các nghiên cứu gần đây, tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II có thể lên tới 5% trong một số nhóm dân cư. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp sàng lọc hiệu quả hơn để phát hiện sớm và ngăn ngừa lây truyền.

1.2. Các Yếu Tố Liên Quan Đến Nhiễm HTLV

Nhiễm HTLV có thể liên quan đến nhiều yếu tố như giới tính, độ tuổi, và hành vi nguy cơ. Nghiên cứu cho thấy rằng nam giới có tỷ lệ nhiễm cao hơn so với nữ giới. Ngoài ra, những người có tiền sử sử dụng ma túy tiêm chích cũng có nguy cơ cao hơn. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp xây dựng các chương trình can thiệp hiệu quả.

II. Vấn Đề Nghiêm Trọng Về Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu

Nhiễm HTLV không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người hiến máu mà còn có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho người nhận máu. Virus này có thể dẫn đến các bệnh lý như bệnh bạch cầu cấp dòng T lympho và bệnh viêm tủy sống. Do đó, việc phát hiện và quản lý nhiễm HTLV là rất quan trọng trong công tác truyền máu.

2.1. Tác Động Của Nhiễm HTLV Đến Sức Khỏe

Nhiễm HTLV có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng, bao gồm bệnh bạch cầu và các rối loạn miễn dịch. Những người nhiễm HTLV thường không có triệu chứng trong thời gian đầu, nhưng có thể phát triển các bệnh lý nghiêm trọng sau này. Việc phát hiện sớm có thể giúp giảm thiểu rủi ro cho người nhận máu.

2.2. Thách Thức Trong Công Tác Sàng Lọc Máu

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong công tác sàng lọc máu, nhưng việc phát hiện nhiễm HTLV vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các phương pháp xét nghiệm hiện tại chưa được áp dụng rộng rãi, dẫn đến nguy cơ lây truyền virus qua đường truyền máu. Cần có các biện pháp cải thiện quy trình sàng lọc để đảm bảo an toàn cho người nhận máu.

III. Phương Pháp Xét Nghiệm Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu

Để đánh giá tình trạng nhiễm HTLV, các phương pháp xét nghiệm hiện đại đã được áp dụng. Các kỹ thuật như ELISA và NAT (Nucleic Acid Testing) đã cho thấy hiệu quả cao trong việc phát hiện virus. Việc áp dụng các phương pháp này sẽ giúp nâng cao độ chính xác trong việc sàng lọc máu.

3.1. Kỹ Thuật ELISA Trong Phát Hiện HTLV

Kỹ thuật ELISA là một trong những phương pháp phổ biến nhất để phát hiện kháng thể chống lại HTLV. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp phát hiện sớm nhiễm HTLV ở người hiến máu. Tuy nhiên, cần phải kết hợp với các phương pháp khác để đảm bảo độ chính xác.

3.2. Ứng Dụng Kỹ Thuật NAT Trong Sàng Lọc Máu

Kỹ thuật NAT cho phép phát hiện virus trong giai đoạn cửa sổ, khi mà các phương pháp huyết thanh học chưa thể phát hiện được. Việc áp dụng NAT trong sàng lọc máu đã giúp giảm thiểu rủi ro lây truyền HTLV qua đường truyền máu, từ đó bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu tại Việt Nam có sự gia tăng đáng kể. Kết quả này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu nguy cơ lây truyền. Việc theo dõi và đánh giá thường xuyên tình trạng nhiễm HTLV sẽ giúp cải thiện chất lượng nguồn máu.

4.1. Tỷ Lệ Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu

Theo các nghiên cứu, tỷ lệ nhiễm HTLV-I/II ở người hiến máu có thể dao động từ 1% đến 5%, tùy thuộc vào khu vực và nhóm đối tượng. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình sàng lọc hiệu quả hơn để phát hiện sớm và ngăn ngừa lây truyền.

4.2. Kết Quả Từ Các Nghiên Cứu Trên Toàn Quốc

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên toàn quốc để đánh giá tình trạng nhiễm HTLV. Kết quả cho thấy rằng các khu vực có tỷ lệ nhiễm cao thường liên quan đến các yếu tố như hành vi nguy cơ và điều kiện sống. Việc phân tích dữ liệu này sẽ giúp xây dựng các chiến lược can thiệp hiệu quả.

V. Kết Luận Về Nhiễm HTLV Ở Người Hiến Máu Tại Việt Nam

Nhiễm HTLV là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng tại Việt Nam. Việc đánh giá và quản lý tình trạng nhiễm HTLV ở người hiến máu là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho nguồn máu. Cần có các biện pháp can thiệp kịp thời và hiệu quả để giảm thiểu nguy cơ lây truyền.

5.1. Tương Lai Của Công Tác Sàng Lọc Máu

Trong tương lai, việc áp dụng các công nghệ mới trong sàng lọc máu sẽ giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong việc phát hiện nhiễm HTLV. Cần có sự đầu tư và nghiên cứu để phát triển các phương pháp xét nghiệm tiên tiến hơn.

5.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Can Thiệp

Cần xây dựng các chương trình giáo dục cộng đồng về nguy cơ nhiễm HTLV và tầm quan trọng của việc hiến máu an toàn. Đồng thời, cần có các chính sách hỗ trợ cho việc sàng lọc HTLV trong các đơn vị máu để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus đánh giá thực trạng và nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm htlv human t cell lymphotropic virus ở đối tượng người hiến máu tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Truyền máu là một biện pháp điều trị và điều trị hỗ trợ cho người bệnh. Máu là một loại chế phẩm đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có một loại thuốc nào có thể thay thế được. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi quốc gia cần phải tiếp nhận được số lượng máu tương đương khoảng 2% dân số của quốc gia đó, thì mới cung cấp đủ máu cho nhu cầu cấp cứu, điều trị và dự phòng. Vì vậy, việc cung cấp máu và chế phẩm máu an toàn là mục tiêu hàng đầu của dịch vụ truyền máu ở mỗi quốc gia.

Một đơn vị máu trước khi được truyền cho người bệnh phải trải qua hàng loạt quá trình từ bước tuyên truyền vận động hiến máu tình nguyện, tiếp nhận đơn vị máu, xét nghiệm sàng lọc, sản xuất, lưu trữ và phân phối đơn vị máu. Trong đó việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đóng vai trò quan trọng góp phần ngăn ngừa lây truyền các bệnh qua đường truyền máu [2]. Các tác nhân lây qua đường truyền máu bao gồm: virút viêm gan B, virút viêm gan C, HIV, CMV, EBV…và HTLV cũng là một trong những tác nhân lây qua đường truyền máu. Theo ước tính có khoảng 20 triệu người nhiễm HTLV-I trên toàn thế giới và có tới (90%) những người nhiễm HTLV-I không có triệu chứng lâm sàng [15].

Nhiễm HTLV-II có liên quan tới chủng tộc và hành vi nguy cơ, tỷ lệ nhiễm cao ở người nghiện chích ma túy. Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nước tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu như: Nhật Bản, Mỹ, Canada, Pháp… Tại Việt Nam trước năm 1995 tỷ lệ nhiễm virút Human T-cell lymphotropic (HTLV) trong cộng đồng là tương đối thấp. Tuy nhiên, trong những năm gần đây có sự gia tăng số lượng bệnh nhân bị bệnh bạch cầu cấp (leukemia) dòng T lympho tại Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương (HHTM-TW) theo từng năm thể hiện trong nghiên cứu của các tác giả Đỗ Trung Phấn, Nguyễn Triệu Vân, Nguyễn Quang Tùng và Bạch Quốc Khánh [8]. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chính vì vậy, để đánh giá được thực trạng và các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm HTLV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá thực trạng và nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tình hình nhiễm HTLV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam” với hai mục tiêu sau: 1.

Đánh giá được thực trạng tình hình nhiễm HTLV-I/II cũng như tỷ lệ đồng nhiễm HTLV-I/II với virút viêm gan B, virút viêm gan C và HIV ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam. Xác định được một số các yếu tố liên quan đến thực trạng nhiễm HTLV-I/II ở đối tượng người hiến máu tại Việt Nam. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về lịch sử truyền máu 1.

Lịch sử truyền máu trên thế giới Ý tưởng truyền máu từ một loài động vật này sang loài động vật khác hay từ động vật sang con người hoặc từ người này sang người khác đã có từ rất xa xưa. Năm 1628, Wiliam Harvey đã khám phá ra sự tuần hoàn máu [7], chính nhờ ý tưởng này đã tạo ra động lực thúc đẩy ngành truyền máu phát triển. Năm 1901, Giáo sư Karl Landsteiner người Áo đã phát minh ra hệ nhóm máu ABO [7]. Đây là một phát minh hết sức vĩ đại và đã mở ra một bước tiến hết sức quan trọng cho lịch sử truyền máu trên thế giới.

Cho tới ngày nay, truyền máu là hoạt động không thể thiếu trong công tác cấp cứu và điều trị cho người bệnh. Lịch sử truyền máu tại Việt Nam Tại Việt Nam, Truyền máu được thực hiện từ thời chiến tranh. Trước năm 1954 cơ sở cung cấp máu đầu tiên do quân đội Pháp thành lập và trường hợp truyền máu đầu tiên được thực hiện tại Bệnh viện Đồn Thủy. Từ năm 1954 sau khi hoà bình được lập lại, Bệnh viện Đồn Thủy được Nhà nước ta tiếp quản và đổi tên thành Quân Y viện 108, ngày nay gọi là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 [7].

Năm 1956, Bệnh viện Việt Đức đã thành lập khoa “Lấy máu và Truyền máu”. Đến năm 1970, Bệnh viện Bạch Mai đã thành lập khoa “Lấy máu” do GS. Bạch Quốc Tuyên là Chủ nhiệm khoa [7]. Ngày 31 tháng 12 năm 1984, Viện Huyết học và Truyền máu thuộc Bệnh viện Bạch Mai được thành lập.

Đây là cơ quan tham mưu cho Bộ Y tế và chỉ đạo các hoạt động thuộc chuyên ngành Huyết học - Truyền máu trên phạm vi toàn quốc [7]. Quyết định số 31/2004/QĐ-TTg ngày 08 tháng 03 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Viện Huyết học - Truyền máu Trung ương trực thuộc Bộ Y tế [7]. Đây là một bước tiến vượt bậc của chuyên ngành Huyết học - Truyền máu tại Việt Nam. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 2016, cả nước tiếp nhận được 1.986 lượt hiến máu và các thành phần máu đạt tỷ lệ 1,28% trên dân số toàn quốc (với dân số ước tính năm 2016 là 92.000 người), trong đó lượng máu tiếp nhận từ người tình nguyện đạt 97,6% [4].

Tổng quan về các tác nhân lây qua đƣờng truyền máu Truyền máu có vai trò thiết yếu trong điều trị và thay thế trong những trường hợp bị mất máu do các chấn thương, phẫu thuật hay một số bệnh nội khoa khác nhằm cứu sống người bệnh. Tuy nhiên truyền máu cũng có thể gây ra các tai biến trong đó có các bệnh lây qua đường truyền máu, nếu việc xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu không được tuân thủ. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu trên thế giới Bên cạnh những thành công về việc phát hiện ra hệ thống nhóm máu ABO góp phần đảm bảo an toàn truyền máu, từ năm 1950 đã có những phát hiện về bệnh lây qua đường truyền máu [6]. Năm 1943, Beeson đã mô tả một bệnh nhân bị viêm gan B sau truyền máu và thấy rằng số lượng đơn vị máu truyền càng nhiều thì khả năng mắc càng cao [68].

Đây cũng là tiền đề cho việc nghiên cứu về các virút lây qua đường truyền máu. Cũng trong khoảng thời gian này hàng loạt các virút được phát hiện như: HBV, HCV, HIV…[68]. Năm 1965, Blumberg và cộng sự lần đầu tiên miêu tả kháng nguyên Australia và cho rằng kháng nguyên này có thể được phát hiện trong huyết tương của bệnh nhân Hemophilia được truyền máu nhiều lần [17]. Năm 1970, nhà bác học Dane và cộng sự đã phân lập được viút viêm gan B hoàn chỉnh gọi là thể Dane [6].

Từ đó việc sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu bắt đầu được thực hiện từ năm 1971, kỹ thuật ban đầu được sử dụng là kỹ thuật khuếch tán trên gel thạch. Năm 1980, bắt đầu sử dụng kỹ thuật ELISA để sàng lọc HBsAg cho đơn vị máu [14]. Năm 1988, Houghton và Ezzel đã phân lập được virút viêm gan C và năm 1989 ông cũng là người nghiên cứu thành công việc sản xuất kít ELISA để chẩn đoán tình trạng nhiễm virút viêm gan C [14]. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1998, các Quốc gia như Đức, Anh, Pháp và Mỹ đã tiến hành xét nghiệm sàng lọc virút viêm gan C cho đơn vị máu cùng với virút viêm gan B và HIV [6].

Năm 1981, Michael Goleb đã mô tả bệnh nhân đầu tiên bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người [43]. Năm 1984, Montagner và Gallo đã phân lập được HIV và đồng thời cũng xác định được đường lây truyền của HIV trong đó có nguyên nhân do bệnh nhân đã được truyền những đơn vị máu không được xét nghiệm sàng lọc HIV. Từ đó vấn đề xét nghiệm sàng lọc HIV cho đơn vị máu trở thành yêu cầu bắt buộc [6]. Năm 1999, FDA đã cho phép sử dụng kỹ thuật NAT trong xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu để phát hiện HBV, HCV, HIV tại Mỹ [39], nhờ ứng dụng kỹ thuật NAT đã góp phần rút ngắn được giai đoạn cửa sổ đối với HBV, HCV, HIV ngay tại thời điểm đó các kỹ thuật huyết thanh học chưa phát hiện được [53].

Xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II cho đơn vị máu được thực hiện vào năm 1986 tại Nhật Bản. Nối tiếp Nhật Bản, Mỹ tiến hành xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II vào cuối năm 1988 và đã mang lại được hiệu quả trong việc làm giảm sự lây truyền HTLV-I/II qua đường truyền máu [72]. Tổng quan về các tác nhân lây qua đường truyền máu tại Việt Nam Trong những năm vừa qua, công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu đã có những bước tiến vượt bậc, bắt đầu từ năm 1973 đã ứng dụng kỹ thuật điện di khuếch tán trên gel thạch để phát hiện kháng nguyên HBsAg, năm 1987 tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBsAg và HIV bằng kỹ thuật ELISA. Năm 1994, đã tiến hành xét nghiệm đồng thời HBV, HCV, HIV bằng kỹ thuật ELISA [13].

Năm 2011, đã ứng dụng kỹ thuật miễn dịch hóa phát quang, sử dụng các hệ thống máy xét nghiệm tự động hoàn toàn để tiến hành xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu, qua đó đã rút ngắn được thời gian thực hiện xét nghiệm và đồng thời cũng làm giảm được các sai sót trong quá trình thực hiện xét nghiệm. Năm 2015, được coi là năm tạo được bước đột phá trong công tác xét nghiệm sàng lọc cho đơn vị máu với việc ứng dụng kỹ thuật NAT. Việc ứng dụng kỹ thuật NAT đã mở ra kỷ nguyên mới trong công tác đảm bảo an toàn truyền máu góp phần 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rút ngắn giai đoạn cửa sổ. Đối với HBV nếu sử dụng kỹ thuật huyết thanh học phát hiện được HBsAg ở ngày thứ 59 thì khi sử dụng kỹ thuật NAT đã phát hiện được ở ngày thứ 34, tương tự đối với HCV cũng giảm từ 82 ngày xuống còn 23 ngày và HIV giảm từ 21 ngày xuống còn 11 ngày [53].

Hiện nay theo quy định tại Thông tư số 26/2013/TT/BYT, Hướng dẫn hoạt động Truyền máu thì xét nghiệm sàng lọc HTLV-I/II chưa yêu cầu bắt buộc phải thực hiện như xét nghiệm sàng lọc HBV, HCV, HIV cho đơn vị máu [2]. Tổng quan về Human T-cell lymphotropic virus (HTLV) 1. Cấu trúc HTLV có cấu trúc tương tự như HIV, bao gồm lớp vỏ ngoài cùng với những chân gai có tác dụng bám dính lên bề mặt tế bào đích, sau đó đến lớp vỏ nhân và trong cùng là nhân virút gồm RNA, enzym sao chép ngược, protease [18]. Sơ đồ cấu trúc của virút 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Genome của HTLV là ARN sợi đơn dương với enzym phiên mã ngược.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ