CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ LƯU VỰC HỆ THỐNG SÔNG CÁI PHAN RANG 1. Giới thiệu Lưu vực sông Cái Phan Rang nằm trong vùng khí hậu khô hạn nhất Việt Nam. Dòng chảy trên lưu vực chịu tác động của nhiều nhân tố bao gồm các nhân tố tự nhiên như khí hậu, địa hình, địa chất, thổ nhưỡng, lớp phủ thực vật… và các nhân tố kinh tế xã hội như dân số, lao động, trình độ văn hóa, hoạt động của các ngành kinh tế trên địa bàn và hiệu quả của công tác quản lý tài nguyên nước…Vì vậy, cần xem xét phân tích các đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội trên lưu vực để đánh giá các khía cạnh ảnh hưởng đến tài nguyên nước. Điều kiện tự nhiên 1.
Vị trí địa lý Lưu vực sông Cái Phan Rang thuộc khu vực Nam Trung bộ Việt Nam có vị trí địa lý vào khoảng 11o23’00” - 12o10’00” vĩ Bắc và 108o20’30” - 109o30’00” kinh Đông, diện tích tự nhiên khoảng 3.043 km² thuộc địa bàn các tỉnh: Ninh Thuận chiếm 82%, Khánh Hoà (11%), Lâm Đồng (6%) và Bình Thuận (2%). Lưu vực sông Cái Phan Rang được liệt kê vào danh mục lưu vực sông liên tỉnh tuy nhiên, phần lớn diện tích lưu vực thuộc địa phận tỉnh Ninh Thuận, và diện tích lưu vực sông Cái chiếm 74% diện tích toàn tỉnh Ninh Thuận, chỉ trừ một số vùng ven biển thuộc các huyện Thuận Bắc, Ninh Hải và Ninh Phước có các sông độc lập chảy thẳng ra biển như: sông Trâu, suối Nước Ngọt, suối Bà Râu, suối Kiền Kiền, suối Vĩnh Hy, suối Quán Thẻ,… Hệ thống sông Cái Phan Rang có dạng hình cành cây với dòng chính sông Cái và nhiều nhánh sông, suối: phía bờ tả đáng kể có sông Sắt, Cho Mo và suối Ngang, phía bờ hữu có sông Ông, sông Cha - Than, sông Quao và sông Lu,… 9 1. Địa hình Lưu vực Sông Cái Phan Rang có địa hình đa dạng: núi cao, đồi thấp và đồng bằng. Địa hình tương đối dốc, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và từ Tây Bắc xuống Đông Nam.
Sông bắt đầu từ sườn Đông của dãy núi Gia Rích với cao độ khoảng 1.923 m giáp ranh với tỉnh Lâm Đồng, sông chảy theo hướng Bắc - Nam đổ ra biển Đông tại vịnh Phan Rang. Chiều dài dòng chính sông Cái khoảng 120 km. Mặt cắt dọc sông Cái có dạng bậc thềm. Ở thượng nguồn sông chảy ven theo các sườn núi cao trên 1.500 m, lòng sông nhiều đá tảng, độ dốc lòng sông lớn, sườn dốc ngắn, đất đai chủ yếu là tổ hợp đất núi Feralít.
Bản đồ địa hình và cao độ Ninh Thuận độ phân giải 30 m x 30m Địa hình núi cao bao bọc gần như toàn bộ lưu vực ở các hướng: phía Bắc là Núi Đào (1.040 m); phía Tây là dãy Nam Trường Sơn với hàng loạt các đỉnh cao hơn 1.500 m, đỉnh Bi - Đúp cao nhất 2.280 m; phía Nam là các núi 10 thấp hơn như Đa Khum (898 m), Cà Ná (644 m). Vùng đồng bằng trũng hạ du có cao độ trên dưới 10 m. Độ cao bình quân lưu vực là 483 m. Đoạn lòng sông chảy qua vùng trung lưu từ Tân Sơn đến Tân Mỹ lưu vực sông mở rộng, độ dốc lòng sông còn cao, lòng sông nhiều đá tảng, một số nơi có các bãi bồi giữa sông như một sự pha trộn giữa kiểu sông miền núi và đồng bằng.
Từ Tân Mỹ về xuôi, sông chảy êm trong một vùng đồi thấp và đồng bằng Phan Rang nhỏ hẹp. Đoạn sông từ Tân Mỹ đến Đồng Mé lòng sông còn có đá lởm chởm, từ Đồng Mé ra biển thì lòng sông đầy bãi cát, có nơi bãi cát rộng tới 300-400 m như ở Phước Thiện, cầu Đạo Long. Thổ nhưỡng Theo Bản đồ sử dụng đất tỷ lệ 1/100.000 năm 2000, tỉnh Ninh Thuận có các nhóm đất chính sau: - Nhóm đất cát ven biển: Phân bố dọc các xã, phường ven biển, có 3 loại đất. Thành phần cơ giới chủ yếu là cát, khả năng giữ nước và dinh dưỡng kém, độ phì nhiêu thấp.
Trên loại đất này có thể khai thác một phần để trồng dừa, điều, còn lại những nơi đất bạc màu, dinh dưỡng kém cần trồng rừng phủ xanh, chống cát bay. - Nhóm đất mặn, phèn: Tập trung chủ yếu ven biển, có 4 loại đất. Đất được hình thành bởi quá trình lắng đọng của các sản phẩm trầm tích, chịu ảnh hưởng của nước biển và các sản phẩm biển. - Nhóm đất phù sa: Phân bố chủ yếu ở hạ lưu các sông, nhất là sông Cái Phan Rang, có 6 loại đất, thích hợp trồng cây lương thực, hoa màu, cỏ chăn nuôi.
- Nhóm đất xám: Phân bố ở bậc thềm chuyển tiếp ở độ cao 50-100 m, có 13 loại đất. Do có độ phì thấp, chua, nghèo mùn nên chỉ thích hợp cho trồng rừng và có thể cải tạo để trồng mía. - Nhóm đất vàng đỏ: Đây là đất có diện tích lớn nhất được phân thành 4 loại. Nhóm đất này có độ phì thấp, tầng canh tác mỏng, độ dốc lớn, ít thuận lợi cho phát triển nông nghiệp.
Cần cải tạo và bảo vệ bằng trồng rừng phủ xanh. - Nhóm đất vàng đỏ trên núi: Phân bố ở độ cao lớn, độ dốc lớn, có 2 loại đất, không sử dụng cho sản xuất nông nghiệp. 11 Theo kết quả nghiên cứu của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận được phân ra 8 nhóm đất cơ bản. Diện tích và tỉ lệ diện tích của các nhóm đất được tổng hợp trong bảng 1.
Tổng hợp diện tích theo các nhóm đất TT Nhóm đất Diện tích (ha) Tỉ lệ (%) 1 Nhóm đất cát 10.353 3,08 2 Nhóm đất mặt 5.531 1,65 3 Nhóm đất phù sa 15.429 8,46 5 Nhóm đất đỏ xám nâu vùng bán khô hạn 231.454 68,89 6 Nhóm đất đỏ vàng 11.733 3,49 7 Nhóm đất trơ sỏi đá.272 5,14 8 Nhóm đất khác 15. Thảm thực vật Lớp phủ thực vật là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến tốc độ dòng chảy, tốc độ thấm và bốc hơi nước trên lưu vực sông. Các loại thực vật trên lưu vực sông Cái Phan Rang được thống kê như sau: Bảng 1. Thảm phủ thực vật của lưu vực sông Cái Phan Rang TT Đối tượng Diện tích (km2) 1 Mặt nước 3.41 2 Rừng lá rộng thường xanh 790.59 3 Rừng lá rộng rụng lá 104.90 4 Cây lấy gỗ 423.99 6 Cây bụi tập trung 83.58 7 Cây bụi phân tán 1.60 12 TT Đối tượng Diện tích (km2) 9 Cây trồng hằng năm 314.70 (Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2010 – 2015) Thảm phủ thực vật nhìn chung nghèo nàn, diện tích rừng tự nhiên thưa, chủ yếu là cỏ xen lùm bụi, cỏ lùm bụi xen cây gỗ rải rác nên không có tác dụng giảm tốc độ tập trung dòng chảy cũng như khả năng thấm để bổ cập nước ngầm.
Khí tượng thủy văn 1. Khí tượng Lưu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng khô hạn nhất Việt Nam với những đặc điểm khí tượng đặc trưng như nắng nóng, độ ẩm thấp, nhiều gió và lượng bốc hơi lớn. * Nhiệt độ Lưu vực sông Cái Phan Rang có nhiệt độ trung bình nhiều năm là 270C. Nhiệt độ cao nhất lên đến 40,50C rơi vào các tháng 5-7 và thấp nhất là 160C vào các tháng 1, 12.
Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 8-100C, và biên độ nhiệt độ ngày trung bình 7-90C. * Gió Lưu vực sông Cái Phan Rang nằm trong khu vực có chế độ gió theo hai hướng chính là Đông Bắc và Tây Nam với tốc độ trung bình năm là 2,6 m/s. Từ tháng 11 đến tháng 3 tốc độ gió cao, đạt giá trị lớn nhất vào khoảng tháng 12 với tốc độ 3,9 m/s. Trong những tháng này, ngoài gió Đông-Bắc thổi về ban ngày thường xuất hiện gió thung lũng về ban đêm theo hướng Tây- Bắc.
Từ tháng 3 trở đi, về ban ngày gió Đông-Nam dần thay thế gió Đông-Bắc, về ban đêm gió thung lũng vẫn chế ngự theo hướng Tây-Bắc. Vận tốc gió thấp nhất trung bình đạt 1,8 m/s vào tháng 9. *Số giờ nắng Lưu vực nghiên cứu nằm sâu trong khu vực nội chí tuyến Bắc bán cầu số giờ nắng trong năm thuộc loại cao nhất cả nước. Số giờ nắng trung bình mùa khô từ 8- 13 10 giờ/ngày và trong mùa mưa 6-7 giờ/ngày.
Từ tháng 1 đến tháng 8 là thời kỳ nhiều nắng và từ tháng 9 đến tháng 12 là thời kỳ ít nắng. Tổng số giờ nắng trong năm rất cao đạt 2.100 giờ/năm, số giờ nắng trung bình ngày là 7,6 giờ. *Độ ẩm Độ ẩm không khí (RH%) trung bình năm trên lưu vực thấp, chỉ khoảng 76%. Vào mùa mưa, độ ẩm đạt 78% (cao nhất 80% vào tháng 10); vào mùa khô, độ ẩm chỉ khoảng 74% (thấp nhất 72% vào tháng 1 và 2).
*Bốc thoát hơi nước Do nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, tốc độ gió lớn và độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc thoát hơi nước lưu vực sông Cái Phan Rang hàng năm rất cao. Lượng bốc thoát hơi đo bằng ống piche tại trạm Phan Rang khoảng 1. Vào các tháng mùa khô, lượng bốc hơi đo được đạt 160-195 mm, thường đạt cực đại vào tháng 1 và giảm còn 108-133 mm trong các tháng mùa mưa và thường đạt cực tiểu vào tháng 10. Chênh lệch lượng bốc thoát hơi nước giữa tháng thấp nhất và cao nhất khoảng 86 mm.
Các đặc trưng khí tượng trung bình tháng nhiều năm tại trạm Phan Rang Đặc trưng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm T (oC) 25 25 27 28 29 29 29 29 28 27 26 25 27,1 u (m/s) 3,7 3,3 2,6 2,2 1,9 1,9 2,4 2,3 1,8 2,0 2,9 3,9 2,6 n (h/ngày) 7,8 9,1 8,9 9,2 8,1 8,1 7,5 7,7 6,6 6,1 6,2 6 7,6 RH (%) 72 72 75 76 77 75 75 76 79 80 78 74 76 E (mm) 195 179 172 154 142 150 156 158 117 109 132 162 1826 Nguồn: Trung tâm khí tượng thủy văn Ninh Thuận) *Lượng mưa Ninh Thuận là tỉnh có lượng mưa trung bình năm thấp nhất trong cả nước, đặc biệt vùng ven biển tổng lượng mưa năm chỉ khoảng 700-1.000 mm, và tăng dần về phía thượng lưu sông Cái Phan Rang đạt khoảng 1. Bên cạnh đó, sự phân bố không đồng đều theo thời gian, khoảng 55-65% lượng mưa năm tập trung 14 vào 4 tháng cuối năm, là thời kỳ mùa mưa ở Ninh Thuận. Ngược lại, trong 8 tháng mùa khô từ tháng 1-8, tổng lượng mưa chỉ bằng khoảng 35-45% lượng mưa cả năm. 250 Lượng mưa (mm) 200 150 100 50 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Tháng Hình 1.
Phân bố lượng mưa trung bình tháng nhiều năm vùng nghiên cứu Bảng 1.