chương 1, tac giả sẽ tién hành tổng quan các nghiên cứu trước đây có liên quan đến đánh giá nghèo đa chiều theo phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững. Từ tổng quan các bài nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả rút ra các chỉ tiêu để làm cơ sở bảng hỏi và khung phân tích ở các chương sau. Cuối cùng, tác giả sẽ tìm hiểu và tổng kết bài học kinh nghiệm về giảm nghèo bền vững theo cách tiếp cận sinh kế bền vững ở các khu vực khác ở Việt Nam, phan này sẽ là cơ sở định hướng các giải pháp dé giảm nghèo bền vững ở Hà Giang. Khái niệm liên quan đến nghèo và sinh kế bền vững 1.
Nghéo và nghèo da chiều Nghèo đói là một trong những thách thức mà các cộng đồng địa phương phải đối mặt ở các quốc gia du đó là quốc gia dang phát triển hay quốc gia phát triển [15]. Nghéo đói cản trở sự phát triển của con người và sự tiễn bộ của nền văn mình và tất cả các quốc gia hết sức coi trọng công tác xóa đói, giảm nghèo [1]. Nghèo đói không chỉ là thu nhập thấp được định nghĩa như cách thông thường, mà nó còn bao gồm thiếu giáo dục, suy giảm sức khỏe, tuổi thọ, các dịch vụ xã hội và khả năng tiếp cận cơ sở hạ tầng kém, và tất cả tài sản thiết yếu này. Mọi tài sản đều phụ thuộc lẫn nhau, tự có thể mở rộng và sở hữu tác động tích cực đến phần còn lại của tài sản trong cuộc sông [16].
Khái niệm nghèo đa chiều được định nghĩa là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống, thé hiện rõ một sự thiếu thốn về mặt năng lực [17]. Một khái niệm khá phô biến thé hiện tính đa chiều của nghèo là Tuyên bố của Liên hợp quốc vào tháng 6/2018: “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được di học, không được di khám, không có đất dai dé trong trọt hoặc không có nghề nghiệp dé nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghéo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyên, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình va cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dé bi bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn”. Sinh kế và sinh kế bền vững Chambers va Conway [18] định nghĩa về sinh kế: “Sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản (bao gồm cả nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần thiết cho một phương tiện sinh sống. Sinh kế bền vững khi nó có thể đối phó và phục hồi sau những căng thăng và các cú sốc, duy trì hoặc nâng cao khả năng va tai sản cua nó, đồng thời cung cấp các cơ hội SKBV cho thế hệ tiếp theo; và đóng góp lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp địa phương và toàn cầu và ở ngắn han và dài hạn. SKBV là cách suy nghĩ về mục tiêu, về quy mô và những ưu tiên phát triển của cộng đồng nhằm cải thiện tiến trình xóa đói giảm nghèo [19].
Sinh kế phải là thu được từ nông nghiệp (bao gồm cả chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, v.) thông qua quy trình thâm canh (nhiều sản lượng hơn cho mỗi đơn vị diện tích thông qua đầu tư vốn hoặc tăng đầu vao lao động) hoặc mở rộng (nhiều đất canh tác hơn), hoặc đa dạng hóa các hoạt động sinh kế thu nhập đến từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm các hoạt động kiếm tiền phi nông nghiệp, chăng hạn như du lịch [20]. Sinh kế bền vững là một vấn đề đang phát triển, đặc biệt là ở các nền kinh tế đang phát triển với mức độ ngày càng tăng tình trạng nghèo đói, đói kém, kinh tế lạc hậu và hệ thống nông nghiệp nghèo nàn phổ biến trong vùng [21]. Krantz [22] mô tả rằng sinh kế bền vững, như một yếu tố tích hợp, cho phép các chính sách giải quyết vấn đề phát triển, quản lý tài nguyên bền vững đồng thời xóa đói giảm nghèo. Phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững 1.
Khái niệm về phương pháp tiếp cận sinh kế bằn vững Phương pháp Tiếp cận SKBV là một trong những phương pháp để tăng cường hiểu biết về sinh kế của các hộ nghèo. Không giống như các phương pháp khác, phương pháp tiếp cận SKBV là một cách tiếp cận đa chiêu, tích hợp và hợp ly dé xóa nghèo [9]. Khái niệm và khung Phương pháp Tiếp cận SKBV được DFID thông qua vào cuối năm 1990 (dựa trên IDS, IISD, Oxfam và những tổ chức khác) đã được các tổ chức khác nhau điều chỉnh dé phù hợp với nhiều bối cảnh, van đề, mức độ ưu tiên và ứng dụng. Mục tiêu chính của khung SKBV là nghiên cứu tìm hiểu sâu về tình trạng thực tế của người nghèo và xác định sinh kế phù hợp cho nghèo do lập kế hoạch các chương trình mới vì sự bền vững của sinh kế [23].
Cách tiếp cận SKBV chuyền trọng tâm từ đầu ra sang con người và đòi hỏi phải xem xét các mối quan tâm chính người nghèo. Nguyên tắc tiếp cận sinh kế cốt lõi của DFID là một tập hợp các nguyên tắc làm nền tảng cho thực tiễn tốt nhất trong bất kỳ sự can thiệp nào, gồm 5 nguyên tắc cụ thể như sau. Thứ nhất, lay con người làm trung tâm, tức là xóa nghèo bền vững chi đạt được nếu hỗ trợ từ bên ngoài tập trung vào những gi quan trọng đối với người dân, hiểu được sự khác biệt giữa các nhóm người và triển khai với họ theo cách phù hợp với các chiến lược sinh kế, môi trường xã hội và khả năng hiện tại của họ đề thích nghi. Thứ hai là đáp ứng và có sự tham gia, bởi bản thân người nghèo phải là những tác nhân chính trong việc xác định và giải quyết các ưu tiên sinh kế, nên các bên tham gia cần các quy trình cần lắng nghe và đón nhận phản hồi từ người nghèo.
Thứ ba là cấp độ, tức là xóa đói giảm nghèo chỉ có thé vượt qua bằng cách làm việc ở nhiều cấp độ, bằng cách đảm bảo rang hoạt động ở cấp độ vi mô cung cấp thông tin cho việc xây dựng chính sách và một môi trường thuận lợi hiệu quả, hỗ trợ người nghèo xây dựng dựa trên thế mạnh của riêng họ. Thứ tư là được tiến hành với sự hợp tác, giữa với cả khu vực công và tư nhân trong giảm nghèo. Thứ tư là cả bốn khía cạnh của tính bền vững - bền vững về kinh tế, thể chế, xã hội và môi trường cân phải tìm được sự cân băng giữa chúng. Cuôi cùng là nguyên tac Năng động, tức là các hỗ trợ từ bên ngoài phải nhận ra bản chất năng động của các chiến lược sinh kế, ứng phó linh hoạt với những thay đổi của hoàn cảnh của người dân và phát triển các cam kết dài hạn.
Theo DFID [23], phương pháp tiếp cận SKBV được đưa ra xuất phát từ 3 nguyên nhân: Thứ nhất, nền kinh tế tăng trưởng có thê là yếu tố cần thiết để giảm nghèo, nhưng không có mối quan hệ tự động giữa cả hai, nghĩa là tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến giảm nghèo, bởi vì điều này còn phải phụ thuộc vào khả năng của người nghèo đề tận dụng mở rộng các quan hệ kinh tế. Do đó, cần thiết phải tìm ra điều gì cản trở hoặc hạn chế người nghèo cải thiện tình trạng của họ để từ đó đưa ra các hoạt động hỗ trợ phù hợp. Thứ hai, nghèo đói không chỉ là vấn đề về thu nhập thấp mà còn bao gồm các khía cạnh khác như là sức khỏe kém, mù chữ, thiếu xã hội dịch vụ cũng như tình trạng dễ bị tổn thương và cảm giác bất lực nói chung. Mối liên kết giữa các khía cạnh của nghèo đói có có vai trò quan trọng: Việc nâng cao trình độ học van có thé tac động tích cực đến sức khỏe từ đó cải thiện năng lực sản xuất; Giảm tính dé bị tổn thương của người nghèo về mức độ rủi ro có thé tăng xu hướng của họ tham gia vào các hoạt động kinh tế hiệu quả hơn.
Thứ ba, người ta công nhận rằng bản thân người nghèo họ thường biết rõ rất tình hình và nhu cầu của họ do đó họ phải được tham gia vào việc thiết kế các chính sách và kế hoạch nhằm cải thiện. Sự đơn giản hóa gây ra một số kết quả, ví dụ như ta chỉ nhìn vào khía cạnh vật lý là có bao nhiêu cơ sở vật chất được xây dựng, trong khi thực thế nó không thực sự phản ánh tình hình nơi cơ sở vật chất được xây dựng, bởi nó có mối tương quan với sự hiểu biết sử dụng cơ sở vật chất. Đó là lý do tại sao ở một số nơi, có thể đúng là nhiều cơ sở đã được xây dựng nhưng người dân hầu như không cảm nhận được tác động tích cực. 10 Viết tắt H- Vốn con người S — Vốn xa hoi NÑ- Vôn tự nhiên P- Von vật chat F— Vốn tài chính Tài sản sinh kế zl =k x Tác động đến sinh Tiên trình thay đôi cau Z kế — trúc và quá trình “ Hoan cảnh dé bị tồn thương ⁄ Cầu trúc - Lo t Tăng thu nhập NỆ ¡| Mức độ chính quyên„ %|« Tang thé chất S ls >o - Ảnh hưởng 1¡|| Lĩnh Lĩnh vực cáá nhận »⁄ “ “A lược _ || Chiến '#Ìs lỗ Giảm rủi ro iam rủi * Những cú sốc * Cac xu hướng va tiếp cận | Luật | sinhkể [8)* An toan lương mm.
Chính sách 8 thực 5 Tính thời vụ ~P F Văn hoa Bổn vững hon từ ~ | The che mm sử dụng nên tảng ⁄ Yo Qua trinh tu nhién Hình 1.2: Khung sinh kế bền vững Nguồn: DIFD, 1999 Đặc điểm co ban của khung SKBV là một phân tích về năm loại tài sản khác nhau mà các cá nhân sở hữu để xây dựng cuộc sống của họ bao gồm vốn con người, vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội. Khung cho thấy, trong các bối cảnh khác nhau, sinh kế bền vững đạt được như thế nào thông qua tiếp cận một loạt các nguồn lực sinh được kết hợp dé theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau như thâm canh hoặc mở rộng nông nghiệp, đa dạng hóa sinh kê và di cư.