Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số dòng giống hướng dương helianthus annuus trong điều kiện vụ đông xuân năm 2020 2021 trên đất gia lâm hà nội

Tài liệu nghiên cứu Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số dòng giống hướng dương helianthus, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

66
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Đặt vấn đề

1.2. Mục đích và yêu cầu

2. PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Nguồn gốc lịch sử

2.2. Phân loại khoa học

2.3. Đặc điểm thực vật học

2.4. Đặc tính sinh học của hoa hướng dương

2.5. Tình hình sản xuất hướng dương trên thế giới và Việt Nam

2.5.1. Tình hình sản xuất hướng dương trên thế giới

2.5.2. Tình hình sản xuất hướng dương ở Việt Nam

2.6. Tình hình nghiên cứu hướng dương trên thế giới và Việt Nam

2.6.1. Nghiên cứu hướng dương trên thế giới

2.6.2. Nghiên cứu hướng dương ở Việt Nam

3. PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.3. Quy trình kỹ thuật áp dụng

3.3.1. Chuẩn bị đất

3.3.2. Mật độ, khoảng cách

3.3.3. Phòng trừ sâu, bệnh hại

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Bố trí thí nghiệm

3.4.2. Các chỉ tiêu theo dõi

3.4.3. Phương pháp xử lí số liệu

4. PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm hình thái thân và hạt của các dòng, giống hướng dương trong vụ đông xuân 2020-2021

4.2. Đặc điểm sinh trưởng và phát triển của một số dòng, giống hướng dương trong vụ đông xuân 2020 - 2021

4.2.1. Các chỉ tiêu thời gian sinh trưởng và phát triển

4.2.2. Động thái tăng trưởng chiều cao thân chính

4.2.3. Động thái tăng trưởng số lá thật trên thân chính

4.2.4. Khả năng ra hoa của các dòng, giống hướng dương tham gia thí nghiệm

4.2.5. Chỉ số diệp lục

4.2.6. Khả năng tích lũy chất khô

4.3. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số dòng, giống hướng dương trong vụ đông xuân 2020-2021

4.3.1. Các yếu tố cấu thành năng suất

4.3.2. Năng suất hạt khô của các dòng, giống hướng dương

4.4. Khả năng chống chịu sâu, bệnh hại của các dòng, giống hướng dương

5. PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

5.1. Về đặc điểm hình thái

5.2. Về thời gian sinh trưởng

5.3. Sinh trưởng, phát triển

5.4. Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá năng suất giống hướng dương Helianthus annuus

Giống hướng dương Helianthus annuus đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong nông nghiệp hiện đại. Nghiên cứu về khả năng sinh trưởng và năng suất của giống này trong vụ đông xuân 2020-2021 là cần thiết để xác định các giống tiềm năng cho sản xuất. Việc đánh giá này không chỉ giúp nâng cao năng suất mà còn cải thiện chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường.

1.1. Đặc điểm sinh học của giống hướng dương Helianthus annuus

Giống hướng dương Helianthus annuus có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, với khả năng sinh trưởng mạnh mẽ và thích nghi tốt với nhiều điều kiện khí hậu khác nhau. Cây có hệ thống rễ phát triển sâu, giúp chịu hạn tốt và tối ưu hóa việc hấp thụ dinh dưỡng từ đất.

1.2. Vai trò kinh tế của giống hướng dương trong nông nghiệp

Hướng dương không chỉ cung cấp hạt cho thực phẩm mà còn là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành công nghiệp chế biến dầu. Nhu cầu tiêu thụ hạt hướng dương ngày càng tăng, tạo cơ hội cho nông dân nâng cao thu nhập.

II. Thách thức trong sản xuất giống hướng dương vụ đông xuân 2020 2021

Mặc dù giống hướng dương Helianthus annuus có nhiều ưu điểm, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong quá trình sản xuất. Các yếu tố như điều kiện thời tiết, sâu bệnh hại và chất lượng giống ảnh hưởng lớn đến năng suất và sinh trưởng của cây.

2.1. Ảnh hưởng của điều kiện thời tiết đến sinh trưởng

Thời tiết không ổn định trong vụ đông xuân có thể gây ra những tác động tiêu cực đến sự phát triển của giống hướng dương. Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp đều có thể làm giảm năng suất.

2.2. Mối đe dọa từ sâu bệnh hại

Các loại sâu bệnh như sâu xanh và bệnh phấn trắng là những mối đe dọa lớn đối với giống hướng dương. Việc phát hiện và phòng trừ kịp thời là rất quan trọng để bảo vệ năng suất.

III. Phương pháp nghiên cứu đánh giá năng suất giống hướng dương

Để đánh giá năng suất và sinh trưởng của giống hướng dương Helianthus annuus, một số phương pháp nghiên cứu đã được áp dụng. Các thí nghiệm được thiết kế để so sánh các dòng giống khác nhau trong điều kiện thực tế.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và bố trí giống

Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp ngẫu nhiên hoàn toàn, với các dòng giống được trồng trên cùng một diện tích để đảm bảo tính chính xác trong việc so sánh.

3.2. Các chỉ tiêu theo dõi trong nghiên cứu

Các chỉ tiêu như chiều cao cây, số lá, khả năng ra hoa và năng suất hạt được theo dõi định kỳ để đánh giá sự phát triển của giống hướng dương.

IV. Kết quả nghiên cứu về năng suất giống hướng dương

Kết quả nghiên cứu cho thấy giống hướng dương Helianthus annuus có khả năng sinh trưởng tốt trong vụ đông xuân 2020-2021. Năng suất hạt đạt được từ các dòng giống khác nhau cho thấy sự khác biệt rõ rệt.

4.1. Năng suất hạt của các dòng giống hướng dương

Các dòng giống G4 và G30 cho năng suất cao nhất, cho thấy tiềm năng lớn trong sản xuất. Năng suất trung bình đạt từ 1.500 đến 2.000 kg/ha.

4.2. Khả năng chống chịu sâu bệnh của giống

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các dòng giống này có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, giúp giảm thiểu thiệt hại trong quá trình sản xuất.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của giống hướng dương

Nghiên cứu về giống hướng dương Helianthus annuus trong vụ đông xuân 2020-2021 đã chỉ ra rằng giống này có nhiều tiềm năng cho sản xuất nông nghiệp. Việc phát triển các giống mới và cải tiến kỹ thuật trồng trọt sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.

5.1. Đề xuất giống hướng dương triển vọng

Các dòng giống có năng suất cao như G4 và G30 nên được khuyến khích trồng rộng rãi để đáp ứng nhu cầu thị trường.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu và phát triển các giống hướng dương mới, đồng thời áp dụng các biện pháp canh tác hiện đại để nâng cao hiệu quả sản xuất.

15/07/2025
Đánh giá khả năng sinh trưởng phát triển và năng suất của một số dòng giống hướng dương helianthus annuus trong điều kiện vụ đông xuân năm 2020 2021 trên đất gia lâm hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Hướng dương (Helianthus annuus) là loài hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae), có nguồn gốc từ Mexico, Hướng dương có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Với hình thái bên ngoài cây hướng dương có tác dụng làm đẹp cảnh quan, ngoài ra còn có nhiều công dụng chính như làm thực phẩm cho con người, được một lượng lớn người sử dụng làm món ăn vặt yêu thích (hạt), làm thức ăn cho gia súc (toàn bộ cây) và là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chiết suất dầu. Không chỉ để làm đẹp cho cảnh quan và thực phẩm hướng dương còn được biết đến với tác dụng trị các loại bệnh rất hiệu quả, trong Đông Y hướng dương có vị ngọt, tính ấm, không độc. Tác dụng tư âm bổ hư, ninh tâm an thần, chỉ lỵ, thấu chẩn.

Dùng chữa giảm căng thẳng đầu óc, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được. Đặc biệt hướng dương được biết đến với tác dụng chữa một số loại bệnh như bệnh ho gà, huyết áp cao, huyết áp thấp, nóng trong, cận thị, giúp tăng cường sức khỏe tim mạch, chữa đau bụng tới ngày ở phụ nữ, bệnh ù tai, đau dạ dày, sỏi thận, sỏi tiết liệu, đau răng. Hiện nay, tại các nước phát triển như: Nga, Ukraine, Achentina, Romania, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Hungary,. Hướng dương được trồng nhiều hơn ở các nước trên thế giới, hướng dương sản xuất chủ yếu là để lấy hạt hoặc để chiết suất dầu vì hạt hướng dương chứa giàu dinh dưỡng.

Đặc biệt trong hạt hướng dương chứa hàm lượng vitamin E cao. Một trong những thành phần tốt nhất của hạt hướng dương, một chất chống oxy hóa, rất tốt cho da và tóc (trẻ hóa da, giảm thiểu nếp nhăn, giảm rụng tóc bằng cách tang cường hoạt động lưu thông máu), tốt cho não và cân bằng tâm trạng (hạn chế nguy cơ từ rối loạn thoái hóa thần kinh như Alzheimer và Parkinson). Ngoài ra cũng hỗ trợ tốt cho việc giảm cân và nguy cơ mắc bệnh tim mạch (tăng tốc quá trình tiêu hóa và giảm cholesterol), hỗ chợ chức năng tuyến giáp, cải thiện hệ tiêu hóa, tăng năng lượng, tốt cho bệnh nhân đái tháo đường và ngừa ung thư. Theo báo cáo từ Cục Nghiên cứu Nông nghiệp Hoa Kỳ, các chất dinh dưỡng chính trong 30g hạt hướng dương khô đã bóc vỏ là: calo (143), chất béo bão hòa (1,5g), chất béo không bão hòa đa (9,2g), chất béo bão hòa đơn (2,7g), chất đạm (5,5g), carbs (6,5g), chất xơ (g), vitamin E (37%) RDI, vitamin B12 (11%) RDI, axit folic (17%) RDI, sắt (6%) RDI, magie (9%) RDI, kẽm (10%) RDI, đồng (26%) RDI, mangan (30%) RDI, selenium (32%) RDI (*RDI: Lượng tiêu thụ khuyến nghị hàng ngày) Thực tế ở Việt Nam, người Việt hiện nay hướng dương được biết đến là món ăn vặt khá quen thuộc, hướng dương hiện nay chủ yếu được trồng rải rác trên quy mô nhỏ ở một số tỉnh như Đà Lạt, Nghệ An, Bắc Giang, Hà Nội.

với sự thỏa mãn về nhu cầu cảnh quan, chụp ảnh của con người là mục đích chính ban đầu. Còn lại hướng dương còn được trồng để phục vụ nhu cầu thức ăn cho vật nuôi ở một số nông trại lớn nhỏ. Hầu như phần lớn hướng dương không được trồng với mục đích lấy hạt làm thực phẩm cho con người cũng như làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dầu. Do vậy để phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước hướng dương được nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc với chất lượng và giá thành khác nhau.

Hiện nay tại Việt Nam việc sản xuất hướng dương vẫn còn hạn chế và ít được quan tâm. Sở dĩ là do nhiều giống hướng dương có năng suất cao, chất lượng tốt vẫn còn hạn chế và chưa có nhiều. Sản phẩm làm ra khó cạnh tranh về chất lượng và giá thành từ nước ngoài. Do đó, việc nghiên cứu chọn tạo giống hướng dương có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái để mở rộng diện tích sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân là hết sức cần thiết.

Để góp phần giải quyết các vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống hướng dương (Helianthus annuus) trong vụ Đông Xuân năm 2020 – 2021 trên đất Gia Lâm – Hà Nội”.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống hướng dương vụ Đông Xuân năm 2020-2021, từ đó đề xuất một số dòng, giống triển vọng, đưa vào thí nghiệm so sánh giống chính quy.2 Yêu cầu Đánh giá được chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của một số dòng, giống hướng dương trong vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đánh giá được năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống hướng dương trong vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đánh giá khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của một số dòng, giống hướng dương trong điều kiện vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đề xuất được các dòng, giống hướng dương triển vọng cho thí nghiệm so sánh giống chính quy.

3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc lịch sử Hướng dương có tên khoa học là Helianthus Annuus, là loài cây có nguồn gốc từ Mexico (Bắc Mỹ), là loài hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài hoa này được gọi với những cái tên khác nhau như Hướng dương quỳ tử, Thiên quỳ tử, Quỳ tử, Quỳ hoa tử, tên tiếng Anh là Sun Flower. Nhưng đặc biệt hơn cả là cái tên hoa “Mặt trời”. Bằng chứng khảo cổ học cho thấy việc sử dụng hoa hướng dương trong người da đỏ Mỹ (Heiser 1995).

Có một số tài liệu tham khảo đã cho thấy việc trồng hoa hướng dương bắt đầu ở Arizona và New Mexico khoảng 3000 năm TCN (Semelczi-Kovacs, 1975). Một số nhà khảo học cho rằng hoa hướng dương có thể được thuần hóa trước ngô (Theo: National Sunflower Association). Vào khoảng những năm 1500, hướng dương được các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đưa đến trồng tại châu Âu và dần trở nên phổ biến trên khắp Tây Âu như một loài cây cảnh và cây làm thuốc. Đến năm 1716, dầu hướng dương mới được biết đến bởi một nhà sáng chế người Anh.

Thế kỉ XVIII, hướng dương trở thành loài cây trồng phổ biến trên toàn châu Âu, nhưng phải đến năm 1769 hướng dương mới được sản xuất cho mục đích lấy dầu. Những năm 1830 – 1840, hướng dương lấy dầu được trồng trên quy mô thương mại. Sản xuất hướng dương thực sự phát triển mạnh mẽ tại Nga do chính sách cấm tiêu thụ các loại hạt lấy dầu trừ hướng dương. Đến đầu thế kỷ XIX, toàn nước Nga đã trồng trên 800.000 ha hướng dương.

Thời điểm này bắt đầu có sự phân loại hướng dương theo mục đích sử dụng, phần lớn hướng dương được sản xuất phục vụ tiêu thụ trực tiếp, còn lại được sản xuất phục vụ ép dầu. Các chương trình chọn tạo giống hương dương quốc gia cũng bắt đầu được triển khai. Đến cuối thế kỷ XIX, hạt hướng dương Nga đã có mặt tại Mỹ bởi các công ty cung cấp hạt giống hoặc bởi những người nhập cư Nga. Năm 1880, hạt 4 hướng dương “Mammoth Russian” được quảng cáo tại Mỹ.

Đến tận 100 năm sau, thương hiệu hạt giống này vẫn còn tồn tại. Ban đầu, hướng dương ban đầu được sử dụng thương mại cho mục đích làm thức ăn ủ chua cho gia cầm. Việc thương mại hóa đã thúc đẩy phát triển sản xuất hướng dương tại Mỹ, đến những năm 1920 thị trường mới xuất hiện các đơn vị chế biến dầu hướng dương. Năm 1926, Hiệp hội người trồng hướng dương Missouri đã bắt đầu trồng hướng dương lấy dầu.

Hướng dương dần phổ biến khắp Bắc Mỹ. Năm 1930, Chính phủ Canada bắt đầu chương trình nhân giống hướng dương chính thức đầu tiên với nguồn hạt giống từ vườn Menonite của những người nhập cư Nga. Năm 1946, diện tích trồng hướng dương tăng nhanh lan rộng đến Minnesota và Bắc Dakotas do sau khi 1 nhà máy nghiền được xây dựng. Cũng trong năm này, Chính phủ Canada đã cấp phép sản xuất giống Peredovik có năng suất và hàm lượng dầu cao.

Đến những năm 1970, các chương trình lai tạo, phát triển các giống hướng dương nhằm tăng năng suất và hàm lượng dầu đã thúc đẩy sản xuất hướng dương trên toàn nước Mỹ. Đến cuối những năm 1970, sản xuất hướng dương tại Mỹ đã vượt 2 triệu ha bởi nhu cầu tiêu thụ dầu hướng dương tại châu Âu ngày càng tăng do sản lượng hướng dương tại Nga không đủ để đáp ứng nhu cầu và dã nhập khẩu hướng dương từ Bắc Mỹ để phục vụ nhu cầu sử dụng. Tại châu Á, hướng dương được trồng thử nghiệm tại Ấn Độ vào khoảng những năm 1855. Năm 1905, Hooper mô tả giống hướng dương Giant Russian có đặc điểm giống với giống Mammoth Russian đã được giới thiệu ở Hoa Kỳ trước đó.

Năm 1922, hướng dương trở thành cây lấy dầu quan trọng ở Ấn Độ và Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, hướng dương bắt đầu được trồng trong phạm vi nhỏ ở Philippines để lấy hạt để rang và ăn giống như lạc hoặc làm thức ăn gia súc. Năm 1971, hướng dương trở thành cây trồng thương mại tại Philippines. Tại châu Úc, hướng dương có thể được trồng thử nghiệm vào khoảng những năm 1920.

Sau một thời gian không phát triển, hướng dương được quan tâm trở lại vào khoảng những năm 1940 và phát triển từ những năm 1963 khi du nhập 5 các giống hướng dương có hàm lượng dầu cao từ Liên Xô. Hướng dương có thể cũng được mang tới châu Phi bởi những người châu Âu vào những năm 1920. Một số tài liệu cho thấy nó có thể được biết đến ở châu lục này sớm hơn vào khoảng năm 1906. Tại Nam Mỹ, những người nhập cư châu Âu có thể đã mang hướng dương tới Achentina.

Trong thập niên 1920, sản xuất hướng dương tại Achentina đã đạt khoảng 5.000 tấn và đạt 10. Hướng dương cũng sớm được trồng thử nghiệm tại Chilê và Braxin vào khoảng những năm 1900.2 Phân loại khoa học Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Asterales bao gồm 11 họ, 1649 chi và 25790 loài, trong đó các họ lớn nhất là họ Cúc (23600 loài) và họ Hoa chuông (2380 loài). Họ: Asteraceae (họ Cúc) họ thực vật có 2 lá mầm, phân bố rộng khắp thế giới nhưng nhiều nhất ở khu vực ôn đới và miền núi nhiệt đới. Họ này gồm 2 phân họ là Asteroideae và Cichorioideae.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ