Đặt vấn đề Hướng dương (Helianthus annuus) là loài hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae), có nguồn gốc từ Mexico, Hướng dương có vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Với hình thái bên ngoài cây hướng dương có tác dụng làm đẹp cảnh quan, ngoài ra còn có nhiều công dụng chính như làm thực phẩm cho con người, được một lượng lớn người sử dụng làm món ăn vặt yêu thích (hạt), làm thức ăn cho gia súc (toàn bộ cây) và là nguồn nguyên liệu cung cấp cho công nghiệp chiết suất dầu. Không chỉ để làm đẹp cho cảnh quan và thực phẩm hướng dương còn được biết đến với tác dụng trị các loại bệnh rất hiệu quả, trong Đông Y hướng dương có vị ngọt, tính ấm, không độc. Tác dụng tư âm bổ hư, ninh tâm an thần, chỉ lỵ, thấu chẩn.
Dùng chữa giảm căng thẳng đầu óc, thần kinh suy nhược, chán ăn, đau đầu do suy nhược, đi lỵ ra máu, sởi không mọc được. Đặc biệt hướng dương được biết đến với tác dụng chữa một số loại bệnh như bệnh ho gà, huyết áp cao, huyết áp thấp, nóng trong, cận thị, giúp tăng cường sức khỏe tim mạch, chữa đau bụng tới ngày ở phụ nữ, bệnh ù tai, đau dạ dày, sỏi thận, sỏi tiết liệu, đau răng. Hiện nay, tại các nước phát triển như: Nga, Ukraine, Achentina, Romania, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Bulgaria, Hungary,. Hướng dương được trồng nhiều hơn ở các nước trên thế giới, hướng dương sản xuất chủ yếu là để lấy hạt hoặc để chiết suất dầu vì hạt hướng dương chứa giàu dinh dưỡng.
Đặc biệt trong hạt hướng dương chứa hàm lượng vitamin E cao. Một trong những thành phần tốt nhất của hạt hướng dương, một chất chống oxy hóa, rất tốt cho da và tóc (trẻ hóa da, giảm thiểu nếp nhăn, giảm rụng tóc bằng cách tang cường hoạt động lưu thông máu), tốt cho não và cân bằng tâm trạng (hạn chế nguy cơ từ rối loạn thoái hóa thần kinh như Alzheimer và Parkinson). Ngoài ra cũng hỗ trợ tốt cho việc giảm cân và nguy cơ mắc bệnh tim mạch (tăng tốc quá trình tiêu hóa và giảm cholesterol), hỗ chợ chức năng tuyến giáp, cải thiện hệ tiêu hóa, tăng năng lượng, tốt cho bệnh nhân đái tháo đường và ngừa ung thư. Theo báo cáo từ Cục Nghiên cứu Nông nghiệp Hoa Kỳ, các chất dinh dưỡng chính trong 30g hạt hướng dương khô đã bóc vỏ là: calo (143), chất béo bão hòa (1,5g), chất béo không bão hòa đa (9,2g), chất béo bão hòa đơn (2,7g), chất đạm (5,5g), carbs (6,5g), chất xơ (g), vitamin E (37%) RDI, vitamin B12 (11%) RDI, axit folic (17%) RDI, sắt (6%) RDI, magie (9%) RDI, kẽm (10%) RDI, đồng (26%) RDI, mangan (30%) RDI, selenium (32%) RDI (*RDI: Lượng tiêu thụ khuyến nghị hàng ngày) Thực tế ở Việt Nam, người Việt hiện nay hướng dương được biết đến là món ăn vặt khá quen thuộc, hướng dương hiện nay chủ yếu được trồng rải rác trên quy mô nhỏ ở một số tỉnh như Đà Lạt, Nghệ An, Bắc Giang, Hà Nội.
với sự thỏa mãn về nhu cầu cảnh quan, chụp ảnh của con người là mục đích chính ban đầu. Còn lại hướng dương còn được trồng để phục vụ nhu cầu thức ăn cho vật nuôi ở một số nông trại lớn nhỏ. Hầu như phần lớn hướng dương không được trồng với mục đích lấy hạt làm thực phẩm cho con người cũng như làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến dầu. Do vậy để phục vụ nhu cầu sử dụng trong nước hướng dương được nhập khẩu từ nước ngoài, chủ yếu từ Trung Quốc với chất lượng và giá thành khác nhau.
Hiện nay tại Việt Nam việc sản xuất hướng dương vẫn còn hạn chế và ít được quan tâm. Sở dĩ là do nhiều giống hướng dương có năng suất cao, chất lượng tốt vẫn còn hạn chế và chưa có nhiều. Sản phẩm làm ra khó cạnh tranh về chất lượng và giá thành từ nước ngoài. Do đó, việc nghiên cứu chọn tạo giống hướng dương có năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với từng vùng sinh thái để mở rộng diện tích sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân là hết sức cần thiết.
Để góp phần giải quyết các vấn đề trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống hướng dương (Helianthus annuus) trong vụ Đông Xuân năm 2020 – 2021 trên đất Gia Lâm – Hà Nội”.2 Mục đích và yêu cầu 1.1 Mục đích Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số dòng, giống hướng dương vụ Đông Xuân năm 2020-2021, từ đó đề xuất một số dòng, giống triển vọng, đưa vào thí nghiệm so sánh giống chính quy.2 Yêu cầu Đánh giá được chỉ tiêu sinh trưởng và phát triển của một số dòng, giống hướng dương trong vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đánh giá được năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các dòng, giống hướng dương trong vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đánh giá khả năng chống chịu và mức độ nhiễm sâu, bệnh hại của một số dòng, giống hướng dương trong điều kiện vụ Đông Xuân năm 2020-2021. Đề xuất được các dòng, giống hướng dương triển vọng cho thí nghiệm so sánh giống chính quy.
3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Nguồn gốc lịch sử Hướng dương có tên khoa học là Helianthus Annuus, là loài cây có nguồn gốc từ Mexico (Bắc Mỹ), là loài hoa thuộc họ Cúc (Asteraceae). Loài hoa này được gọi với những cái tên khác nhau như Hướng dương quỳ tử, Thiên quỳ tử, Quỳ tử, Quỳ hoa tử, tên tiếng Anh là Sun Flower. Nhưng đặc biệt hơn cả là cái tên hoa “Mặt trời”. Bằng chứng khảo cổ học cho thấy việc sử dụng hoa hướng dương trong người da đỏ Mỹ (Heiser 1995).
Có một số tài liệu tham khảo đã cho thấy việc trồng hoa hướng dương bắt đầu ở Arizona và New Mexico khoảng 3000 năm TCN (Semelczi-Kovacs, 1975). Một số nhà khảo học cho rằng hoa hướng dương có thể được thuần hóa trước ngô (Theo: National Sunflower Association). Vào khoảng những năm 1500, hướng dương được các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đưa đến trồng tại châu Âu và dần trở nên phổ biến trên khắp Tây Âu như một loài cây cảnh và cây làm thuốc. Đến năm 1716, dầu hướng dương mới được biết đến bởi một nhà sáng chế người Anh.
Thế kỉ XVIII, hướng dương trở thành loài cây trồng phổ biến trên toàn châu Âu, nhưng phải đến năm 1769 hướng dương mới được sản xuất cho mục đích lấy dầu. Những năm 1830 – 1840, hướng dương lấy dầu được trồng trên quy mô thương mại. Sản xuất hướng dương thực sự phát triển mạnh mẽ tại Nga do chính sách cấm tiêu thụ các loại hạt lấy dầu trừ hướng dương. Đến đầu thế kỷ XIX, toàn nước Nga đã trồng trên 800.000 ha hướng dương.
Thời điểm này bắt đầu có sự phân loại hướng dương theo mục đích sử dụng, phần lớn hướng dương được sản xuất phục vụ tiêu thụ trực tiếp, còn lại được sản xuất phục vụ ép dầu. Các chương trình chọn tạo giống hương dương quốc gia cũng bắt đầu được triển khai. Đến cuối thế kỷ XIX, hạt hướng dương Nga đã có mặt tại Mỹ bởi các công ty cung cấp hạt giống hoặc bởi những người nhập cư Nga. Năm 1880, hạt 4 hướng dương “Mammoth Russian” được quảng cáo tại Mỹ.
Đến tận 100 năm sau, thương hiệu hạt giống này vẫn còn tồn tại. Ban đầu, hướng dương ban đầu được sử dụng thương mại cho mục đích làm thức ăn ủ chua cho gia cầm. Việc thương mại hóa đã thúc đẩy phát triển sản xuất hướng dương tại Mỹ, đến những năm 1920 thị trường mới xuất hiện các đơn vị chế biến dầu hướng dương. Năm 1926, Hiệp hội người trồng hướng dương Missouri đã bắt đầu trồng hướng dương lấy dầu.
Hướng dương dần phổ biến khắp Bắc Mỹ. Năm 1930, Chính phủ Canada bắt đầu chương trình nhân giống hướng dương chính thức đầu tiên với nguồn hạt giống từ vườn Menonite của những người nhập cư Nga. Năm 1946, diện tích trồng hướng dương tăng nhanh lan rộng đến Minnesota và Bắc Dakotas do sau khi 1 nhà máy nghiền được xây dựng. Cũng trong năm này, Chính phủ Canada đã cấp phép sản xuất giống Peredovik có năng suất và hàm lượng dầu cao.
Đến những năm 1970, các chương trình lai tạo, phát triển các giống hướng dương nhằm tăng năng suất và hàm lượng dầu đã thúc đẩy sản xuất hướng dương trên toàn nước Mỹ. Đến cuối những năm 1970, sản xuất hướng dương tại Mỹ đã vượt 2 triệu ha bởi nhu cầu tiêu thụ dầu hướng dương tại châu Âu ngày càng tăng do sản lượng hướng dương tại Nga không đủ để đáp ứng nhu cầu và dã nhập khẩu hướng dương từ Bắc Mỹ để phục vụ nhu cầu sử dụng. Tại châu Á, hướng dương được trồng thử nghiệm tại Ấn Độ vào khoảng những năm 1855. Năm 1905, Hooper mô tả giống hướng dương Giant Russian có đặc điểm giống với giống Mammoth Russian đã được giới thiệu ở Hoa Kỳ trước đó.
Năm 1922, hướng dương trở thành cây lấy dầu quan trọng ở Ấn Độ và Trung Quốc. Tại Đông Nam Á, hướng dương bắt đầu được trồng trong phạm vi nhỏ ở Philippines để lấy hạt để rang và ăn giống như lạc hoặc làm thức ăn gia súc. Năm 1971, hướng dương trở thành cây trồng thương mại tại Philippines. Tại châu Úc, hướng dương có thể được trồng thử nghiệm vào khoảng những năm 1920.
Sau một thời gian không phát triển, hướng dương được quan tâm trở lại vào khoảng những năm 1940 và phát triển từ những năm 1963 khi du nhập 5 các giống hướng dương có hàm lượng dầu cao từ Liên Xô. Hướng dương có thể cũng được mang tới châu Phi bởi những người châu Âu vào những năm 1920. Một số tài liệu cho thấy nó có thể được biết đến ở châu lục này sớm hơn vào khoảng năm 1906. Tại Nam Mỹ, những người nhập cư châu Âu có thể đã mang hướng dương tới Achentina.
Trong thập niên 1920, sản xuất hướng dương tại Achentina đã đạt khoảng 5.000 tấn và đạt 10. Hướng dương cũng sớm được trồng thử nghiệm tại Chilê và Braxin vào khoảng những năm 1900.2 Phân loại khoa học Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Asterales bao gồm 11 họ, 1649 chi và 25790 loài, trong đó các họ lớn nhất là họ Cúc (23600 loài) và họ Hoa chuông (2380 loài). Họ: Asteraceae (họ Cúc) họ thực vật có 2 lá mầm, phân bố rộng khắp thế giới nhưng nhiều nhất ở khu vực ôn đới và miền núi nhiệt đới. Họ này gồm 2 phân họ là Asteroideae và Cichorioideae.