Mở đầu Nội dung Chƣơng1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Thiết kế công cụ đánh giá năng lực thích ứng nghề Chƣơng 3: Năng lực thích ứng nghề của sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành giáo dục mầm non trƣờng Cao đẳng Sƣ phạm Sóc Trăng Kết luận Kiến nghị 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Xã hội càng phát triển càng đòi hỏi con ngƣời phải có NLTƢ ở trình độ cao. Những nghiên cứu khoa học về sự thích ứng sẽ giúp con ngƣời mở ra nhiều năng lực mới trong việc chinh phục và cải tạo thế giới, hoàn thiện nhân cách.
Từ năm 2008 đến năm 2010, một nhóm các nhà tâm lý học đến từ 13 quốc gia (Hà Lan, Mỹ, Trung Quốc, Hồng Công, Nhật Bản, Brazin, Phần Lan, Ý, Pháp, Thổ Nhĩ Kỳ, Bỉ, Anh) đã nghiên cứu về khả năng thích ứng nghề và cùng nhau xây dựng một bộ công cụ đo lƣờng khả năng thích ứng nghề bao gồm 4 yếu tố: quan tâm, kiểm soát, tò mò và tự tin với tổng số 24 mục đo. Các nƣớc thành viên đã sử dụng bộ công cụ đo lƣờng này để đánh giá khả năng thích ứng nghề tại quốc gia mình (Savickas & Porfeli, 2012) [42]. Kết quả cụ thể nhƣ sau: Bảng 1. Bảng so sánh giá trị trung bình và độ tin cậy của một số nước trên thế giới với chuẩn quốc tế Nƣớc Trung Hà lan Mỹ Brazin Quốc tế Nhân tố Quốc Năng lực Tìm hiểu 3.69 Năng lực Quan tâm 3.79 Giá trị trung Năng lực Tự tin 3.93 bình Năng lực Kiểm soát 3.
Chúng tôi đã thống kê hệ số tin cậy và giá trị trung bình của một số nƣớc. Hệ số tin cậy ở Mỹ và Hà Lan gần giống với mẫu quốc tế, Tuy nhiên ở mẫu Trung quốc và mẫu ở Brazin thấp hơn so với mẫu Quốc tế. Giá trị trung bình của các nƣớc so với mẫu quốc tế có sự khác biệt. Cụ thể nhƣ sau: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Hà Lan, Annelies E.
van Vianen (2012) đã nghiên cứu khả năng thích ứng với nghề ở khía cạnh tìm hiểu về Mối quan hệ giữa các thuộc tính tâm lý với khả năng thích ứng nghề. Trong nghiên cứu này, ta thấy nhân tố Tìm hiểu của mẫu Hà Lan có ĐTB = 3.83, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.69; nhân tố Quan tâm của mẫu Hà Lan có ĐTB = 3.57, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.79; nhân tố Tự tin của mẫu Hà Lan có ĐTB = 3.75, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.93 và ở nhân tố kiểm soát của mẫu Hà Lan có ĐTB = 3.88, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3. Năng lực thích ứng chung của mẫu Hà Lan có ĐTB = 3.76 và ĐTB của mẫu quốc tế là 3. Độ tin cậy của mẫu Hà Lan (0.92) cao hơn độ tin cậy của mẫu Quốc tế (0.
Tác giả đƣa ra kết luận: (1) không có sự khác biệt đáng kể giữa mẫu Hà Lan và mẫu Quốc tế; (2) Không có mối quan hệ đáng kể nào giữa các thuộc tính tâm lý và khả năng thích ứng nghề [27]. Ở Trung Quốc, tác giả Hou, Leung, Li, Li và Xu (2012) đã nghiên cứu NLTƢ trong nghề (CAAS): Xây dựng và xác định giá trị. Thống kê ở bảng 1. ta nhận ra r ng, với mẫu trung quốc ở nhân tố Tìm hiểu có ĐTB = 3.80 và ĐTB của mẫu quốc tế là 3.69; nhân tố Quan tâm của mẫu Trung Quốc có ĐTB = 4.08, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.79; nhân tố Tự tin của mẫu Trung Quốc có ĐTB = 3.95, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.93 và ở nhân tố kiểm soát của mẫu Trung Quốc có ĐTB = 4.03, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.
Năng lực thích ứng chung của mẫu Trung Quốc có ĐTB = 3.97 và ĐTB của mẫu quốc tế là 3. Độ tin cậy của mẫu Trung Quốc (0.77) thấp hơn độ tin cậy của mẫu Quốc tế (0. Tác giả đã nghiên cứu, so sánh dựa trên các tiêu chí giới tính, khóa đào tạo ở SV năm I và SV năm II. Tác giả đƣa ra kết luận: (1) Có sự khác biệt đáng kể ở nhân tố quan tâm, nhân tố kiểm soát và nhân tố tìm hiểu tức là Sinh viên Trung Quốc có mức độ quan tâm, kiểm soát và tò mò cao hơn những ngƣời tham gia khảo sát ở Hoa Kỳ; (2) SV nam có NLTƢ cao hơn nhiều so với SV nữ trên tất cả các 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khía cạnh của CAAS ngoại trừ nhân tố Quan tâm.
SV năm thứ I có NLTƢ cao hơn so với SV năm thứ II [34]. Ở Mỹ, tác giả Savickas and Porfeli (2012) cũng sử dụng thang đo CAAS. Độ tin cậy của mẫu ở Mỹ (0.91) gần b ng độ tin cậy của mẫu Quốc tế (0.90); Điểm trung bình cả 4 nhân tố gần b ng nhƣ nhau và đi đến kết luận: (1) mẫu ở Mỹ giống với mẫu Quốc tế; (2) khả năng thích ứng nghề tốt nhất xuất hiện ở các cá nhân có sự tự tin, sẵn sàng về nghề nghiệp [42]. Còn ở Brazil, tác giả Teixeira, Bardagi, Lassance, de Oliveira Magalhães và Duarte (2012) đã nghiên cứu NLTƢ với nghề (CAAS): Mối quan hệ giữa các yếu tố nhân cách và khả năng thích ứng nghề.
ĐTB của bốn nhóm trong mẫu nghiên cứu của Brazil cao hơn ĐTB của mẫu Quốc tế. Cụ thể nhƣ sau: Mẫu Brazil có nhân tố Tìm hiểu có ĐTB = 3.79 và ĐTB của mẫu quốc tế là 3.69; nhân tố Quan tâm của mẫu Brazil có ĐTB = 4.10, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.79; nhân tố Tự tin của mẫu Brazil có ĐTB = 4.19, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3.93 và ở nhân tố kiểm soát của mẫu Brazil có ĐTB = 4.09, trong khi đó ĐTB của mẫu quốc tế là 3. Năng lực thích ứng chung của mẫu Brazil có ĐTB = 4.06 và ĐTB của mẫu quốc tế là 3. Độ tin cậy của mẫu Brazil (0.84) thấp hơn độ tin cậy của mẫu Quốc tế (0.90) tuy nhiên độ tin cậy của 2 mẫu đều đạt mức độ tốt.
Tác giả đƣa ra kết luận: (1) Độ tin cậy cho thấy sự khác biệt lớn nhất giữa mẫu Brazil (0.84) và quốc tế (0. Nghiên cứu ở Việt Nam Có nhiều nghiên cứu về khả năng thích ứng nghề, các tác giả nghiên cứu theo nhiều hƣớng khác nhau. Sau đây, chúng tôi sẽ trình bày sơ lƣợc các hƣớng nghiên cứu trong thời gian qua. Nguyễn Quốc Nghi và các cộng sự (2011) đã nghiên cứu về việc "Đánh giá NLTƢ với công việc của SV tốt nghiệp ngành du lịch ở Đồng b ng sông 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cửu Long".
Trong nghiên cứu này, tác giả đã xây dựng và sử dụng bộ công cụ đánh giá NLTƢ với công việc của SV tốt nghiệp ngành du lịch ở Đồng b ng Sông Cửu Long. Bộ công cụ này bao gồm 14 tiêu chí ảnh hƣởng đến khả năng thích ứng với công việc của sinh viên ngành du lịch là Kinh nghiệm thực tế; Kiến thức chuyên môn; Kỹ năng nghiệp vụ; Kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức công việc; Kỹ năng làm việc theo nhóm; Kỹ năng giao tiếp; Kỹ năng làm việc độc lập; Trình độ ngoại ngữ; Trình độ tin học; Quản lý thời gian; Làm việc dƣới áp lực; Kỹ năng sử dụng công nghệ mới; Sự năng động và linh hoạt; Khả năng thích nghi với môi trƣờng làm việc. Trong khi đó, bộ công cụ đánh giá NLTƢN theo chuẩn quốc tế gồm 6 nhân tố và 24 tiêu chí. Kết quả nghiên cứu cho thấy, NLTƢN của SV đối với công việc khá tốt; phần lớn SV ngành du lịch có kiến thức chuyên môn và các kỹ năng đáp ứng yêu cầu công việc ở mức trung bình khá.
Thông qua kết quả nghiên cứu, tác giả đã tìm ra các nhân tố ảnh hƣởng đến NLTƢ với công việc của SV nhƣ trình độ ngoại ngữ, năng lực thích nghi với môi trƣờng và kiến thức chuyên môn. Trong đó, nhân tố có ảnh hƣởng lớn nhất đến NLTƢ với công việc của SV ngành du lịch tại các đơn vị kinh doanh du lịch ở khu vực Đồng b ng sông Cửu Long là kiến thức chuyên môn [19]. Dƣơng Thị Nga (2012) trong luận án tiến sĩ "Phát triển NLTƢN cho SV Cao đẳng Sƣ phạm", tác giả đã khảo sát thực trạng vấn đề phát triển NLTƢN cho SV Cao đẳng sƣ phạm các tỉnh miền núi phía Bắc thông qua 7 yếu tố và 35 tiêu chí, qua kết quả khảo sát tác giả đã xây dựng một số biện pháp cụ thể nh m phát triển NLTƢN cho SV Cao đẳng sƣ phạm. Kết quả thực nghiệm đã khẳng định các biện pháp phát triển NLTƢN cho SV trƣờng CĐSP là khả thi, mang lại hiệu quả nhất định và thông qua thực nghiệm mà SV các lớp thực nghiệm đã củng cố thêm đƣợc một số cách thức nh m phát triển NLTƢN[18].
Nguyễn Hồng Giang và Lại Xuân Thủy (2014) trong nghiên cứu "Nghiên cứu NLTƢN của SV tốt nghiệp đại học làm việc trong các công ty 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhật Bản tại Thừa Thiên - Huế", tác giả đã dựa theo mẫu khảo sát về sự thích ứng nghề nghiệp chuẩn quốc tế (CAAS- International) với 4 khía cạnh chính liên quan đến khả năng thích ứng nghề và mỗi khía cạnh gồm 6 mục đo. Kết quả nghiên cứu cho thấy NLTƢN của các đối tƣợng khảo sát đƣợc đánh giá ở mức trên trung bình và sự phù hợp khá cao của thang đo CAAS quốc tế trong trong bối cảnh khảo sát tại Thừa Thiên - Huế, một địa phƣơng với đặc thù miền Trung của Việt Nam (Nguyễn Hồng Giang & Lại Xuân Thủy, 2014) [6]. Nguyễn Thị Nhƣ Hồng (2016) trong nghiên cứu "Biểu hiện của NLTƢN ở SV Sƣ phạm trƣờng đại học Quy Nhơn trong TTSP". Theo tác giả, các biểu hiện của NLTƢN ở SV Sƣ phạm gồm: tâm thế nghề nghiệp; thích ứng với nội dung TTSP; thích ứng với rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp; thích ứng với các điều kiện, phƣơng tiện TTSP; thích ứng với các mối quan hệ trong đợt TTSP.
Kết quả nghiên cứu cho thấy SVSP thích ứng tốt nhất với các mối quan hệ trong đợt TTSP và kém thích ứng hơn cả với việc rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp [9]. Đánh giá NLTƢN nói chung và đánh giá NLTƢN của GV nói riêng là một hoạt động có tầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lƣợng. GV là tâm điểm của quá trình giáo dục, là yếu tố cốt lỗi cải tạo ra nguồn nhân lực cho xã hội.