Chương 1 sẽ trình bày về bối cảnh, vấn đề, câu hỏi, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Ở chương 2, cơ sở lý thuyết, khung nghiên cứu và kết quả của những nghiên cứu liên quan được nêu ra một cách tổng quát. Chương 3 phân tích ngành giấy Việt Nam trong tương quan với ngành giấy thế giới và đưa ra những đánh giá. Chương 4 trình bày bài học kinh nghiệm trên thế giới và thảo luận về khả năng áp dụng tại Việt Nam.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -6- CHƯƠNG 2. Những nghiên cứu đi trước Barr và Cossalter (2004) đánh giá tính cạnh tranh của ngành giấy và bột giấy của Trung Quốc qua việc kết hợp chính sách hỗ trợ từ nhà nước và số liệu thống kê về thực trạng của ngành. Các chính sách được nghiên cứu phân tích là chính sách ưu tiên dự án tích hợp, chính sách tài trợ về vốn, lãi suất, thời gian vay đối với các dự án, chính sách phân cấp đầu tư cho chính quyền địa phương, tài trợ vốn cho phát triển rừng nguyên liệu. Các tác giả chỉ ra bốn hình thức liên kết giữa công ty với cộng đồng địa phương trong chăm sóc rừng.
Năng lực cạnh tranh của ngành được tổng hợp lại qua các nghiên cứu trước và số liệu được công bố. Theo nghiên cứu, chi phí sợi gỗ của Trung Quốc cao hơn những quốc gia như Brazil, Indonesia, trong tương lai ngành giấy Trung Quốc sẽ gặp khó khăn do mất cân đối giữa năng lực sản xuất giấy và diện tích rừng có thể khai thác. Zhuang và cộng sự (2006) lược khảo về ngành công nghiệp giấy và bột giấy Trung Quốc từ năm 1979. Số liệu về năng lực sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu, nhập khẩu các loại giấy, bột giấy được lấy từ niên giám thống kê hàng năm của Trung Quốc.
Nghiên cứu sử dụng kết quả của các nghiên cứu đi trước về độ co giãn của cầu, tác động của đổi mới công nghệ đến năng suất, số liệu tài chính được công bố của các doanh nghiệp trong ngành để bình luận về các chính sách can thiệp của nhà nước. Ngoài ra, các tác giả cũng tiến hành khảo sát thực địa tại hai công ty điển hình. Công ty thứ nhất sử dụng công nghệ cũ, gây ô nhiễm, hiệu suất không cao nhưng có ưu thế gần nguồn nguyên liệu, nguồn nước. Công ty thứ hai sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường.
Kết quả nghiên cứu cho thấy sản xuất của Trung Quốc sẽ không theo kịp với mức tăng trưởng nhu cầu trong nước, các nhà máy nhỏ, lạc hậu sẽ bị đóng cửa do không hiệu quả, đầu tư nước ngoài sẽ giúp Trung Quốc hiện đại hóa công nghệ sản xuất giấy, bột giấy. Miyanishi (2015) sử dụng số liệu về sản lượng sản xuất, tiêu dùng giấy, số lượng lao động, số liệu về giấy phế thải, nguyên liệu gỗ, năng lượng được công bố để miêu tả về ngành giấy nước Nhật. Bên cạnh đó, từ tổng hợp các thông tin, tài liệu, nghiên cứu chỉ ra các phong trào đổi mới của ngành giấy đang diễn ra là sử dụng cây nguyên liệu biến đổi gen, công nghệ in theo yêu cầu, dung môi làm giảm nhiệt độ nóng chảy, công nghệ sợi nano. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -7- Kathuria (2014) nghiên cứu vai trò của chính sách trong việc thay đổi cấu trúc ngành công nghiệp giấy và bột giấy và ảnh hưởng của khoảng cách công nghệ tới tính hiệu quả của ngành giấy và bột giấy.
Tác giả mô tả ngành giấy Ấn Độ thông qua các con số về sản lượng tiêu thụ, công suất, sản lượng sản xuất, số lượng nhà máy, chính sách của nhà nước. Thông số tài chính của các công ty niêm yết được nghiên cứu sử dụng để ước tính sự thay đổi cấu trúc trong ngành công nghiệp, tác động của khoảng cách công nghệ đến năng suất trong ngành giấy và bột giấy. Hiệu quả công nghệ được đo lường dùng phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Fontier Analysis). Kết quả nghiên cứu cho thấy công suất các nhà máy đã vượt hơn sản lượng đầu ra, cạnh tranh nguyên liệu đầu vào buộc các nhà máy không hiệu quả phải đóng cửa.
Tác giả tìm ra hai chính sách chủ yếu ảnh hưởng đến việc thay đổi cấu trúc của ngành giấy ở Ấn Độ là Luật hàng hóa thiết yếu và Luật về nghiêm cấm xuất khẩu. Theo nghiên cứu, quy mô về vốn và lao động sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, những công ty ra đời muộn thường hiệu quả hơn. McCarthy và Lei Lei (2010) sử dụng dữ liệu từ năm 1961-2000 của FAO để ước tính mô hình cầu cho giấy và bột giấy của bốn khu vực là Châu Á, Châu Âu, Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ, Nam Mỹ. Nghiên cứu chỉ ra cầu các sản phẩm giấy trong ngắn hạn không co giãn, cầu dài hạn co giãn hơn.
Tiêu thụ giấy bình quân đầu người có quan hệ với GDP bình quân đầu người, tỷ lệ đô thị hóa. Các nước tiêu dùng giấy cao có xu hướng giảm tiêu dùng giấy do chuyển sang sử dụng nhựa, sự phát triển của công nghệ thông tin (McCarthy & Lei Lei, 2010). Karikallio và cộng sự (2011) nghiên cứu về cạnh tranh trong ngành công nghiệp giấy, bột giấy bằng cách khái quát thị phần của những công ty giấy, bột giấy lớn nhất thế giới, tính toán độ co giãn của cầu xuất khẩu đối với giá giấy, bột giấy, kiểm tra sự tồn tại của luật một giá. Kết quả nghiên cứu chỉ ra dù thị trường giấy chia thành từng khu vực nhưng xu thế toàn cầu hóa, việc giảm các rào cản thương mại quốc tế buộc các công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh từ khắp nơi trên thế giới.
Karikallio và cộng sự (2011) cho thấy không có một công ty nào trong ngành giấy có thể tăng giá mà không bị giảm thị phần cũng như doanh thu. Toivanen (2013) nghiên cứu về đổi mới công nghệ trong ngành giấy, bột giấy của Mỹ từ đầu thế kỷ 19 để làm bài học cho Brazil. Tác giả sử dụng sự kiện từ các nghiên cứu trước để làm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -8- cơ sở phân tích. Kết quả nghiên cứu cho thấy các rủi ro về thất bại thị trường và thất bại nhà nước luôn hiện diện, nhà nước phải thấy được những gì mà thị trường và công nghệ có thể thực hiện để có định hướng điều chỉnh phù hợp.
Đổi mới công nghệ, quy trình sản xuất và tinh thần doanh nhân đã mang lại sức sống trong hơn hai thế kỷ cho ngành giấy, bột giấy ở Mỹ. Trong đó, công nghệ là yếu tố quan trọng nhất. Công nghệ giúp chuyển hóa những tài nguyên bị bỏ quên thành những nguyên liệu có giá trị. Nghiên cứu khuyến nghị xây dựng hệ thống đổi mới ở tầm quốc gia, đảm bảo môi trường cho những đổi mới tiên phong trong ngành.
Đổi mới công nghệ sản xuất giấy ở Mỹ Hoạt động sản xuất ngành giấy ở Mỹ trải qua các mốc sự kiện: chuyển đổi từ sử dụng vải vụn sang sử dụng nguyên liệu gỗ bằng phương pháp sunfit, và sau đó là công nghệ sunfat. Ngành giấy ở Mỹ bắt đầu từ nửa sau thế kỷ 19, khi nhu cầu giấy in báo giá tăng và giá cả vải vụn ở Mỹ tăng cao. Năm 1899 quá trình sunfit (nấu gỗ trong dung dịch axít) ra đời giúp tận dụng được nguồn cây không có nhựa (cây tùng ở Đông Bắc Mỹ), gần nguồn thủy điện, thị trường ở Mỹ. Quá trình sunfit đã thay thế hoàn toàn việc sản xuất giấy từ vải vụn.
Nhiều nghiên cứu cải tiến công nghệ, quy trình sản xuất, quản lý ra đời sau đó. Trong đó nổi bật là việc tích hợp về phía sau (các khu rừng), về phía trước (mạng lưới phân phối). Sau một thời gian phát triển, công nghệ sunfit cũng gặp những vấn đề giới hạn về khả năng sản xuất sau khi đã gia tăng hiệu quả sản xuất, ngành đi theo xu thế hợp nhất, gia tăng bảo hộ để cắt giảm chi phí. Bắt đầu từ năm 1930, công nghệ sunfat ra đời.
Công nghệ sunfat giúp sử dụng những cây có nhựa ở phía nam, và dần lấy đi vị trí thống lĩnh của quy trình sunfit trên toàn thế giới. Quá trình hoàn thiện quy trình sunfat gắn liền với các công ty của Mỹ mà nổi bật là International Paper. Các công ty khác cũng liên tục nâng cấp để tận dụng lợi thế theo quy mô, chuẩn hóa các quy trình sản xuất. Cuộc cách mạng sunfat kết thúc vào năm 1960 khi các công nghệ mới trong ngành giấy, bột giấy ở Mỹ hoàn thành.
Hoạt động tiêu dùng cũng tạo ra sản phấm mới. Sau giai đoạn đầu tư quá mức vào giấy in báo, ngành giấy Mỹ đã phát minh ra những sản phẩm mới như giấy dùng trong hộ gia đình, giấy vệ sinh, giấy bao bì tạo thêm nhu cầu đối với ngành. Nguồn: Toivanen (2013) Jarvinen và cộng sự (2012) định nghĩa sức sống của cụm ngành được là khả năng tồn tại và duy trì mức độ hoạt động cao của cụm. Sức sống của cụm thế hiện sự thành công trong việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com -9- mang lại lợi ích kinh tế, xã hội, phục vụ cộng đồng của cụm.
Lợi thế cạnh tranh và sức sống là hai khái niệm tồn tại song song. Sức sống của cụm đo bằng tổng số lao động, số lượng các quan hệ trong mạng, mức độ kiến thức học thuật. Lợi thế cạnh tranh đo bằng hoạt động thương mại quốc tế, mức lương trung bình, tăng trưởng việc làm, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, cán cân thương mại. Tổng hợp các nghiên cứu trước, Jarvinen và cộng sự (2012) xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sức sống cụm ngành gồm: điều kiện các nhân tố nhân tố đầu vào, điều kiện cầu, mật độ doanh nghiệp trong cụm, chu kỳ sống của cụm và kiến trúc chuỗi giá trị của cụm.
Các yếu tố này ảnh hưởng đến cách một cụm ngành lớn lên, mất đi khả năng thích ứng, động lực cạnh tranh trong khi những cụm ngành mới dùng khả năng sáng tạo để thay đổi hiện trạng. Các nhân tố ảnh hưởng tới sức sống của cụm ngành Sức sống cụm ngành Mật độ doanh Điều kiện các nghiệp nhân tố Kiến trúc chuỗi giá trị Giai đoạn trong Điều kiện cầu vòng đời (Nguồn: Jarvinen và cộng sự 2012) Từ đó, Jarvinen và cộng sự (2012) phân tích lịch sử của cụm ngành giấy, bột giấy thế giới. Ban đầu nhà máy giấy, công nghiệp hóa học ở Anh chi phối hoạt động của ngành. Năm 1920 cụm Đức, Mỹ bắt đầu chiếm lĩnh ngành giấy, bột giấy thế giới.
Vị trí này được thay thế bởi cụm Bắc Âu khoảng thời gian 1980-1990.