Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 1986–2015, ngành sản xuất giấy Việt Nam đã ghi nhận bước tăng trưởng ấn tượng với sản lượng gia tăng gấp 22 lần. Tuy nhiên, tốc độ phát triển này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của một quốc gia có nguồn nguyên liệu rừng trồng dồi dào. Đến năm 2014, tổng sản lượng giấy sản xuất trong nước chỉ đạt khoảng 1,7 triệu tấn, đáp ứng một phần khiêm tốn nhu cầu nội địa, trong khi khối lượng giấy nhập khẩu chiếm gần 50% tổng mức tiêu thụ toàn thị trường.

Vấn đề cốt lõi của ngành nằm ở sự mất cân đối nghiêm trọng về cơ cấu sản xuất, công nghệ lạc hậu và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công thấp. Trong giai đoạn 1997–2010, tổng mức vốn đầu tư mà Nhà nước dành cho ngành giấy lên tới 3,6 tỷ USD (tương đương khoảng 58.000 tỷ đồng), cao gấp 9 lần so với mức dự toán 400 triệu USD do Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam đề xuất để tự chủ hoàn toàn nguyên liệu. Mặc dù nhận được nguồn lực bảo hộ khổng lồ, năng lực sản xuất bột giấy nguyên thủy trong nước vẫn trì trệ, dẫn đến sự lệ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Đi kèm với đó là những thách thức sinh thái gay gắt khi các nhà máy quy mô nhỏ và làng nghề xả thải trực tiếp từ 7.500 đến 10.000 m3 nước thải mỗi ngày ra các lưu vực sông tự nhiên.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện năng lực cạnh tranh của ngành giấy Việt Nam dựa trên phân tích các nhân tố sản xuất, lượng hóa mức độ hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp, nhận diện các tác động môi trường và đối chiếu bài học kinh nghiệm quốc tế từ Indonesia, Trung Quốc, Thái Lan và Nhật Bản. Phạm vi không gian và thời gian của nghiên cứu tập trung vào bức tranh toàn ngành tại Việt Nam xuyên suốt từ năm 1990 đến năm 2015. Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp các nhà hoạch định chính sách chuyển đổi mô hình quản lý từ bảo hộ can thiệp sang thúc đẩy thị trường cạnh tranh bình đẳng và phát triển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng mô hình Kim cương của Michael Porter về lợi thế cạnh tranh quốc gia, tập trung đào sâu vào điều kiện các nhân tố sản xuất bao gồm nguồn vốn, công nghệ, tài nguyên gỗ và nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Giả thuyết Porter về mối quan hệ giữa quy định môi trường và năng lực đổi mới sáng tạo, khẳng định rằng các tiêu chuẩn sinh thái nghiêm ngặt nhưng linh hoạt sẽ kích thích doanh nghiệp cải tiến công nghệ, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh và hiệu suất môi trường (Ambec và cộng sự, 2010).

Ngoài ra, lý thuyết về sức sống cụm ngành và kiến trúc chuỗi giá trị toàn cầu của Jarvinen và cộng sự (2012) được sử dụng để giải thích sự dịch chuyển các trung tâm sản xuất bột giấy thế giới. Bốn khái niệm chính được định nghĩa xuyên suốt bao gồm: Hiệu quả kỹ thuật, Hiệu quả quy mô, Năng lực cạnh tranh ngành và Bất cân xứng quy định môi trường.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên nền tảng nguồn dữ liệu thứ cấp tin cậy từ Tổng cục Thống kê, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAOSTAT), Bộ Công thương và Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam. Về mặt định lượng, nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu điều tra doanh nghiệp vừa và nhỏ hàng năm của Tổng cục Thống kê trong khoảng thời gian 12 năm liên tục từ 2003 đến 2014.

Cỡ mẫu nghiên cứu biến thiên từ 31 đến 73 doanh nghiệp mỗi năm theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho các doanh nghiệp sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy. Các đơn vị trong mẫu có quy mô tài sản bình quân dao động từ 3 đến 31 tỷ đồng, số lao động trung bình từ 25 đến 42 người và giá trị sản xuất hàng năm đạt từ 7 đến 25 tỷ đồng.

Lý do lựa chọn phương pháp Phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) với mô hình tối thiểu hóa chi phí đầu vào là vì DEA là kỹ thuật phi tham số vượt trội, không đòi hỏi phải giả định trước dạng hàm sản xuất như hàm Cobb-Douglas hay Translog. Phương pháp này cho phép đo lường chính xác hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô dựa trên các biến đầu vào thực tế gồm vốn sản xuất, số lao động bình quân và biến đầu ra là doanh thu thuần. Đồng thời, nghiên cứu phân tích các nghiên cứu tình huống điển hình về các sự cố môi trường và dự án đầu tư để làm rõ bức tranh thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, kết quả ước lượng từ mô hình DEA cho thấy mức độ phi hiệu quả kỹ thuật của các doanh nghiệp ngành giấy năm 2014 lên tới 64,0%, trong khi mức phi hiệu quả theo quy mô chiếm 45,0%. Hiệu quả thuần của ngành từng chạm mức đáy 5,2% vào năm 2007 trước khi phục hồi nhẹ lên 35,9% vào năm 2014. Điều này chỉ ra rằng ngành giấy hoàn toàn có tiềm năng gia tăng sản lượng đầu ra thêm ít nhất 35% đến 64% với cùng mức chi phí đầu vào hiện tại nếu tối ưu hóa quy mô và quản trị. Khảo sát thực tế cũng khẳng định hơn 70% doanh nghiệp thừa nhận chưa khai thác hết công suất máy móc và có khả năng nâng công suất từ 10% đến 100%. Năng suất lao động tại các doanh nghiệp trong nước rất thấp, đơn cử như Công ty Cổ phần Giấy Tân Mai cần tới 20 lao động để sản xuất 1.000 tấn giấy/năm, trong khi tại Indonesia con số này chỉ là 0,6 lao động/1.000 tấn.

Thứ hai, việc phân bổ và sử dụng vốn đầu tư của khối doanh nghiệp nhà nước bộc lộ sự lãng phí nghiêm trọng. Tổng công ty Giấy Việt Nam đã sử dụng 1,9 tỷ USD trong giai đoạn 1998–2010 nhưng sản lượng tuyệt đối không tăng mà tỷ trọng đóng góp cho toàn ngành liên tục sụt giảm. Dự án mở rộng Nhà máy Giấy Bãi Bằng giai đoạn 1 đội vốn lên 1.370,9 tỷ đồng so với dự toán ban đầu là 1.107,9 tỷ đồng và chậm tiến độ 2 năm. Điển hình nhất là Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam tại Long An tiêu tốn gần 3.000 tỷ đồng nhưng sử dụng công nghệ sản xuất bột từ cây đay không khả thi, dẫn tới việc Thủ tướng Chính phủ phải ra quyết định dừng đầu tư và thanh lý toàn bộ dự án vào năm 2014.

Thứ ba, cơ cấu chuỗi giá trị nguyên liệu tồn tại nghịch lý lớn khi Việt Nam là quốc gia xuất khẩu dăm gỗ hàng đầu thế giới với khối lượng trên 6 triệu tấn/năm nhưng chủ yếu bán thô sang Trung Quốc và Nhật Bản với mức giá thấp nhất thế giới. Ngược lại, ngành sản xuất giấy trong nước phải nhập khẩu tới 85% nguyên liệu giấy phế thải và phần lớn bột giấy nguyên thủy. Tỷ lệ thu gom giấy phế liệu nội địa chỉ đạt 10%–15%, thua xa mức 50% của Hàn Quốc và 75% của Nhật Bản.

Thứ tư, vấn đề ô nhiễm môi trường diễn biến phức tạp với sự phân hóa rõ rệt theo loại hình sở hữu. Trong số 500 doanh nghiệp sản xuất giấy được khảo sát, chỉ có khoảng 10% sở hữu hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn kỹ thuật. Lượng nước tiêu hao để sản xuất một tấn giấy tại Việt Nam dao động từ 100 đến 350 m3, cao gấp nhiều lần so với định mức 7 đến 15 m3 của thế giới. Các điểm nóng ô nhiễm kéo dài nhiều năm như Nhà máy Bột giấy An Hòa xả 7.500 m3 nước thải/ngày ra sông Lô hay làng nghề Phong Khê xả thải trực tiếp 10.000 m3/ngày ra môi trường tự nhiên.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân sâu xa của tình trạng kém hiệu quả xuất phát từ cơ chế can thiệp hành chính và các chính sách bảo hộ kéo dài thông qua hạn ngạch, bù giá và ưu đãi tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước. Sự bảo hộ này làm triệt tiêu động lực mở rộng quy mô và đổi mới công nghệ của các cơ sở sản xuất nội địa, duy trì sự tồn tại của hơn 2.000 doanh nghiệp siêu nhỏ có vốn dưới 50 tỷ đồng.

Dữ liệu thực nghiệm của nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ kết hợp giữa đường xu hướng phản ánh tỷ lệ thâm nhập của giấy nhập khẩu tăng nhanh từ dưới 20% lên gần 50% cùng các cột biểu thị khoảng cách chênh lệch giữa công suất thiết kế và sản lượng thực tế qua từng năm. Đồng thời, một biểu đồ thanh so sánh hiệu quả kỹ thuật DEA giữa các nhóm quy mô vốn sẽ minh chứng rõ nét rằng việc tái cơ cấu và sáp nhập doanh nghiệp mang lại sự cải thiện năng suất vượt trội hơn việc chỉ đầu tư công nghệ đơn lẻ.

So sánh với bức tranh quốc tế, trong khi Indonesia thành công xây dựng các tổ hợp tư nhân quy mô hàng triệu tấn áp dụng công nghệ tẩy trắng không clo nguyên tố (ECF/TCF) và Trung Quốc kiên quyết đóng cửa các lò bột lạc hậu dưới 50.000 tấn/năm, chính sách tại Việt Nam lại tạo rào cản hành chính đối với các dự án FDI hiện đại. Trường hợp liên doanh Sojitz và JK bị từ chối cấp phép dự án bột giấy 200.000 tấn/năm (trị giá 180 triệu USD) tại Quảng Ngãi vì lý do nằm ngoài quy hoạch cứng nhắc của Bộ Công thương đã cho thấy sự bất cập trong quản trị công nghiệp.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Bãi bỏ cơ chế quy hoạch cứng nhắc và thiết lập sân chơi cạnh tranh bình đẳng: Bộ Công thương và Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần chấm dứt việc phê duyệt quy hoạch công suất nhà máy theo địa giới hành chính trước năm 2018. Thay vào đó, chuyển hoàn toàn sang quản lý bằng hàng rào tiêu chuẩn kỹ thuật mở, quy định công suất tối thiểu cho các dự án giấy bao bì mới phải đạt từ 100.000 tấn/năm trở lên và dự án bột giấy từ 200.000 tấn/năm trở lên.

  2. Đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn toàn bộ tại các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả: Ủy ban Quản lý vốn Nhà nước tại doanh nghiệp và Tổng công ty Giấy Việt Nam cần hoàn tất thoái vốn 100% tại các nhà máy sản xuất thua lỗ trong giai đoạn 2017–2020. Mục tiêu là chấm dứt tình trạng trợ cấp chéo, kéo giảm mức độ phi hiệu quả quy mô của toàn ngành từ 45,0% hiện nay xuống dưới mức 15,0% vào năm 2022.

  3. Hoàn thiện chính sách thuế và thể chế phát triển kinh tế tuần hoàn: Bộ Tài chính phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy chế cho phép khấu trừ thuế giá trị gia tăng đối với các cơ sở thu mua giấy phế liệu từ mạng lưới ve chai cá thể. Thiết lập mục tiêu nâng tỷ lệ thu gom giấy phế thải nội địa từ mức 15% lên 40% vào năm 2020 và đạt 60% vào năm 2025, giúp giảm phụ thuộc vào nguồn phế liệu nhập khẩu.

  4. Kiên quyết thực thi quy chuẩn xả thải và lắp đặt hệ thống quan trắc tự động liên tục: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh cần bắt buộc 100% nhà máy sản xuất bột giấy và giấy bao bì hoàn thành lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải tự động truyền dữ liệu trực tiếp trước năm 2019. Áp dụng mức xử phạt lũy tiến và đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở vi phạm tại các lưu vực sông Lô, sông Cầu và cụm làng nghề Phong Khê, đồng thời khống chế định mức tiêu hao nước dưới 25 m3/tấn giấy.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Các nhà hoạch định chính sách công và cơ quan quản lý nhà nước: Bộ Công thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư các địa phương có thể sử dụng các phát hiện thực chứng để thiết kế lại quy hoạch ngành công nghiệp nặng, bãi bỏ các rào cản xin-cho và xây dựng chính sách thuế tài nguyên, thuế xuất khẩu dăm gỗ phù hợp.

  2. Lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp sản xuất giấy, bao bì: Các giám đốc điều hành có thể sử dụng kết quả phân tích biên hiệu quả DEA và các chỉ số tài chính để đánh giá vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp, từ đó xây dựng chiến lược mua bán và sáp nhập (M&A), mở rộng công suất tối ưu và tối thiểu hóa định mức tiêu hao năng lượng.

  3. Các tổ chức tài chính, ngân hàng và nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Các quỹ đầu tư và tập đoàn công nghiệp có thể khai thác bức tranh toàn cảnh về cung - cầu, chi phí đầu tư trên mỗi tấn công suất (USD/Adt) và rủi ro chính sách để đưa ra quyết định giải ngân chính xác vào các dự án sản xuất giấy bao bì và tái chế nguyên liệu quy mô lớn.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Chính sách công: Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận kết hợp giữa mô hình phi tham số DEA, khung phân tích cụm ngành của Michael Porter và cách tiếp cận đa chiều trong đánh giá chính sách công nghiệp gắn với bảo vệ môi trường.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Việt Nam xuất khẩu dăm gỗ đứng đầu thế giới nhưng vẫn thiếu hụt bột giấy trầm trọng?

Nghịch lý này xuất phát từ việc thiếu các nhà máy chế biến bột giấy quy mô lớn, hiện đại. Dù xuất khẩu hơn 6 triệu tấn dăm gỗ mỗi năm sang Trung Quốc và Nhật Bản với mức giá rẻ, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu hơn 80% lượng bột giấy nguyên thủy do các dự án nhà nước như Bãi Bằng hay Phương Nam đều chậm tiến độ, đội vốn hoặc phá sản.

Phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) chỉ ra điều gì về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngành giấy?

Mô hình DEA trên mẫu doanh nghiệp giai đoạn 2003–2014 cho thấy mức độ phi hiệu quả kỹ thuật lên tới 64,0% và phi hiệu quả quy mô là 45,0% vào năm 2014. Điều này chứng minh rằng ngành giấy hoàn toàn có thể gia tăng sản lượng đầu ra đáng kể với cùng mức vốn và lao động hiện tại nếu tiến hành hợp nhất và tối ưu hóa quy mô vận hành.

Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến các dự án bột giấy của Nhà nước thất bại hoặc hoạt động thua lỗ?

Nguyên nhân chính là tư duy quy hoạch chủ quan, duy ý chí và lựa chọn công nghệ sai lầm. Dự án Nhà máy Bột giấy Phương Nam tiêu tốn gần 3.000 tỷ đồng nhưng phải thanh lý vì công nghệ chế biến đay không khả thi, trong khi Dự án Bãi Bằng giai đoạn 1 đội vốn lên 1.370,9 tỷ đồng và liên tục trễ hẹn hoàn thành.

Các quy định môi trường nghiêm ngặt có làm suy giảm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giấy không?

Không, theo Giả thuyết Porter được kiểm chứng trong luận văn, các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt nhưng minh bạch sẽ tạo áp lực tích cực buộc doanh nghiệp đổi mới công nghệ, giảm định mức tiêu hao nước từ 100–350 m3 xuống dưới 15 m3/tấn sản phẩm, từ đó nâng cao năng suất tổng hợp và loại bỏ các cơ sở gây ô nhiễm.

Tại sao các doanh nghiệp FDI trong ngành giấy lại có hiệu quả vượt trội so với doanh nghiệp nội địa?

Các doanh nghiệp FDI như VinaKraft hay Chánh Dương sở hữu quy mô vốn hàng trăm triệu USD, dây chuyền tự động hóa cao và mạng lưới chuỗi giá trị toàn cầu. Năng suất lao động của khối này đạt mức 0,6 lao động/1.000 tấn giấy/năm, vượt trội hoàn toàn so với mức 20 lao động/1.000 tấn tại các doanh nghiệp truyền thống như Tân Mai.

Kết luận

  • Sản lượng ngành giấy tăng trưởng 22 lần sau Đổi mới nhưng quy mô vẫn còn phân mảnh, chỉ đạt 1,7 triệu tấn năm 2014 so với mức 10 triệu tấn của Indonesia và 108 triệu tấn của Trung Quốc.
  • Hiệu quả kỹ thuật của ngành rất thấp với mức phi hiệu quả kỹ thuật 64,0% và phi hiệu quả quy mô 45,0% theo kết quả đo lường DEA.
  • Nghịch lý chuỗi giá trị kéo dài khi xuất khẩu thô hơn 6 triệu tấn dăm gỗ giá rẻ nhưng phải phụ thuộc nhập khẩu 85% giấy phế liệu và phần lớn bột giấy nguyên liệu.
  • Chính sách bảo hộ hành chính và đầu tư công trực tiếp 3,6 tỷ USD giai đoạn 1997–2010 đã thất bại, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng tại các dự án chậm tiến độ.
  • Quy định môi trường khắt khe là đòn bẩy tất yếu để thúc đẩy đổi mới công nghệ và chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng bền vững.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là lượng hóa thực chứng tính phi hiệu quả của chính sách can thiệp bảo hộ trong ngành giấy, đồng thời thiết lập khung phân tích DEA làm cơ sở khoa học vững chắc cho việc tái cấu trúc ngành công nghiệp chế biến lâm sản. Lộ trình hành động đề xuất chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 2017–2020 tập trung hoàn tất thoái vốn nhà nước và xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm; giai đoạn 2021–2025 hình thành các cụm công nghiệp giấy sinh thái quy mô lớn. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng chuyển đổi tư duy, xóa bỏ rào cản hành chính để xây dựng một ngành giấy cạnh tranh sòng phẳng trên thị trường quốc tế.