LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội là một yêu cầu cấp thiết, là yếu tố quyết định cho sự thành công của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Giáo dục được coi là con đường ngắn nhất để phát triển nguồn nhân lực đó. Trong các nhà trường, môi trường giáo dục là tổng hòa các mối quan hệ trong đó người giáo dục và người được giáo dục tiến hành hoạt động dạy và học với các phương tiện, điều kiện vật chất, kĩ thuậ t, xã hội, tâm lý tác động thường xuyên và tạm thời, được người dạy và người học sử dụng một cách có ý thức.
Ngành giáo dục rất được chú trọng phát triển ở nước ta, nhất là giáo dục ĐH. Theo số liệu do Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố tính đến năm 2014, cả nước có 207 trường ĐH, so với năm 2007 tăng thêm 47 trường, trong đó trường công lập chiếm 33 trường tương đương 70,2% và công lập là 29,8%. Số lượng các trường ĐH tăng khoảng 22% trong năm năm, s ố trường ĐH tăng lên cũng kéo theo số lượng SV tăng lên đáng kể, 2007-2013 tăng thêm 272,520 SV. Từ năm 2007-2013 tỷ lệ SV thuộc các trường công lập tăng dần qua các năm và luôn chiếm trên 85% tổng số SV của ĐH toàn quốc.
Ngoài ra, số lượng SV thuộc các trường ngoài công lập tăng nhanh từ năm 2007 -2010. Số lượng GV của năm học 2012-2013 tăng lên 61% so với năm năm trước và số GV công lập chiếm hơn 80% trên tổng số GV. Số lượng GV là thạc sỹ, tiến sỹ, chuyên khoa I và II và trình độ khác tăng dần qua các năm , đáng chú ý là năm 2013 số lượng thạc sỹ tăng một cách vượt bậc bằng mức tăng của năm năm trước đó. Đội ngũ này đóng góp không nhỏ cho số lượng SV tốt nghiệp đại học các năm đều tăng nhanh xem Bảng số liệu thống kê các số liệu liên quan đến giáo dục Đại học Bảng 1.
Số lượng trường đại học ngày càng tă ng, các cơ sở giáo dục ĐH có thể thuộc quản lí nhà nước công lập hoặc tư thục. Khối công lập gồm các ĐH quốc gia; ĐH và trường ĐH cấp vùng; ĐH cấp địa phương; Các trường ĐH và học viện quân sự, công an; Các trường ĐH, học viện vừa trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa trực thuộc Bộ ngành đào tạo, hoặc tổ chức, đoàn thể khác. ĐH tư thục chia thành các trường ĐH do một cá nhân 4 z hoặc một nhóm cá nhân trong nước thành lập và tự đầu tư; Các trường ĐH có yếu tố nước ngoài liên kết với cá nhân/tổ chức trong nước thành lập và tự đầu tư. Tuy nhiên để các nhà quản lý có thể nhìn ra được vị trí về năng lực cạnh tranh của một trong các trường so với các trường còn lại trong hệ thống là không hề dễ dàng.
Mặc dù có hình thức quản lí khác nhau nhưng hệ thống giáo dục đạ i học Việt Nam thực hiện mục tiêu giáo dục ch ung là xây dựng cho được đội ngũ cán bộ khoa học, ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành nghề, có nghiệp vụ giỏi, có năng lực tổ chức và giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và có khả năng tiến kịp trìn h độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới Nâng cao chất lượng giáo dục đại học là một nhu cầu cấp thiết hiện nay trong xu thế đổi mới toàn diện nền giáo dục nước nhà đồng thời tăng cường tính cạnh tranh khi hội nhập vào khu vực và thế giới. Có nhiều giải pháp để thực hiện việc này, trong đó có hai giải pháp cơ bản hỗ trợ cho nhau, đó là kiểm định chất lượng và đánh giá xếp hạng trường đại học. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ một trong những mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tới năm 2030 là phát triển “một số trường ĐH ngang tầm khu vực và quốc tế”. Hiện tại, Việt Nam chưa có trường ĐH nào đứng trong bảng xếp hạng 200 trường ĐH trên thế giới, và chưa có trường nào lọt trong tốp đầu của các trường ĐH ở châu Á, trong khi nhiều trường đại học của các nước láng giềng như Singapo, Thái Lan Philippin, Inđônêsia đã có mặt.
Đặc biệt, Trường Đại học Chulalongkorn của Thái Lan còn được xếp trong danh sách 200 đại học hàng đầu thế giới. Để đạt mục tiêu đặt ra, Việt Nam cũng xem xét các trường ĐH tốp cao trên thế giới được đánh giá cao nhờ các tiêu chí, chỉ báo nào để so sánh. Trong xu hướng tìm các tiêu chí, chỉ báo phù hợp với ĐH Việt Nam đo đúng thực trạng của giáo dục đại học n ước ta để có thể tìm ra biện pháp thúc đẩy và phát t riển nền giáo dục nước nhà. Tuy nhiên, để đánh giá NLCT về một lãnh vực nào đó của một tổ chức, người ta thường xây dựng một bộ chỉ số chung để đánh giá.
Tùy thuộc vào việc đánh giá lĩnh vực gì, nhu cầu cụ thể ra sao mà xây dựng các chỉ số, tiêu chí và tr iển khai các cách đánh giá 5 z và cách tính điểm tương ứng. Mục đích của việc sử dụng các bộ chỉ số là để đánh giá một cách khách quan, công bằng chính xác, toàn diện và định lượng NLCT của tổ chức thông qua chất lượng hay hiệu quả hoạt động của tổ chức đó. Mặ c dù đánh giá các lĩnh vực khác nhau nhưng tất cả các bộ chỉ số đánh giá đều có điểm chung nhất đó là phải căn cứ trên một số CSKH nhất định để xây dựng. Trên thế giới hầu như quốc gia nào cũng chịu tác động của kết quả xếp hạng NLCT các quốc gia do WEF tiến hành định kỳ hàng năm và xếp hạng NLCT và môi trường kinh doanh của mỗi quốc gia do Ngân hàng Thế giới và Tổ chức tài chính quốc tế thực hiện,.
Những quốc gia có vị trí cạnh tranh cao luôn có lợi thế hơn còn những quốc gia có vị trí thấp luôn tìm cách cải tiến vị trí cạnh tranh của mình. Tác dụng to lớn của các bộ chỉ số đánh giá NLCT của một lĩnh vực nào đó được ghi nhận, được cá nhân/tổ chức tham gia nghiên cứu các chỉ số đánh giá, cách thức đánh giá nhằm nâng cao vị trí cạnh tranh đối với lĩnh vực mà tổ chức đó quan tâm. Ở Việt Nam đặt lĩnh vực giáo dục ĐH trong thị trường cạnh tranh là vấn đề không dễ chấp nhận, bởi vì đề cập đến cạnh tranh, người ta thường nghĩ đến các vấn đề liên quan đến nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, trong 3 năm trở lại đây đã có một vài công trình nghiên cứu lập luận về vấn đề giáo dục ĐH trong nền kinh tế thị tr ường và vần đề thương mại hóa giáo dục.
Tiêu biểu có công trình nghiên cứu “Phát triển giáo dục Việt Nam trong nền kinh tế thị trường và trước yêu cầu hội nhập quốc tế”1 do PGS. Trần Quốc Toản chủ nhiệm cùng với tập thể các nhà khoa học trong nước thực hiện và xuất bản thành sách cùng tên đã chỉ rõ được các quan điểm và xu hướng nhìn nhận giáo dục trong nền kinh tế thị trường. Cùng xu hướng đó là bài viết “ nhìn nhận thương mại hóa trong giáo dục hiện nay và con đường đi tới của Giáo dục Việt Nam” 2 của GS. Ngô Tự 1 PGS.
Trần Quốc Toản (2012), Phát triển giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế , Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2 TS. Ngô Tự Lập (2013), Thương mại hóa trong giáo dục hiện nay và con đường đi tới của Giáo dục Việt Nam. 6 z Lập tác giả cho rằng có hai cách quan niệm về giáo dục, đó là (1) coi giáo dục như là hoạt động công ích và (2) coi giáo dục là dịch vụ, tức là một hoạt đ ộng kinh doanh. Theo xu hướng xem giáo dục là dịch vụ này, chúng ta có thể đặt giáo dục ĐH Việt Nam trong thị trường cạnh tranh, điều này có nghĩa là xem giáo dục ĐH là một loại hình dịch vụ, các CSGDĐH là một đơn vị cung cấp dịch vụ mà đối tượng khách hà ng chính là người học.
Khi xem xét trường ĐH là một đơn vị cung cấp dịch vụ thì phải đặt các trường ĐH trong thị trường giáo dục có sự cạnh tranh, đã cạnh tranh cần phải biết được mình đang ở đâu so với đơn vị khác, bản thân đơn vị có những năng lực, lợi t hế gì trong cạnh tranh. Thực tế cho thấy, năng lực, lợi thế cạnh tranh không chỉ nằm ở bản thân mỗi hoạt động của trường ĐH mà còn ở cả mối liên kết giữa các hoạt động với nhau trong mỗi trường. Tương quan giữa trường này với trường khác trong cơ chế chính sách của nhà nước áp dụng cho hệ thống các trường cũng như trong không gian địa lý, điều kiện kinh tế xã hội mà trường tọa lạc. Ngoài việc các trường ĐH cần biết vị trí cạnh tranh của mình trong hệ thống các trường ĐH khi đặt trong thị trường giáo dục để biết được điểm yếu, điểm mạnh của mình so với các đơn vị khác thì NLCT của mỗi trường ĐH cũng hết sức cần thiết cho người học.
Tuy nhiên, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức không dễ dàng tìm kiếm thông tin để so sánh năng lực cạnh của một trường ĐH này với một trườn g ĐH khác khi chưa có một bộ chỉ số đánh giá NLCT chung và có số liệu được công bố rộng rãi. Xuất phát từ mục đích tìm ra các chỉ số đánh giá cụ thể từng hoạt động của trường ĐH, giúp người học, phụ huynh, các bên có liên quan và có nhu cầu cũng như các trường ĐH Việt Nam có cái nhìn tổng quát và dễ dàng so sánh khi họ tìm kiếm thông tin về một trường ĐH bất kỳ. Với những lý do trên chúng tôi chọn đề tài “CSKH của bộ chỉ số đ ánh giá năng lực cạnh tranh áp dụng cho các trường đại học” để làm khóa luận tố t nghiệp chương trình thạc sĩ đo lường và đánh giá trong giáo dục. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Mục đích tổng quát: Đề tài hướng đến việc xác định cơ sở khoa cho việc x ây dựng bộ chỉ số đ ánh giá năng lực cạnh tranh áp dụng cho các trường đại học và bước đầu tiến hành thử nghiệm tính khả thi và tính ứng dụng của bộ chỉ số này.