Chương 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu - Chương 2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Kết quả nghiên cứu Phần kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Các phụ lục 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Lịch sử nghiên cứu 1. Sơ lược các nghiên cứu về thực hành đạo đức nghề trên thế giới Ngành tâm lý học nói chung đã ra đời từ rất sớm vào khoảng thế kỷ XVI. Tuy nhiên, việc phát triển quy tắc đạo đức và quy tắc ứng xử nghề nghiệp để hướng dẫn cho các nhà tâm lý học có một lịch sự tương đối ngắn. Năm 1953, Quy tắc đạo đức đặc biệt cho các nhà tâm lý học mới được ban hành bởi Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (APA) , nó được phát triển dựa trên kinh nghiệm sau một cuộc khảo sát điều tra tình huống khó xử mà các nhà tâm lý học phải đối mặt trong quá trình hành nghề ở các lĩnh vực tâm lý khác nhau [12].
Như vậy, nghiên cứu về thực hành đạo đức nghề nghiệp đã xuất hiện trước cả khi quy tắc đạo đức nghề nghiệp được ban hành. Tuy nhiên, mặc dù Quy tắc đạo đức nghề nghiệp cho các nhà tâm lý được tạo ra là để hướng dẫn và trợ giúp nhà tâm lý hành nghề tốt hơn nhưng vẫn có vô số sự vi phạm hoặc khó khăn khiến nhà tâm lý bị lúng túng trong việc xác định một hành vi nào đó là đạo đức hay phi đạo đức. Ellen Linden và Johanna Radestrom (2008) sau khi nghiên cứu về các tình huống lưỡng nan của Thụy Điển và Nam Phi, tiến hành đối chiếu kết quả đã thực hiện từ các năm trước đó trên hai quốc gia này đã nhận định rằng “nhận thức đạo đức của các nhà tâm lý học không phát triển tích cực”[45]. Đây là vấn đề cần bàn thảo một cách nghiêm túc và có những nghiên cứu để tìm ra các biện pháp có hiệu quả để cải thiện thực hành đạo đức của các nhà tâm lý.
Khảo sát quốc gia về đạo đức trong tham vấn của Gibson và Pope Năm 1993, Gibson và Pope đã thực hiện cuộc khảo sát cấp độ quốc gia về đạo đức trong tham vấn đối với các nhà tâm lý được cấp chứng chỉ hoạt động dịch vụ tham vấn tâm lý tại Hoa Kỳ[7]. Một chương trình máy tính được chạy để chọn ra mẫu ngẫu nhiên với tổng cộng 1.024 nhà tham vấn được cấp chứng nhận bởi Ủy ban nhà tham vấn được cấp phép (NBCC). Những người này được mời trả lời bảng hỏi với 88 hành vi khác nhau và nhóm nghiên cứu đã thu được 579 phiếu trả lời. Độ tuổi trung bình của người trả lời dao động từ 35 – 50, với 51% là nữ giới, 35% là nam giới và 14% không tiết lộ giới tính của họ.
Phần lớn người trả lời có trình độ thạc sĩ 67%, trong khi tiến sĩ là 23%. Kiểm định Khi bình phương (Chi-square test) 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chỉ ra rằng những người tham gia không khác biệt đáng kể về giới hạn bằng cấp và mức độ chấp hành kỷ luật so với những nhà tham vấn khác mà NBCC đã cấp bằng. Tổng cộng có 68% người trả lời báo cáo đang làm việc trong nhiều tổ chức, 29% cho biết họ đã hoàn thành một khóa học chính thức về đạo đức, 68% báo cáo đã được tiếp cận các hướng dẫn về đạo đức được tích hợp trong nhiều môn học khác nhau, và có 27% cho biết họ không có hướng dẫn đạo đức nào trong chương trình học của họ. Nghiên cứu đưa ra bảng hỏi để người tham gia lựa chọn hành vi nào trong số 88 hành vi đã liệt kê là đạo đức và mức độ tự tin của họ đối với sự lựa chọn đó.
Bảng 2 yêu cầu người tham gia trình bày xếp hạng đối với 16 nguồn thông tin đạo đức. Nhóm nghiên cứu đã kiểm tra độ tin cậy của bảng hỏi bằng kiểm định độ tin cậy ổn định bên trong Chronbach Alpha đã chỉ ra .88 đối với thang xác định hành vi có đạo đức hoặc không; và .97 đối với thang đo về mức độ tự tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 21 hành vi mà trong đó ít nhất 90% số người đánh giá là phi đạo đức, trong đó gần một phần tư (24%) trong số này là hành vi liên quan đến tình dục. Khoảng gần một phần năm (19%) số hành vi bị coi là phi đạo đức liên quan đến lỗi về sự chấp thuận hay quyền đồng ý của khách hàng.
Khoảng 14% tập trung vào việc cung cấp tham vấn khi không có năng lực hoặc năng lực bị suy giảm do mệt mỏi hoặc say rượu. Có 11 hành vi mà có ít nhất 90% số người tham gia đã đánh giá là có đạo đức. Khoảng hơn một phần tư (27%) số này có liên quan đến bảo mật, nhóm còn lại phân loại khá đa dạng. Nghiên cứu cũng chỉ ra có sự khác nhau giữa nhận thức về hành vi đạo đức hoặc phi đạo đức giữa các nhóm nhân khẩu học khác nhau.
Trong khi những người trẻ có vẻ coi “giúp khách hàng khiếu nại đồng nghiệp” là có đạo đức thì những người lớn tuổi cho rằng “cung cấp tham vấn cho một trong những nhân viên của bạn” là có đạo đức. Người trả lời là nam giới có dễ dàng chấp nhận và tham gia vào các hoạt động tình dục với khách hàng hơn nữ giới. Gibson và Pope đã so sánh kết quả này với các nghiên cứu trước đây của Pope, Keith-Spiegel và Tabachnick (1986); Pope, Tabachnick và Keith-Spiegel (1987); Pope và Vetter (1991) thì thấy có sự phù hợp. Những người trả lời làm việc cho các tổ chức tư nhân vốn bị phụ thuộc trực tiếp vào việc thanh toán phí của khách hàng cảm thấy dễ tổn thương về 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tài chính và thu nhập hơn nên khá đề cao đối với việc thu phí.
Vì thế mà “chấm dứt tham vấn khi khách hàng không thể trả phí” hoặc “tính phí cho cả những lần bỏ hẹn” đều được họ coi là hành vi đạo đức. Đối với bảng 2 để đo độ tự tin của nhà tâm lý đối với các lựa chọn của mình. Có 21 mục mà người trả lời có độ tự tin trung bình đạt mức ít nhất là 9,9. Hơn một phần tư (29%) có liên quan tới bảo mật và khoảng 24% có liên quan vấn đề tình dục.
Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra một số hành vi còn đang gây tranh cãi. Đây là hành vi đã được định nghĩa mà có ít nhất 40% số người tham gia đánh giá là phi đạo đức. Có hàng tá các hành vi đáp ứng được tiêu chí này, trong số đó có 42% liên quan đến phí và 42% khác liên quan đến một số vấn đề về mối quan hệ kép/sóng đôi. Nghiên cứu cũng dành một phần để điều tra thái độ của người tham gia đối với các nguồn cung cấp hướng dẫn thực hành đạo đức.
Theo đó thì nguồn có độ tin cậy sắp xêp theo thứ tự giảm dần theo quan điểm của các nhà tâm lý là tiêu chuẩn đạo đức của Hiệp hội Tâm lý Hoa kỳ (APA), Ủy ban đạo đức Hoa Kỳ (AACD), Tạp chí tham vấn và phát triển, Hội đồng cấp phép bang (NBCC) và các đồng nghiệp. Những người tham gia đã đưa ra đánh giá thấp nhất của họ, theo thứ tự tăng dần, là các văn bản của các ủy ban đạo đức của địa phương, công trình nghiên cứu lâm sàng và lý thuyết được công bố, các quyết định của tòa án, luật tiểu bang và liên bang, và các cơ quan mà họ đã từng làm việc. Vì đây là nghiên cứu lần đầu tiên nên vẫn có một số điểm hạn chế. Trước hết, người tham gia là những người được cấp chứng nhận bởi NBCC nên kết quả nghiên cứu không thể dùng để khái quát hóa cho tất cả những người chưa được NBCC cấp chứng nhận.
Ngoài ra, chuẩn mực đạo đức cụ thế có thể không được phản ánh trong niềm tin của số đông. Bảng hỏi có có một số câu nội dung phức tạp nhưng lại không có nỗ lực nào được thực hiện để cung cấp và phân tích độc lập về các vấn đề đạo đức phức tạp thể hiện trong 88 hành vi. Hơn nữa, bảng hỏi được áp dụng cho các nhà tham vấn Mỹ nên nếu được tham khảo và sử dụng vào các quốc gia khác không cùng trình độ hoặc có nền văn hóa tương tự thì kết quả cũng có nhiều điểm khác đi. Các nghiên cứu về tình huống lưỡng nan trong thực hành đạo đức 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngay cả khi có các hướng dẫn thực hành đạo đức chính thức được ban hành, các nhà tâm lý vẫn gặp những khó khăn khi áp dụng chúng trong những công việc hàng ngày của mình.
Các tình huống lưỡng nan xảy ra và nhà tâm lý cảm thấy lúng túng hoặc mơ hồ khi quyết định hành vi đạo đức. Các tình huống lưỡng nan sẽ là thách thức lớn đối với các nghiên cứu liên quan đến đánh giá năng lực áp dụng các nguyên tắc đạo đức của nhà tâm lý. Nhiều nghiên cứu khác nhau được thực hiện ở các quốc gia khác nhau đã cho thấy điều này. Do đó, tìm hiểu sâu về các tình huống lưỡng nan sẽ giúp nghiên cứu này thiết kế bảng hỏi và thang đo hợp lý hơn, phân loại các nhân tố dựa trên nội dung câu hỏi đồng thời đưa ra các nhận định khách quan hơn khi phân tích và đánh giá kết quả thu được từ các trả lời của người tham gia nghiên cứu.
Rådeström (2008) [45] đã dẫn chiếu nghiên cứu của Colnerud (1995) , mà theo đó khó khăn về đạo đức có thể được phân loại theo ba cấp độ khác nhau tùy thuộc vào sự phức tạp của việc ra quyết định bao gồm vấn đề đạo đức, xung đột đạo đức và tình huống khó xử đạo đức. Một vấn đề đạo đức xảy ra khi các nhà tâm lý học không thể tìm thấy một giải pháp cho tình hình trước mắt. Tuy nhiên, họ vẫn có khả năng giải quyết nếu nghiên cứu thêm về nội dung của vấn đề, các quy tắc và hướng dẫn về đạo đức, hay hỏi ý kiến các đồng nghiệp và người giám sát, các nhà chuyên môn khác. Một mâu thuẫn/xung đột đạo đức được xác định bởi một tình huống mà hai hoặc nhiều lợi ích xung đột nhau.
Với mâu thuẫn đạo đức thì chỉ một giải pháp được đưa ra sau khi đánh giá về các lợi ích bị ảnh hưởng.