phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn bao gồm 3 chƣơng chính với các nội dung sau: - Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở khoa học. Các nhân tố thành tạo và đặc điểm cảnh quan khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An. Đánh giá tính toàn vẹn cảnh quan và định hƣớng không gian bảo tồn đa dạng sinh học khu Dự trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An.
CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến luận văn 1. Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học 1. Quan niệm về quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học Trong suốt những năm 1970, một số quốc gia đã nỗ lực trong việc thiết lập kế hoạch bảo tồn ĐDSH.
Ví dụ, Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên (TNC), tổ chức bảo tồn thành lập tại Hoa Kỳ, đã thành lập Chƣơng trình Di sản Tự nhiên cấp tiểu bang đầu tiên vào đầu những năm 1970. Họ thiết kế chƣơng trình này để thu thập, quản lý và phổ biến thông tin về tình trạng và sự phân bố của các loài thực vật, động vật quý hiếm và các quần xã sinh vật [77]. Cuối cùng, những thông tin đó đƣợc sử dụng để xác định địa điểm cần ƣu tiên bảo tồn cao. Một mạng lƣới các Chƣơng trình Di sản Thiên nhiên và Trung tâm Dữ liệu Bảo tồn đã tồn tại ở hầu hết các bang và tỉnh của Hoa Kỳ và Canada, cũng nhƣ một số quốc gia vùng Caribe và Mỹ Latinh [70].
Từ đó, ĐHKG nổi lên nhƣ một khuôn mẫu và nhiều quốc gia bắt đầu nhận ra sự cần thiết của quy hoạch có hệ thống. Công ƣớc về ĐDSH (CBD) chính thức công nhận nhu cầu này cũng nhƣ cung cấp phƣơng tiện để phát triển các ĐHKG cấp quốc gia [70]. Đầu những năm 1970, UNESCO khởi động Chƣơng trình Con ngƣời và Sinh quyển (MAB) [88]. Mục tiêu của MAB là thiết lập một mạng lƣới quốc tế các khu DTSQ nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên sinh vật quan trọng, phát triển tăng trƣởng kinh tế xanh và hỗ trợ nghiên cứu, giám sát và giáo dục môi trƣờng [94].
Đồng thời tại Úc, các nhà khoa học cũng tập trung vào thiết lập hệ thống KBT thiên nhiên toàn diện và đại diện về mặt sinh học trên khắp đất nƣớc [88]. Họ tiếp tục đi đầu trong lĩnh vực ĐHKG ĐDSH bằng việc đánh giá có hệ thống các KBT hiện tại trên cơ sở địa sinh học và thành lập các KBT mới thông qua Chƣơng trình Dự trữ Quốc gia [90]. Năm 2004, ĐHKG ĐDSH là những vấn đề trọng tâm đối với Hiệp hội Phục hồi Sinh thái Quốc tế. Họ tuyên bố sứ mệnh của mình là: ―thúc đẩy phục hồi sinh thái nhƣ một phƣơng tiện duy trì sự đa dạng của sự sống trên Trái Đất và thiết lập lại mối quan hệ lành mạnh về mặt sinh thái giữa tự nhiên và văn hóa‖ [70].
Nhiều tổ chức xây dựng kế hoạch bảo tồn ĐDSH nhằm xác định các ƣu tiên bảo tồn của khu vực, quốc gia hoặc lục địa [70]. Ví dụ nhƣ Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) và Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI) đặt ra các ƣu tiên toàn cầu về bảo tồn ĐDSH thông qua việc đánh giá nhằm xác định chính xác các vùng sinh thái quan trọng nhất về mặt sinh học và các ―điểm nóng‖ về ĐDSH [70]. Tổ chức BirdLife International xác định đƣợc các điểm nóng về loài chim đặc hữu trên khắp thế giới [70]. Liên minh châu Âu đang tạo ra một mạng lƣới các KBT trên khắp châu Âu đƣợc gọi là Natura 2000 để bảo tồn các loài nguy cấp và sinh cảnh sống dễ bị tổn thƣơng [70].
5 Tại Việt Nam, ĐHKG đƣợc xác định rõ trong Luật ĐDSH (2008) [24] là: “Việc bảo vệ sự phong phú của các HST tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ môi trường sống tự nhiên thường xuyên hoặc theo mùa của loài hoang dã, CQ môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên; nuôi, trồng, chăm sóc loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ; lưu giữ và bảo quản lâu dài các mẫu vật di truyền”. Luật Quy hoạch năm 2017 [12] nêu rõ ĐHKG ĐDSH quốc gia có năm nội dung chủ yếu. Trong đó, các đối tƣợng quy hoạch là khu vực ĐDSH cao; CQ sinh thái quan trọng; KBT thiên nhiên; HL ĐDSH; cơ sở bảo tồn ĐDSH. Luật Bảo vệ môi trƣờng năm 2020 [26] đề cập việc sắp xếp phân bố không gian bảo tồn thiên nhiên và ĐDSH trong quy hoạch bảo vệ môi trƣờng quốc gia.
Mục đích là bảo vệ môi trƣờng, phục vụ mục tiêu PTBV đất nƣớc cho thời kỳ xác định. 02 đối tƣợng mới đƣợc đƣa vào quy hoạch là khu vực ĐDSH cao và CQ sinh thái quan trọng [27]. Cách tiếp cận và phương pháp quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học Các phƣơng pháp đánh giá và bảo tồn ĐDSH chia thành hai hƣớng: (1) chiến lƣợc phản ứng thực hiện sau khi xác định đƣợc vấn đề, và (2) chiến lƣợc chủ động thực hiện trƣớc khi vấn đề phát sinh. Nói cách khác, chiến lƣợc phản ứng hƣớng đến một hoặc nhiều ―loài có nguy cơ tuyệt chủng‖ nhằm giải quyết vấn đề mà các loài đang gặp phải.
Còn chiến lƣợc chủ động đối với các ―điểm nóng‖ (hotspot) sẽ tập trung vào bảo vệ các khu vực địa lý có tính ĐDSH cao. Tại Bắc Mỹ, cộng đồng sử dụng cách tiếp cận phản ứng, còn gọi là ―bộ lọc tinh‖ (fine-filter), để thực hiện mục tiêu quản lý số lƣợng loài ngày càng suy giảm nhằm đảm bảo sử dụng bền vững. Những nỗ lực ban đầu có xu hƣớng tập trung vào động vật có xƣơng sống cỡ lớn đƣợc đánh giá cao nhờ vào khả năng khai thác thịt hoặc da. Dần dần, Đạo luật về các loài nguy cấp năm 1973 (ESA) [54] đã mở rộng phạm vi các loài cần bảo tồn bao gồm động vật không xƣơng sống, thực vật và các loài bị đánh giá thấp khác.
Noss và Cooperrider (1994) [79] chỉ ra rằng cách tiếp cận đơn loài này có một số nhƣợc điểm: - Chỉ tập trung vào động vật có xƣơng sống lớn và loại trừ thực vật, động vật không xƣơng sống. - Phƣơng pháp tiếp cận đơn loài không thể theo dõi số lƣợng lớn các loài trên thế giới. - Về mặt thời gian, phƣơng pháp này đã đặt sai trọng tâm vì mất sinh cảnh sống mới là nguyên nhân chính đe dọa các loài. - Hầu hết các nỗ lực bảo tồn đơn lẻ đều mang tính phản ứng, chỉ phát huy tác dụng sau khi một loài nhất định gặp khó khăn.
Mặt khác, cách tiếp cận chủ động, đƣợc gọi là ―bộ lọc thô‖ (coarse-filter) - tiếp cận bảo tồn ở quy mô CQ, bao gồm một số phƣơng pháp quản lý và quy hoạch mang tính toàn diện hơn. Cách tiếp cận này đƣợc cho là mang tính chiến lƣợc vì đòi hỏi việc 6 bảo vệ các vị trí trọng yếu trƣớc khi chất lƣợng của các CQ, sinh cảnh và loài toàn khu vực bị suy giảm. Ví dụ nhƣ Tổ chức Bảo tồn Quốc tế tại Hoa Kỳ đã sử dụng cách tiếp cận điểm nóng làm chiến lƣợc chính trong bảo tồn ĐDSH. Họ xác định đƣợc 25 điểm nóng trên toàn thế giới để tập trung nguồn lực của họ cho bảo tồn.
Phƣơng pháp tƣơng tự là phân tích ―khoảng trống‖ trong Chƣơng trình Phân tích Khoảng trống Quốc gia (GAP), do Phòng Tài nguyên Sinh học của Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ thực hiện. Phân tích GAP là phƣơng pháp dựa vào phân tích môi trƣờng sống để đánh giá ĐDSH. Trong GAP, các kiểu sinh cảnh sống nhất định tƣơng quan với nhu cầu của mỗi loài nhất định và sau đó đƣợc sử dụng để dự đoán nơi những loài đó có thể tồn tại. Thông tin GAP sau đó đƣợc xác minh thông qua điều tra thực địa và từ đó có thể thành lập bản đồ hỗ trợ bảo tồn đa loài.
Bản đồ ĐHKG đƣợc xây dựng dựa trên việc chồng xếp các lớp bản đồ thành phần, sau đó đƣợc phủ lên toàn bộ khu vực quản lý để xác định các ―khoảng trống‖ và đề xuất định hƣớng. Kể từ năm 1988, 48 tiểu bang ở Mỹ đã thực hiện xây dựng bản đồ GAP để hỗ trợ không chỉ quy hoạch mà còn các hoạt động lập kế hoạch đa mục tiêu [79]. Ngoài ra, phƣơng pháp phân vùng sinh thái cũng cho hiệu quả chủ động ĐHKG trên quy mô lớn và trong khoảng thời gian rộng. Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) đã sử dụng phƣơng pháp này dựa trên công trình của James Omernick thuộc Cơ quan Bảo vệ Môi trƣờng Hoa Kỳ (EPA) và Robert Bailey của Sở Lâm nghiệp Hoa Kỳ [79].
WWF xác định hơn hai trăm vùng sinh thái và sử dụng chúng để xác định khu vực ƣu tiên bảo tồn. Nhìn chung, xu hƣớng hiện nay, các nhà khoa học đang ngày càng quan tâm đến các mô hình, quá trình hoặc mối quan hệ của HST thông qua các chỉ số đánh giá ĐDSH. Lý do là vì ―cách tiếp cận dựa trên một loài không cung cấp các giải pháp toàn cảnh cho các vấn đề bảo tồn‖ [79]. Tiếp cận cảnh quan và sinh thái cảnh quan cho bảo tồn đa dạng sinh học Từ giữa những năm 1980, nhiều sáng kiến bảo tồn trên quy mô CQ rộng lớn đã dần xuất hiện.
Năm 1991, dựa trên những nỗ lực trƣớc đó, một nhóm các nhà bảo tồn sinh học và ngƣời ủng hộ đã thành lập Dự án Wildlands để thúc đẩy một hệ thống mạng lƣới các KBT trên khắp Bắc Mỹ. Dự án Wildlands đã đƣa quy hoạch quy mô CQ trở thành xu hƣớng chủ đạo trong công tác bảo tồn. Từ đó, nó trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến các kế hoạch bảo tồn quy mô CQ nhiều khu vực ở Bắc Mỹ, bao gồm khu vực Sky Islands ở Tây Nam Hoa Kỳ và Tây Bắc Mexico, dãy núi Rocky phía Bắc từ Yellowstone đến Yukon, hành lang Công viên Adirondack cho đến Công viên tỉnh Algonquin ở Đông Bắc Bắc Mỹ, và Dãy núi Bắc Appalachian [89]. 7 Nhận thức về tầm quan trọng của cách tiếp cận bộ lọc thô cũng nhƣ các phƣơng pháp chủ động bảo tồn trên quy mô lớn đã nhanh chóng lan rộng sang các tổ chức khác.
Vào giữa những năm 1990, Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên, trƣớc đây tập trung vào việc quản lý các địa điểm rời rạc, đã thiết kế lại cách tiếp cận chuyển hƣớng sang xác định các ƣu tiên bảo tồn bằng cách phát triển danh mục vùng sinh thái [89]. Có thể hiểu các danh mục đó là một tập hợp địa điểm đƣợc xác định và quản lý thông qua đóng góp chung nhằm hƣớng tới bảo tồn toàn bộ vùng sinh thái.