Tài liệu Y tế: Đánh giá mức độ hiểu biết và tuân thủ điều trị của bệnh

Nghiên cứu đánh giá hiểu biết, tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao phổi tại Bệnh viện Phổi Trung ương. Kết quả giúp cải thiện hiệu quả điều trị.

Chuyên ngành

Dược Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

51
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm về mức độ hiểu biết và tuân thủ điều trị

Mức độ hiểu biết và tuân thủ điều trị là những yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý bệnh lao phổi. Hiểu biết của bệnh nhân về bệnh tật, nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng lâm sàng và phương pháp điều trị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tuân thủ các hướng dẫn điều trị. Tuân thủ điều trị lao không chỉ đơn thuần là uống thuốc đúng liều, đúng thời gian mà còn bao gồm việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa lây lan, điều chỉnh lối sống và tái khám định kỳ. Các nghiên cứu cho thấy bệnh nhân có hiểu biết tốt về bệnh lao sẽ có tỷ lệ hoàn thành điều trị cao hơn, giảm nguy c险tái phát bệnh và phát triển kháng thuốc.

1.1. Định nghĩa mức độ hiểu biết về bệnh lao

Hiểu biết về bệnh lao được định nghĩa là kiến thức của bệnh nhân về nguyên nhân gây bệnh, yếu tố nguy cơ, triệu chứng lâm sàng, phương pháp chẩn đoán, cách lây truyền và các biện pháp phòng ngừa. Mức độ hiểu biết này được đánh giá thông qua các câu hỏi có cấu trúc, giúp xác định nhạn thức và kiến thức của bệnh nhân về bệnh tật.

1.2. Định nghĩa tuân thủ điều trị

Tuân thủ điều trị lao là mức độ mà bệnh nhân thực hiện đúng theo hướng dẫn điều trị của bác sĩ, bao gồm dùng thuốc đầy đủ, đúng liều, đúng thời gian theo phác đồ DOTS. Tuân thủ tốt là chìa khóa để đạt tỷ lệ chữa khỏi cao, ngăn ngừa kháng thuốc và giảm tỷ lệ tử vong.

II. Tầm quan trọng của hiểu biết trong điều trị lao phổi

Hiểu biết sâu về bệnh lao phổi là nền tảng để bệnh nhân tích cực tham gia vào quá trình điều trị. Khi bệnh nhân hiểu rõ về bản chất của bệnh, nguy hiểm của bệnh lao, họ sẽ có động lực mạnh mẽ để tuân thủ điều trị. Các bệnh nhân có kiến thức tốt về nguyên tắc điều trị lao, đặc biệt là tầm quan trọng của việc hoàn thành đầy đủ khoá điều trị, sẽ ít có xu hướng tự ý dừng thuốc hoặc bỏ khám. Chương trình Chống lao Quốc gia nhấn mạnh rằng giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân lao là một thành phần thiết yếu của phác đồ DOTS, giúp cải thiện kết quả điều trị và phòng chống lao kháng thuốc.

2.1. Ảnh hưởng của hiểu biết đến tuân thủ điều trị

Các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng bệnh nhân với mức độ hiểu biết cao về bệnh lao có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao gấp 2-3 lần. Hiểu biết về tác dụng không mong muốn của thuốc cũng rất quan trọng, giúp bệnh nhân phân biệt được các phản ứng phụ bình thường và các biểu hiện cần báo cáo với bác sĩ.

2.2. Vai trò của giáo dục sức khỏe

Giáo dục sức khỏe về bệnh lao phổi thông qua nhiều phương tiện như tuyên truyền, tư vấn, tài liệu in ấn giúp bệnh nhân nâng cao kiến thức. Các phương pháp dự phòng bệnh laobiện pháp hạn chế lây lan cần được giải thích chi tiết để bệnh nhân có thể bảo vệ gia đình và cộng đồng.

III. Đánh giá mức độ hiểu biết của bệnh nhân lao phổi

Để đánh giá mức độ hiểu biết của bệnh nhân về bệnh lao phổi, các nhà nghiên cứu sử dụng các thang điểm có cấu trúc, bao gồm câu hỏi về nguyên nhân gây bệnh lao, yếu tố nguy cơ, triệu chứng lâm sàng, phương pháp xét nghiệm chẩn đoán, và cách lây truyền. Mỗi câu trả lời đúng được ghi nhận điểm, sau đó tính tổng điểm để xác định mức độ hiểu biết (yếu, trung bình, hoặc tốt). Đánh giá hiểu biết về các nguyên tắc điều trị cũng rất cần thiết, bao gồm thời gian điều trị, số lượng thuốc, tần suất uống thuốc theo phác đồ DOTS. Kết quả đánh giá này sẽ giúp nhân viên y tế xác định những lĩnh vực cần tăng cường giáo dục cho bệnh nhân.

3.1. Các tiêu chí đánh giá hiểu biết

Tiêu chuẩn lựa chọn người bệnh để đánh giá bao gồm những bệnh nhân đã được chẩn đoán bệnh lao phổi, đang điều trị tại khoa khám bệnh. Các điểm đánh giá mức độ hiểu biết được tính dựa trên số câu trả lời đúng, với mỗi câu hỏi có trọng số nhất định về các nội dung liên quan đến bệnh lao.

3.2. Các phương pháp thu thập dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp với bệnh nhân sử dụng bảng câu hỏi chuẩn hóa, hoặc sử dụng ứng dụng ODK (Open Data Kit) để nhập dữ liệu điện tử. Các phương tiện giúp bệnh nhân có hiểu biết bao gồm: tuyên truyền từ nhân viên y tế, tài liệu in ấn, lớp học sức khỏe, và tư vấn cá nhân.

IV. Đánh giá tuân thủ điều trị lao và các yếu tố liên quan

Tuân thủ điều trị lao được đánh giá dựa trên các chỉ số cụ thể như: số ngày bệnh nhân uống thuốc đúng hạn, số lần bỏ khám, số lần tự ý dừng thuốc. Điểm tuân thủ điều trị thường được phân loại thành ba mức độ: tuân thủ tốt (≥80% ngày điều trị), tuân thủ trung bình (50-79%), và tuân thủ kém (<50%). Những bệnh nhân có mức độ hiểu biết tốt về bệnh lao và tác dụng không mong muốn thường có tỷ lệ tuân thủ điều trị cao hơn. Các yếu tố như hỗ trợ gia đình, điều kiện kinh tế, tiếp cận dễ dàng đến cơ sở y tế cũng ảnh hưởng đến khả năng tuân thủ. Chương trình Chống lao Quốc gia sử dụng phác đồ DOTS (Directly Observed Treatment Short Course) để giám sát và hỗ trợ bệnh nhân tuân thủ điều trị.

4.1. Phương pháp đánh giá tuân thủ

Tuân thủ điều trị được đánh giá thông qua hỏi bệnh nhân, kiểm tra số lượng thuốc còn lại, ghi chép hồ sơ y tế và khám phá phản ứng với điều trị. Các tác dụng không mong muốn như buồn nôn, đau đầu, hoặc phát ban được ghi nhận để hiểu rõ hơn về khó khăn của bệnh nhân trong quá trình điều trị.

4.2. Liên hệ giữa hiểu biết và tuân thủ

Kết quả từ nhiều nghiên cứu tuân thủ điều trị lao cho thấy có mối tương quan mạnh giữa mức độ hiểu biết về bệnh laokhả năng tuân thủ điều trị. Bệnh nhân hiểu biết tốt ít bị tác dụng phụ làm nản lòng, vì họ biết đây là phản ứng tạm thời của cơ thể và cần tiếp tục điều trị.

19/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

LỜI MỞ ĐẦU Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2018, lao phổi đứng đầu danh sách 10 nguyên nhân gây tử vong hàng năm trên thế giới [36]. Tỷ lệ mắc bệnh lao năm 2017 của Việt Nam là 129/100.000 dân, nằm trong 30 nước có số người bệnh lao nhiều nhất thế giới, nhóm 20 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc [34,36]. Hiện nay, tình hình mắc lao có giảm đi song việc điều trị bệnh lao trở nên khó khăn do tỷ lệ lao kháng thuốc tăng cao [24,36]. Tất cả các thể lao được phát hiện sớm đều có thể điều trị khỏi bằng việc tuân thủ phác đồ bao gồm các thuốc chống lao đặc hiệu [1,3,14].

Tuy nhiên, bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm, mang tính chất xã hội, vì vậy, bên cạnh những tiến bộ trong y học, vai trò của tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân về căn bệnh này cũng không kém phần quan trọng. Mặc dù có vai trò quan trọng trong việc dự phòng và điều trị lao, song vẫn chưa có nhiều nghiên cứu đánh giá được mức độ hiểu biết và tuân thủ điều trị của người bệnh mắc lao, cũng như hiệu quả điều trị giữa các nhóm người bệnh với sự hiểu biết và mức độ tuân thủ điều trị khác nhau. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đánh giá mức độ hiểu biết và tuân thủ điều trị của bệnh nhân lao phổi tại khoa Khám bệnh, Bệnh viện Phổi Trung ương”. Mục tiêu nghiên cứu: 1.

Đánh giá mức độ hiểu biết của người bệnh về bệnh lao phổi, các phương pháp phòng và điều trị bệnh lao, các thuốc điều trị lao và các tác dụng không mong muốn của thuốc điều trị lao. Đánh giá mức độ tuân thủ dùng thuốc trong điều trị của người bệnh lao và một số lý do liên quan tới việc không tuân thủ điều trị. Định nghĩa bệnh lao Lao là một bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis) gây nên [6]. Bệnh lao có thể gặp ở tất cả các bộ phận của cơ thể, trong đó lao phổi là thể lao phổ biến nhất (chiếm 80 – 85% tổng số ca bệnh) và là nguồn lây chính cho những người xung quanh [14].

Dịch tễ bệnh lao 1. Trên thế giới Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong năm 2017 có 10 triệu người mắc bệnh lao mới, 2/3 số ca mắc mới tập trung ở 8 quốc gia: Ấn Độ (27%), Trung Quốc (9%), Indonesia (8%), Philippines (6%), Pakistan (5%), Nigeria (4%), Bangladesh (4%) và Nam Phi (3%) [36]. Hiện nay, lao phổi đứng đầu danh sách 10 nguyên nhân gây tử vong hàng năm trên thế giới [35,36]. Ngày nay, việc điều trị bệnh lao đang trở nên càng khó khăn do tỷ lệ lao kháng thuốc tăng cao.

Tỷ lệ lao kháng đa thuốc là 4,8%. Tỷ lệ lao kháng thuốc tiên phát với ít nhất 1 loại thuốc là 17% (từ 0% đến 56,3%), kháng isoniazid là 10,3%, kháng đa thuốc thay đổi từ 0% đến 22,3% [18]. Ngoài ra, ước tính rằng có khoảng 37% các trường hợp không được chẩn đoán và phát hiện (do tâm lý dấu bệnh hoặc kỹ thuật cận lâm sàng yếu) [10]. Tại Việt Nam Tỷ lệ mắc bệnh lao năm 2017 của Việt Nam là 129/100.000 dân, nằm trong 30 nước có số người bệnh lao nhiều nhất thế giới, nhóm 20 nước có gánh nặng bệnh lao đa kháng thuốc [36].

Chiến lược Quốc gia phòng, chống lao đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2014 có mục tiêu giảm tỷ lệ mắc bệnh lao còn dưới 20/100. Năm 2015, cả nước đã phát hiện và điều trị cho tổng số 102.655 bệnh nhân lao, tỷ lệ điều trị khỏi cao trên 90% và Việt Nam là một trong năm nước trên thế giới đạt tỷ lệ điều trị thành công lao kháng thuốc [33]. Bệnh học bệnh lao 1. Nguyên nhân gây bệnh Vi khuẩn lao do Robert Koch tìm ra năm 1882, vì vậy, nó còn được gọi là Bacillus Koch [3].uong Vi khuẩn lao có các đặc điểm sau: - Trực khuẩn ái khí, có thể tồn tại trong tự nhiên 3-4 tháng [6,14].

Vì vậy, vi khuẩn lao thường phát triển ở phổi, nơi diễn ra quá trình trao đổi khí với môi trường. - Sinh sản chậm, thời gian nhân đôi là 12-55 giờ [6,14]. Do đó, việc sử dụng phác đồ kháng sinh trong điều trị lao cần tuân thủ vô cùng chặt chẽ. - Vi khuẩn lao kháng cồn – kháng acid, bắt màu đỏ trên tiêu bản nhuộm Ziehl – Neelsen [6,25].

- Cấu trúc thành của vi khuẩn: lớp ngoài kị nước, chứa acid mycolic và lipid [6,14]. Chính cấu trúc này giúp vi khuẩn lao tồn tại lâu ở môi trường, chống lại cơ chế đề kháng của cơ thể và kháng với các loại kháng sinh thông thường. Người mắc bệnh lao được gọi là nguồn lây. Người bệnh lao phổi có AFB (+) là nguồn lây chính [14].

Trên thế giới có khoảng 1/3 dân số mắc lao tiềm tàng [33], tức là trong cơ thể họ có vi khuẩn lao nhưng chưa phát triển thành bệnh và không gây lây lan trong cộng đồng. Bệnh lao chủ yếu lây qua đường hô hấp [3,15]. Vi khuẩn lao từ nguồn lây phát tán trong không khí qua nói chuyện, ho khạc. và từ đó nhiễm sang người lành.

Ngoài ra, bệnh lao còn có thể lây qua những đường khác như đường máu, đường tiêu hóa. Yếu tố nguy cơ Những đối tượng dễ mắc bệnh lao bao gồm: Thứ nhất, người có hệ miễn dịch suy giảm [1]: - Người bệnh nhiễm HIV/AIDS nằm trong nhóm có nguy cơ mắc lao rất cao. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) giai đoạn 2008 - 2011, ít nhất 1/3 số người nhiễm HIV có đồng nhiễm lao [33]. Bệnh lao cũng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người có HIV, gây ra khoảng một phần tư tổng số ca tử vong ở nhóm người này [24].

- Người bệnh dùng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài gây suy giảm hệ miễn dịch, người bệnh điều trị ung thư bằng hóa chất. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để vi khuẩn lao xâm nhập và phát triển. Thứ hai, người tiếp xúc với nguồn lây, sống và sinh hoạt chung với người bệnh lao phổi AFB (+) [1]. Đường lây chủ yếu của bệnh lao là đường hô hấp.

Chính 3 Danh.uong vì vậy, người tiếp xúc trực tiếp với người bệnh lao phổi là đối tượng dễ bị nhiễn vi khuẩn lao. Tỷ lệ phát sinh nhiễm lao tiềm ẩn là 4,2% ở Nam châu Phi [31] và 1,7% ở Việt Nam [30], 0,03% ở Mỹ [29]. Nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm lao tiềm ẩn và nguy cơ mắc bệnh lao của người nhà tiếp xúc với người bệnh lao phổi AFB (+) tại Bình Định của Đỗ Phúc Thanh và cộng sự, 36,5% người nhà người bệnh lao phổi có IGRAs (+), 5% người nhà người bệnh lao phổi phát sinh bệnh lao sau 12 tháng tiếp xúc; 7% phát sinh sau 18 tháng tiếp xúc [19]. Thứ ba, đối tượng nghiện rượu, bia, người hút thuốc lá [1,14].

Thứ tư, người mắc bệnh đái tháo đường hay các bệnh mạn tính khác [1,14]. Ngoài ra, yếu tố môi trường cũng có ảnh hưởng tới sự phát triển của vi khuẩn lao, tác động lên sức khỏe cộng đồng [1]. Phân loại lao Có nhiều cách phân loại bệnh lao: Theo cơ quan tổn thương: lao phổi, lao màng phổi, lao hạch, lao da, lao màng não…[1] Trong đó, lao phổi là thể hay gặp nhất. Theo độ tuổi: Lao trẻ em và lao người lớn [1].

Theo điều trị: Lao mới, lao tái phát, lao kháng thuốc [1], cụ thể: Lao mới: người bệnh chưa bao giờ dùng thuốc chống lao hoặc mới dùng thuốc chống lao dưới 1 tháng [14]. Lao tái phát: người bệnh đã được chẩn đoán, điều trị lao và hoàn thành ít nhất một phác đồ điều trị lao, sau đó, người bệnh lại có các triệu chứng và chẩn đoán mắc lao [14]. Lao kháng thuốc: Người bệnh không đáp ứng với phác đồ điều trị [14]. Nguyên nhân có thể do nhiễm chủng vi khuẩn lao kháng thuốc hoặc điều trị không đúng các nguyên tắc.

Triệu chứng lâm sàng của người bệnh lao phổi Người bệnh mắc lao thường có các triệu chứng sau: - Người bệnh sút cân nhanh, chán ăn, mệt mỏi [17]. - Người bệnh thường ra nhiều mồ hôi về đêm, sốt nhẹ về chiều [17]. - Ho là triệu chứng kéo dài thường gặp nhất [3,17]. Có thể ho khan hoặc ho có đờm.

Ở giai đoạn sau, người bệnh có thể ho ra máu.uong - Đau ngực vùng tổn thương, có thể khó thở [17]. Tuy nhiên, ngay cả khi người bệnh không có triệu chứng nào kể trên cũng có thể bị mắc lao. Xét nghiệm cận lâm sàng chẩn đoán lao phổi Xét nghiệm máu được chỉ định với các đối tượng đến khám. Xét nghiệm có giá trị chẩn đoán lao phổi khi số lượng, tỷ lệ lympho tăng, tốc độ máu lắng tăng [3,14].

Tuy nhiên, những chỉ số này không đặc hiệu vì có thể gặp trong các bệnh khác [14]. Ngoài ra, có thể tìm thấy kháng thể kháng lao trong máu khi không tìm thấy vi khuẩn lao trong đờm [23]. Tất cả những người có triệu chứng nghi lao phải được xét nghiệm đờm phát hiện lao phổi [1]. Thông thường, mẫu đờm sẽ được tiến hành nhuộm soi trực tiếp tìm AFB.

Trong một số trường hợp như người bệnh nhiễm HIV, người bệnh nghi nhiễm lao kháng thuốc, người bệnh xét nghiệm soi trực tiếp có AFB (-), người bệnh mắc lao tái phát…, mẫu đờm của người bệnh được tiến hành làm xét nghiệm Xpert MTB/RIF. Xét nghiệm này cho kết quả sau khoảng hai giờ với độ nhạy và độ đặc hiệu cao nhuộm soi trực tiếp [1]. Bên cạnh đó, kết quả xét nghiệm Xpert MTB/RIF còn giúp phát hiện chủng vi khuẩn kháng rifampicin [1]. X-quang phổi có giá trị sàng lọc cao, độ nhạy trên 90% với các trường hợp có triệu chứng hô hấp để sàng lọc lao phổi AFB (+) [1].

X-quang phổi còn có tác dụng đánh giá đáp ứng với điều trị thử hay kết quả điều trị lao sau 2 tháng và kết thúc điều trị [1]. Kết quả chụp cắt lớp vi tính cũng cho kết quả tương tự. Ngoài ra, người bệnh mắc lao thường có phản ứng dưới da với tuberculin dương tính trong xét nghiệm tiêm TST [14]. Trong một số trường hợp, kết quả âm tính giả khi người bệnh bị suy giảm miễn dịch (người bệnh HIV, người bệnh dùng thuốc ức chế miễn dịch kéo dài, người bệnh suy dinh dưỡng…) và dương tính giả khi người bệnh mắc lao tiềm ẩn [14].

Vì vậy, xét nghiệm này thường không được chỉ định trong chẩn đoán. Các biện pháp hạn chế lây lan bệnh Lao phổi lây qua đường hô hấp [3]. Vì vậy, người bệnh cần có ý thức để hạn chế lây lan bệnh trong cộng đồng: - Khạc nhổ đúng nơi quy định [9]. - Đeo khẩu trang [9].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ