Đánh giá mức độ ảnh hưởng của ngành công nghiệp mạ kẽm đến môi trường nước ngầm tại xã liên hiệp huyện phúc thọ thành phố hà nội

Nghiên cứu ảnh hưởng công nghiệp mạ kẽm đến nước ngầm tại Liên Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội. Phân tích mức độ ô nhiễm và đề xuất giải pháp bền vững.

Trường đại học

Trường đại học Lâm nghiệp

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về nước ngầm

1.2. Sơ lược về công nghệ mạ

1.2.1. Công nghệ mạ

1.2.2. Hóa chất ngành mạ phổ biến hiện nay

1.2.3. Lợi ích của công nghệ mạ

1.2.4. Ảnh hưởng của ngành công nghiệp mạ tới môi trường và con người

1.3. Công nghệ mạ kẽm

1.3.1. Quy trình của công nghệ mạ kẽm

1.3.2. Độc tính hóa chất được sử dụng của ngành công nghiệp mạ kẽm

1.3.3. Những tác động của ngành công nghiệp mạ kẽm đối với môi trường nước

2. CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN XÃ HỘI

2.1. Vị trí địa lý, truyền thống lịch sử

2.2. Tình hình kinh tế - xã hội của xã

2.3. Khái quát về tình hình ô nhiễm hiện nay tại xã Liên Hiệp

3. CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mục tiêu nghiên cứu

3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp thừa kế tài liệu

3.4.2. Phương pháp khảo sát hiện trường và lấy mẫu

3.4.3. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

3.4.4. Phương pháp so sánh đánh giá

3.4.5. Phương pháp Xây dựng bản đồ phân bố không gian

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Mức độ ô nhiễm nước ngầm do ngành công nghiệp mạ kẽm tại xã Liên Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội

4.1.1. Phân bố không gian các điểm lấy mẫu

4.1.2. Thực trạng chất lượng nước ngầm tại khu vực nghiên cứu

4.1.3. Phân bố không gian mức độ ô nhiễm các chất trong nước ngầm của xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, TP hà Nội và nước thải tại chính khu công nghiệp mạ kẽm

4.2. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng nước ngầm tại Xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, TP Hà Nội

4.2.1. Biện pháp kĩ thuật

4.2.2. Biện pháp quản lý

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Mạ kẽm Phúc Thọ Đánh giá tác động đến môi trường nước

Ngành công nghiệp mạ kẽm tại xã Liên Hiệp, huyện Phúc Thọ, Hà Nội là một ngành nghề truyền thống, đóng góp vào sự phát triển kinh tế địa phương. Toàn xã có 142 hộ trên tổng số 1056 hộ tham gia sản xuất, tạo ra công ăn việc làm và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, sự phát triển này cũng đi kèm với những thách thức lớn về môi trường. Quy trình mạ kẽm sử dụng nhiều loại hóa chất ngành xi mạ độc hại như axit sunfuric (H2SO4), axit clohydric (HCl), natri hydroxit (NaOH), và các hợp chất xyanua. Đặc điểm chung của các quy trình này là tiếp xúc với hóa chất đậm đặc, nhiệt độ cao và phát sinh lượng lớn nước thải. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc phần lớn các cơ sở sản xuất có quy mô vừa và nhỏ, chưa đầu tư đúng mức vào hệ thống xử lý nước thải làng nghề. Nước thải sản xuất thường không qua xử lý hoặc xử lý sơ sài, sau đó xả thẳng ra hệ thống thoát nước chung. Dòng thải này mang theo nồng độ cao các kim loại nặng như kẽm (Zn), crom (Cr), niken (Ni), đồng (Cu), chì (Pb) và cả xyanua. Những chất này khi ngấm vào đất sẽ gây ra hiện tượng tồn dư hóa chất trong đất và dần dần thấm lọc nước thải vào mạch nước ngầm. Điều này đặt ra một báo động đỏ về chất lượng nguồn nước sinh hoạt xã Liên Hiệp, nơi có đến 80% người dân vẫn đang sử dụng nước giếng khoan chưa qua xử lý. Việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của ngành công nghiệp mạ kẽm đến môi trường nước ngầm là nhiệm vụ cấp bách để bảo vệ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng và tìm ra các giải pháp cải tạo môi trường nước bền vững.

1.1. Quy trình và các hóa chất ngành xi mạ kẽm phổ biến

Công nghệ mạ kẽm bao gồm nhiều công đoạn phức tạp, bắt đầu từ gia công bề mặt (mài thô, mài tinh, đánh bóng), làm sạch hóa học (tẩy dầu mỡ, tẩy rỉ) và cuối cùng là quá trình mạ. Mỗi công đoạn đều sử dụng các loại hóa chất có độc tính cao. Ví dụ, công đoạn tẩy rỉ thường dùng axit mạnh như H2SO4 và HCl. Công đoạn tẩy dầu mỡ sử dụng dung dịch kiềm (NaOH) hoặc dung môi hữu cơ. Quá trình mạ chính sử dụng các dung dịch chứa muối kẽm, hợp chất xyanua, amoni và các chất phụ gia khác. Những hóa chất ngành xi mạ này, nếu không được quản lý chặt chẽ, sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm kim loại nặng trực tiếp cho môi trường.

1.2. Hiện trạng môi trường nước Phúc Thọ tại xã Liên Hiệp

Hiện trạng môi trường nước Phúc Thọ, đặc biệt tại xã Liên Hiệp, đang ở mức báo động. Theo phản ánh của người dân địa phương, nước thải từ các xưởng mạ có màu đen ngòm, đặc quánh và bốc mùi hóa chất nồng nặc. Các mương thoát nước chung thường xuyên bị bồi lấp bởi chất thải rắn và bùn thải chứa kim loại nặng. Tình trạng này không chỉ gây ô nhiễm không khí mà còn là nguyên nhân chính dẫn đến việc nước giếng khoan bị ô nhiễm. Hậu quả là nguồn nước sinh hoạt chính của hàng nghìn người dân đang bị đe dọa nghiêm trọng, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát các bệnh liên quan đến nguồn nước.

II. Vấn đề ô nhiễm kim loại nặng từ nước thải công nghiệp mạ kẽm

Một trong những tác động môi trường làng nghề nghiêm trọng nhất chính là ô nhiễm kim loại nặng. Nước thải công nghiệp mạ kẽm chứa một danh mục dài các chất độc hại với nồng độ vượt xa tiêu chuẩn cho phép. Theo kết quả phân tích mẫu nước thải tại một cơ sở sản xuất ở Liên Hiệp, hàm lượng Xyanua cao gấp 1720 lần, Crom (Cr) cao gấp 5 lần, Niken (Ni) cao gấp 5 lần và Kẽm (Zn) cao gấp gần 3 lần so với quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT. Nguồn thải này không chỉ chứa các chất trực tiếp từ bể mạ mà còn bao gồm nước rửa từ các công đoạn làm sạch bề mặt, mang theo dầu mỡ, axit, kiềm và các muối kim loại. Khi được xả thải không qua xử lý, các chất độc này hòa tan vào nguồn nước mặt. Nghiêm trọng hơn, chúng thấm sâu xuống các tầng đất, gây ô nhiễm đất và đi vào các mạch nước ngầm. Quá trình thấm lọc nước thải vào mạch nước ngầm diễn ra âm thầm nhưng để lại hậu quả lâu dài. Một khi mạch nước ngầm đã bị nhiễm bẩn, việc xử lý và cải tạo sẽ vô cùng tốn kém và mất nhiều thời gian. Đây là một vấn đề cấp bách, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh nguồn nước và ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng trong khu vực. Việc không tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường trong xử lý nước thải đã biến các làng nghề thành những điểm nóng ô nhiễm.

2.1. Nguồn gốc nước thải và độc tính của kim loại nặng

Nước thải công nghiệp mạ kẽm phát sinh từ hầu hết các công đoạn. Nước rửa sau khi tẩy dầu mỡ chứa kiềm và dung môi. Nước sau công đoạn tẩy rỉ chứa axit và muối sắt. Nước từ bể mạ bị rò rỉ hoặc thải bỏ chứa nồng độ cao chỉ số kẽm (Zn) trong nước, crom, niken và xyanua. Các kim loại nặng này rất độc hại. Ví dụ, ô nhiễm chì (Pb), crom (Cr), cadimi (Cd) có thể gây ung thư, tổn thương thận và hệ thần kinh. Xyanua là một chất kịch độc, có thể gây tử vong nhanh chóng nếu nhiễm phải nồng độ cao.

2.2. Quá trình thẩm thấu nước thải vào mạch nước ngầm

Khi nước thải chứa kim loại nặng được xả ra mương, rãnh, một phần sẽ bốc hơi, phần còn lại sẽ thấm xuống đất. Cấu trúc đất tại khu vực đồng bằng có thể tạo điều kiện cho quá trình này diễn ra nhanh hơn. Các ion kim loại nặng sẽ di chuyển cùng dòng nước, đi qua các lớp đất lọc và cuối cùng hòa vào mạch nước ngầm. Quá trình này làm cho nước giếng khoan bị ô nhiễm một cách từ từ. Người dân sử dụng nguồn nước này trong thời gian dài sẽ tích lũy kim loại nặng trong cơ thể, gây ra các bệnh mãn tính nguy hiểm.

III. Phương pháp quan trắc chất lượng nước ngầm tại xã Liên Hiệp

Để có một báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) chính xác, nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp khoa học chuẩn mực. Phương pháp quan trắc chất lượng nước ngầm được thực hiện một cách có hệ thống. Tổng cộng 15 mẫu nước giếng khoan tại các hộ gia đình và 1 mẫu nước thải tại điểm xả của cơ sở mạ kẽm đã được thu thập. Vị trí lấy mẫu được phân bố khoa học theo 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, với các khoảng cách khác nhau (100m, 200m, 500m, 1km) tính từ tâm là khu vực sản xuất. Điều này giúp xây dựng bản đồ phân bố không gian ô nhiễm và xác định mức độ lan tỏa của các chất bẩn. Các mẫu sau khi lấy được bảo quản theo TCVN 5993-1995 và phân tích tại phòng thí nghiệm. Các chỉ tiêu chính được phân tích bao gồm pH và nồng độ các kim loại nặng như Niken (Ni), Crom (Cr), Kẽm (Zn), Đồng (Cu), Sắt (Fe), Chì (Pb), Cadimi (Cd), Asen (As) và Xyanua. Kết quả phân tích được so sánh trực tiếp với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước dưới đất (QCVN 09-MT:2015/BTNMT) để đánh giá mức độ ô nhiễm của nguồn nước sinh hoạt xã Liên Hiệp. Đối với mẫu nước thải, quy chuẩn so sánh là QCVN 40:2011/BTNMT. Cách tiếp cận này đảm bảo tính khách quan và cung cấp bằng chứng khoa học vững chắc về thực trạng ô nhiễm.

3.1. Quy trình lấy mẫu và phân tích nước giếng khoan bị ô nhiễm

Quy trình lấy mẫu tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn kỹ thuật. Mẫu được lấy trực tiếp từ vòi nước giếng khoan của các hộ dân sau khi đã xả bỏ lượng nước tù đọng trong ống. Mẫu được chứa trong các chai nhựa đã được xử lý và dán nhãn đầy đủ thông tin về vị trí, thời gian. Tại phòng thí nghiệm, các phương pháp phân tích hiện đại như quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) hoặc quang phổ phát xạ plasma (ICP-MS) được sử dụng để xác định chính xác nồng độ kim loại, đảm bảo kết quả có độ tin cậy cao.

3.2. Tiêu chuẩn so sánh QCVN 09 MT 2015 BTNMT và QCVN 40 2011

Việc sử dụng các quy chuẩn quốc gia làm tham chiếu là bắt buộc trong đánh giá môi trường. QCVN 09-MT:2015/BTNMT quy định giới hạn các thông số chất lượng đối với nước dưới đất, dùng để đánh giá mức độ an toàn của nguồn nước ngầm cho mục đích sinh hoạt. Trong khi đó, QCVN 40:2011/BTNMT quy định giá trị giới hạn cho các thông số ô nhiễm trong nước thải công nghiệp. Việc đối chiếu kết quả phân tích với hai quy chuẩn này giúp kết luận một cách rõ ràng liệu nguồn nước có bị ô nhiễm và nguồn thải có vi phạm quy định pháp luật hay không.

IV. Phân tích chi tiết mức độ ô nhiễm chì Pb crom Cr trong nước

Kết quả phân tích từ nghiên cứu đã vẽ nên một bức tranh đáng báo động về hiện trạng môi trường nước Phúc Thọ tại xã Liên Hiệp. Hầu hết các chỉ tiêu kim loại nặng trong các mẫu nước ngầm đều vượt ngưỡng cho phép của QCVN 09-MT:2015/BTNMT. Cụ thể, 100% các mẫu vượt chuẩn đối với Asen (As) và Đồng (Cu). Có tới 78% số mẫu vượt chuẩn Kẽm (Zn), 64% vượt chuẩn Cadimi (Cd) và 53% vượt chuẩn Niken (Ni). Đặc biệt, chỉ số kẽm (Zn) trong nước tại một số giếng khoan cao gấp nhiều lần giới hạn, phản ánh trực tiếp ảnh hưởng từ hoạt động mạ kẽm. Mức độ ô nhiễm chì (Pb), crom (Cr), cadimi (Cd) cũng ở mức đáng lo ngại, với 33% số mẫu vượt chuẩn Pb và 21% vượt chuẩn Cr. Đáng chú ý, nồng độ các chất ô nhiễm có xu hướng giảm dần khi khoảng cách từ điểm lấy mẫu đến cơ sở sản xuất tăng lên. Điều này cho thấy khu vực sản xuất mạ kẽm chính là nguồn gây ô nhiễm chính. Các bản đồ nội suy không gian cũng chỉ ra vùng ô nhiễm nặng tập trung xung quanh làng nghề và lan rộng theo hướng dòng chảy của mạch nước ngầm. Những con số này là bằng chứng không thể chối cãi về tác động môi trường làng nghề và sự cần thiết phải có những hành động can thiệp ngay lập tức để bảo vệ nguồn nước sinh hoạt xã Liên Hiệp.

4.1. Phân tích chỉ số kẽm Zn và sắt Fe vượt ngưỡng

Kẽm (Zn) là kim loại đặc trưng của ngành mạ. Kết quả cho thấy 11/14 mẫu nước ngầm có nồng độ Zn vượt quá giới hạn cho phép. Điểm cao nhất có nồng độ 4.523 mg/l. Tương tự, 7/14 mẫu có hàm lượng Sắt (Fe) vượt chuẩn, cho thấy sự ô nhiễm từ quá trình tẩy rỉ kim loại. Nồng độ Fe cao không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng cảm quan của nước mà còn gây hại cho sức khỏe khi sử dụng lâu dài.

4.2. Mức độ ô nhiễm chì Pb crom Cr và cadimi Cd

Đây là những kim loại nặng cực kỳ độc hại. Nghiên cứu phát hiện 5/14 mẫu vượt chuẩn Chì (Pb) và 9/15 mẫu vượt chuẩn Cadimi (Cd). Mặc dù tỷ lệ mẫu vượt chuẩn Crom (Cr) thấp hơn (3/14 mẫu), nhưng nồng độ Cr trong nước thải lại cao gấp 5 lần quy chuẩn. Sự hiện diện của các kim loại này trong nước giếng khoan bị ô nhiễm là mối đe dọa trực tiếp tới sức khỏe người dân, có thể gây ra các bệnh hiểm nghèo.

4.3. Bằng chứng ô nhiễm Asen và Niken trong nguồn nước sinh hoạt

Đáng báo động nhất là 100% các mẫu nước ngầm đều có nồng độ Asen vượt xa giới hạn an toàn của QCVN 09-MT:2015/BTNMT. Asen là một chất gây ung thư đã được chứng minh. Tương tự, 53% số mẫu cho thấy nồng độ Niken cao hơn mức cho phép. Tình trạng này khẳng định nguồn nước sinh hoạt xã Liên Hiệp đã bị ô nhiễm nghiêm trọng và không còn an toàn để sử dụng trực tiếp nếu không qua xử lý triệt để.

V. Giải pháp cải tạo môi trường nước và bảo vệ sức khỏe cộng đồng

Từ thực trạng ô nhiễm nghiêm trọng, việc đề xuất các giải pháp cải tạo môi trường nước là yêu cầu cấp thiết. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ ở cả cấp độ kỹ thuật và quản lý. Về kỹ thuật, giải pháp quan trọng nhất là xây dựng và vận hành một hệ thống xử lý nước thải làng nghề tập trung. Hệ thống này phải có đủ công suất để xử lý toàn bộ lượng nước thải phát sinh từ 142 hộ sản xuất, áp dụng công nghệ phù hợp để loại bỏ hiệu quả các kim loại nặng và xyanua. Đối với các hộ gia đình, cần khuyến khích và hỗ trợ lắp đặt các hệ thống lọc nước giếng khoan quy mô nhỏ, có khả năng loại bỏ Asen và kim loại nặng. Về quản lý, chính quyền địa phương cần tăng cường công tác thanh tra, giám sát việc tuân thủ Luật Bảo vệ môi trường. Bắt buộc các cơ sở sản xuất phải thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và có giấy phép xả thải. Cần áp dụng các chế tài xử phạt nghiêm khắc đối với các hành vi xả thải trái phép. Đồng thời, cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về tác hại của ô nhiễm và tầm quan trọng của việc bảo vệ nguồn nước. Những giải pháp này sẽ góp phần giảm thiểu tác động môi trường làng nghề và bảo vệ ảnh hưởng sức khỏe cộng đồng một cách bền vững.

5.1. Biện pháp kỹ thuật Xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung

Một hệ thống xử lý nước thải làng nghề tập trung là giải pháp tối ưu. Hệ thống này cho phép áp dụng các công nghệ xử lý tiên tiến như phương pháp kết tủa hóa học, trao đổi ion, hoặc lọc màng, điều mà các cơ sở nhỏ lẻ không thể đầu tư. Nước thải sau khi được thu gom sẽ được xử lý đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra môi trường, qua đó cắt đứt nguồn gây ô nhiễm cho mạch nước ngầm.

5.2. Biện pháp quản lý Tăng cường giám sát và tuân thủ pháp luật

Chính quyền cần siết chặt quản lý, yêu cầu 100% cơ sở sản xuất phải đấu nối vào hệ thống xử lý tập trung. Hoạt động quan trắc chất lượng nước ngầm cần được thực hiện định kỳ để theo dõi hiệu quả của các giải pháp cải tạo. Việc thực thi nghiêm túc Luật Bảo vệ môi trường và các quy định liên quan sẽ tạo ra một khuôn khổ pháp lý vững chắc, buộc các doanh nghiệp phải có trách nhiệm hơn với môi trường.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/10/2025
Đánh giá mức độ ảnh hưởng của ngành công nghiệp mạ kẽm đến môi trường nước ngầm tại xã liên hiệp huyện phúc thọ thành phố hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Môi trƣờng sống- cái nôi của nhân loại đang ngày càng ô nhiễm trầm trọng cùng với sự phát triển của xã hội. Bảo vệ môi trƣờng là mối quan tâm không chỉ một quốc gia nào, là nghĩa vụ của toàn cầu và của Việt Nam nói riêng. Quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nƣớc làm cho môi trƣờng tại các khu công nghiệp và đô thị lớn bị suy giảm nghiêm trọng, là mối nguy hại cho các cơ quan quản lý nhà nƣớc cũng nhƣ toàn thế dân cƣ trong khu vực. Ô nhiễm môi trƣờng nói chung và ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do nƣớc thải công nghiệp nói riêng là một trong những vấn đề quan trong đặt ra cho nhiều quốc gia.

Cùng với sự phát triển của công nghiệp, môi trƣờng càng ngày càng tiếp nhận nhiều các yếu tố độc hại. Riêng nguồn nƣớc thải công nghiệp mạ đã có thành phần gây ô nhiễm trầm trọng nhƣ: crom, niken, đồng, kẽm, xianua, là một trong những vấn đề đang đƣợc quan tâm của xã hội. Hiện nay, tại nhiều cơ sở mạ, vấn đề môi trƣờng không đƣợc quan tâm đúng mức, chất thải sinh ra từ các quá trình sản xuất và sinh hoạt không đƣợc sử lý trƣớc khi thải ra môi trƣờng gây ô nhiễm môi trƣờng một cách nghiêm trọng. Thành phần của nƣớc thải theo quy trình chƣa xử lý và xả thẳng ra môi trƣờng có chứa kim loại nặng, cặn, sơn, dầu nhớt,… đã và đang ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, ảnh hƣởng ô nhiễm trực tiếp đến nƣớc mặt và nƣớc ngầm, ảnh hƣởng đến cả quá trình xử lý nƣớc thải.

Tại xã Liên Hiệp huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội ngƣời dân đang mở các cơ sở mạ vừa và nhỏ, hầu hết các cơ sở chƣa hệ thống xử lý nƣớc thải đạt chuẩn của ngành công nghiệp mạ. Xã có tổng số diện tích 424 ha, tổng số dân 2652 ngƣời, số hộ sản xuất mạ kẽm có 142 hộ trên tổng số 1056 hộ. Để có một cái nhìn cụ thể về các vấn đề nghiêm trọng của việc không xử lý nƣớc thải mạ trƣớc khi thải ra môi trƣờng, em xây dựng đề tài: Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của ngành công nghiệp mạ kẽm đến môi trƣờng nƣớc ngầm tại xã Liên Hiệp huyện Phúc Thọ thành phố Hà Nội. 1 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về nƣớc ngầm Nƣớc ngầm là một dạng nƣớc dƣới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời nhƣ cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, hang caxtơ dƣới bề mặt trái đất, có thể khai thác cho các hoạt động sống của con ngƣời".

Theo độ sâu phân bố, có thể chia nƣớc ngầm thành nƣớc ngầm tầng mặt và nƣớc ngầm tầng sâu. Đặc điểm chung của nƣớc ngầm là khả năng di chuyển nhanh trong các lớp đất xốp, tạo thành dòng chảy ngầm theo địa hình. Nƣớc ngầm đƣợc hình thành do nƣớc trên bề mặt ngấm xuống, do không thể ngấm qua tầng đá mẹ nên trên đó nƣớc sẽ tập trung trên bề mặt, tùy từng kiến tạo địa chất mà nó hình thành nên các hình dạng khác nhau, nƣớc tập trung nhiều sẽ bắt đầu di chuyển và liên kết với các khoang, túi nƣớc khác, dần dần hình thành mạch nƣớc ngầm lớn nhỏ, tuy nhiên việc hình thành nƣớc ngầm phụ thuộc vào lƣợng nƣớc ngấm xuống và phụ thuộc vào lƣợng nƣớc mƣa và khả năng trữ nƣớc của đất. Hiện nay nƣớc ngầm đƣợc sử dụng cho khoảng 2 tỉ ngƣời trên thế giới, đƣợc coi là một trong những nguồn tài nguyên thiên nhiên dễ sử dụng nhất.

Với nƣớc ngầm, con ngƣời đã sử dụng hàng ngàn năm nay phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Ƣớc tính, lƣợng sử dụng nƣớc ngầm trên thế giới vào khoảng 982km3 một năm. Trong đó, nƣớc ngầm cung cấp phân nửa lƣợng nƣớc uống trên toàn cầu, và chiếm giữ 38% lƣợng nƣớc tƣới tiêu. Riêng tại Việt Nam, nƣớc sử dụng cho sinh hoạt thì 70% nƣớc bề mặt và 30% nƣớc ngầm.

Đồng thời, theo thống kê của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trƣờng (Bộ Y tế) năm 2013, nƣớc ta có khoảng 17,2 triệu ngƣời (tƣơng đƣơng 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nƣớc sinh hoạt từ giếng khoan mà chƣa qua xử lý. Nƣớc không thể thiếu đƣợc trong đời sống con ngƣời từ sinh hoạt cá nhân cho tới hoạt động sản xuất. Nhƣng không phải nguồn nƣớc nào cũng sử dụng đƣợc, tùy theo mục đích sử dụng khác nhau mà yêu cầu hàm lƣợng các chất trong nƣớc phải khác nhau. Mặt khác, phần lớn nƣớc thải từ các nhà máy, các cơ sở xi mạ đã đổ trực tiếp vào cống thoát nƣớc chung hoặc kênh rãnh tự tạo mà không qua xử lý triệt để, đã gây ô nhiễm cục bộ trầm trọng nguồn nƣớc.

Nồng độ chất độc có hàm lƣợng các ion kim 2 loại nặng, nhƣ crôm, niken, đồng. đều cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn cho phép; một số cơ sở mạ điện tuy có hệ thống xử lý nƣớc thải nhƣng chƣa chú trọng đầy đủ đến các thông số công nghệ của quá trình xử lý để điều chỉnh cho phù hợp khi đặc tính của nƣớc thải thay đổi. Chính điều này đã và đang gây ô nhiễm cực nghiêm trong nếu không đƣợc xử lý và khăc phục.2 Sơ lƣợc về công nghê mạ 1.1 ông nghệ mạ Công nghệ mạ là nghề tạo ra trên bề mặt kim loại hay phi kim loại một lớp kim loại khác, với mục đích để bảo vệ ăn mòn cho kim loại hoặc tạo ra các tính chất khác cho bề mặt vật mạ: bóng, sáng, cứng, từ tính, trang sức. Phƣơng pháp mạ điện đƣợc phát hiện lần đầu tiên vào năm 1800 bởi giáo sƣ Luigi Brungnatelli tạo một lớp phủ bên ngoài kim loại khác.

Tuy nhiên lúc đó ngƣời ta không quan tâm lắm đến phát hiện của Luigi Brungnatelli mà mãi sau này, đến năm 1840, khi các nhà khoa học Anh đã phát minh ra phƣơng pháp mạ với xúc tác Xyanua và lần đầu tiên phƣơng pháp mạ điện đƣợc đƣa vào sản xuất với mục đích thƣơng mại thì công nghiệp mạ chính thức phổ biến trên thế giới. Sau đó là sự phát triển của các công nghệ mạ khác nhƣ: mạ niken, mạ đồng, mạ kẽm, … Những năm 1940 của thế kỷ XX đƣợc coi là bƣớc ngoặc lớn đối với ngành mạ điện bởi sự ra đời của công nghiệp điện tử. Ngày nay, cùng với sự phát triển vƣợt bậc của ngành công nghiệp hóa chất và sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực điện hóa, công nghiệp mạ điện cũng phát triển tới mức độ tinh vi. Sự phát triển của công nghệ mạ điện đóng vai trò rất quan trọng trong sự pháttriển không chỉ của ngành cơ khí chế tạo mà còn của rất nhiều ngành công nghiệp khác.

Xét riêng cho khu vực Đông Nam Á, sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, một loạt các cơ sở mạ điện quy mô vừa và nhỏ đã phát triển mạnh mẽ và hoạt động một các độc lập. Sự phát triển lớn mạnh của những cơ sở mạ điện quy mô nhỏ này là do nhu cầu đáp ứng việc nâng cao chất lƣợng sản phẩm của ngành công nghiệp vừa và nhẹ. Tại Việt Nam, cùng với sự phát triển của ngành cơ khí, ngành công nghiệp mạ điện đƣợc hình thành từ khoảng 40 năm trƣớc và đặc biệt phát triển mạnh trong giai đoạn những năm 1970 – 1980. Các cơ sở mạ của Việt Nam hiện nay tồn tại một các độc lập hoặc đi liền với các cơ sở cơ khí, dƣới dạng công ty cổ phần, công ty tƣ nhân 3 và công ty liên doanh với nƣớc ngoài.

Các cơ sở này hầu hết có quy mô vừa và nhỏ, số ít có quy mô lớn, đƣợc tập trung ở các thành phố lớn với sản phẩm chủ yếu đƣợc mạ đồng, crom, kẽm, niken,. Ngoài ra các loại hình mạ điện đặc biệt nhƣ mạ cadimi, mạ thiếc, mạ chì, mạ sắt và mạ hợp kim cũng đƣợc phát triển để đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp hiện đại. Quá trình mạ đƣợc thực hiện ở các dây chuyền công nghệ cụ thể, phù hợp với tính chất, chức năng của lớp mạ. Trong mỗi lớp mạ có sử dụng các máy, thiết bị và hoá chất riêng thích hợp cho từng loại quy trình mạ.

Đặc điểm chung của các quy trình mạ kim loại là tiếp xúc với nhiều loại hoá chất, nhiệt độ cao, dòng điện lớn và dễ cháy nổ; trong môi trƣờng phát sinh nhiều bụi kim loại, hơi hoá chất gây ô nhiễm môi trƣờng. Lớp mạ có thể tạo ra bằng phƣơng pháp điện hoá hoặc hoá học trên nền kim loại hay phi kim loại; các lớp mạ thƣờng gặp: kẽm, thiếc, đồng, niken, crôm, vàng, hợp kim (Cu - Zn, Cu - Sn).; mỗi lớp có tính chất và phạm vi ứng dụng riêng 1.1 Hóa chất ngành mạ phổ biến hiện nay Hóa chất công nghiệp mạ có nhiều loại khác nhau từ các loại hóa chất làm phẳng bề mặt kim loại, phụ gia, khử tạp chất. + Axit Cloric – HCl Đây là loại hóa chất lỏng có màu vàng, mùi rất sốc, tan rất nhiều trong nƣớc và phát nhiệt. Trong thức tế, loại hóa chất này đƣợc dùng để rửa kim loại trƣớc khi đƣa vào hàn hoặc rửa chai lọ thủy tinh.

+ NaOH NaOH có dạng lỏng màu trắng đục, có tính tan nên dễ tan trong nƣớc, cồn và glycerin. Do hóa chất ở dạng lỏng nên rất thuận tiện trong việc vận chuyển, lƣu trữ, sử dụng cũng nhƣ dễ dàng phối trộn nhằm mang lại hiệu quả cao nhất. + Crom Loại hóa chất này rất đƣợc sử dụng phổ biến trong ngành xi mạ, có khả năng thụ động nhuộm vàng crom cho lớp mạ kẽm, mạ cadimi giúp cho bề mặt sản phẩm mạ đƣợc sáng bóng, có màu sắc bắt mắt và khả năng chống ăn mòn rất tốt. + Axit sunfuric Loại hóa chất này không màu, trong suốt và có khả năng tan đƣợc trong nƣớc.

Trong thực tế ngƣời ta dùng hóa chất này trong quá trình tẩy rỉ sét cho bề mặt kim loại đƣợc xi mạ. 4 + Hydro peroxide (H2O2) Đây là loại dung dịch trong suốt thƣờng đƣợc dùng trong tẩy trắng ngành dệt, sản xuất giấy, quá trình chế biến thực phẩm, dùng trong xử lý chất thải công nghiệp hoặc hóa chất tẩy rửa khác. + Acid Sulphuric (H2SO4) Là dung dịch trong suốt, không màu, tan trong nƣớc. Trong thực tế ngƣời ta sử dụng dùng làm phân bón, dệt may, luyện kim, giấy, thuốc nổ, rƣợu, chất tẩy sơn,… + Cautic Soda Flakes.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ