Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu vùng biển rộng lớn với bờ biển dài trên 3.260 km và hơn 3.000 hòn đảo lớn nhỏ giữ vai trò trọng yếu trong chiến lược phát triển kinh tế biển gắn liền với an ninh quốc phòng theo Quyết định số 568/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Nằm ở trung tâm vịnh Bắc Bộ, đảo Bạch Long Vĩ là huyện đảo tiền tiêu xa bờ nhất nước ta, có diện tích 1,78 km2 khi triều dâng cao nhất và mở rộng lên 3,05 km2 khi triều kiệt. Cùng với tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, GDP bình quân đầu người tại đảo đã tăng vọt từ 9,7 triệu đồng năm 2004 lên 31,0 triệu đồng năm 2009. Tuy nhiên, sự phát triển này kéo theo lượng lớn tàu thuyền với hơn 800 tàu cá và 120 tàu dịch vụ thường xuyên neo đậu, gây sức ép nặng nề lên môi trường biển quanh đảo.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là sự suy giảm chất lượng môi trường nước, nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ngầm mỏng manh, ô nhiễm dầu mỡ tại khu vực âu cảng và hiện tượng xói lở bờ biển nghiêm trọng. Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường tự nhiên, phân tích thực trạng bộ máy quản trị môi trường địa phương, từ đó thiết lập mô hình quản lý chất lượng môi trường toàn diện phù hợp cho đảo Bạch Long Vĩ. Phạm vi không gian bao quát phần đảo nổi 2,33 km2 cùng 4,27 km2 vùng nước nông ven bờ dưới 6m độ sâu, gắn với khung thời gian định hướng phát triển đến năm 2020. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc kiểm soát hàm lượng dầu mỡ vượt giới hạn 0,14 mg/l, bảo vệ túi nước ngọt tầng sâu 792,53 m3/ngày đêm và xây dựng cơ chế quản lý môi trường bền vững cho toàn bộ cộng đồng cư dân trên đảo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của nghiên cứu được xây dựng trên sự tích hợp của ba mô hình quản trị tiên tiến: Mô hình quản lý môi trường phân cấp, Mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng và Mô hình Quản lý chất lượng môi trường toàn diện (TQEM - Total Quality Environmental Management) vận hành theo chu trình PDCA (Plan – Do – Check – Act) tương thích với tiêu chuẩn ISO 14001. Hệ thống khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: Quản lý môi trường (hệ thống tác động điều chỉnh hành vi con người theo quan điểm định lượng hướng tới phát triển bền vững), Mô hình quản lý môi trường (cấu trúc phản ánh cơ chế tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng chịu tác động), và Chỉ số rủi ro tai biến môi trường RQ (Risk Quotient - tỷ số giữa nồng độ quan trắc thực tế và giới hạn nồng độ cho phép). Việc ứng dụng lý thuyết TQEM xem chất thải như một khiếm khuyết trong quy trình vận hành cần loại bỏ ngay từ nguồn, chuyển dịch tư duy từ ứng phó sự cố bị động sang kiểm soát phòng ngừa chủ động trên hệ sinh thái đảo cô lập.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu triển khai phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ Trung tâm Quốc gia Quan trắc và Cảnh báo Môi trường biển thuộc Viện Nghiên cứu Hải sản Hải Phòng và Viện Tài nguyên Môi trường biển trong chuỗi thời gian 2000-2010. Dữ liệu chất lượng nước biển ven bờ được xử lý và so sánh trực tiếp với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 10:2008/BTNMT đối với vùng nước nuôi trồng thủy sản và tiêu chuẩn môi trường ASEAN.

Về phương pháp chọn mẫu khảo sát thực địa trong đợt công tác từ ngày 24/7/2011 đến ngày 28/7/2011, tác giả sử dụng kỹ thuật chọn mẫu phi xác suất có chủ đích với cỡ mẫu phân tầng theo 3 nhóm đối tượng: đại diện cơ quan quản lý nhà nước (Trưởng phòng Kinh tế - Kế hoạch UBND huyện Bạch Long Vĩ), lực lượng trực tiếp thu gom xử lý rác thải (Phó Liên đội trưởng Liên đội Thanh niên xung phong và Đội trưởng Đội Vệ sinh môi trường Ban Quản lý cảng), cùng đại diện các hộ dân trong tổng số 80 hộ gia đình sinh sống trên đảo. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm thu thập bức tranh thực chứng đa chiều từ cấp hoạch định chính sách, đơn vị vận hành kỹ thuật đến cộng đồng trực tiếp thụ hưởng. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích ma trận SWOT 6 bước và mô hình hàm dự báo định lượng lượng dầu mỡ được lựa chọn để phân tích điểm nghẽn quản lý và dự báo chính xác xu thế suy thoái môi trường làm cơ sở xây dựng mô hình mới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu chỉ ra 4 phát hiện quan trọng về hiện trạng môi trường đảo Bạch Long Vĩ. Thứ nhất, nguồn nước ngọt tự nhiên vô cùng khan hiếm khi tầng chứa nước nông trong vỏ phong hóa chỉ đạt trữ lượng khai thác 450.000 m3/năm vào mùa mưa và giảm sâu còn 147.000 m3/năm vào mùa khô. Tuy nhiên, qua 5 lỗ khoan thăm dò địa chất sâu 175m, nghiên cứu đã xác nhận một thấu kính nước ngọt quý giá trong trầm tích Đệ tam với trữ lượng khai thác an toàn 792,53 m3/ngày đêm, nồng độ ion Cl- đạt chuẩn từ 0,25 đến 1,15 mg/l. Thứ hai, môi trường nước biển ven bờ xuất hiện ô nhiễm dầu mỡ cục bộ với nồng độ quan trắc vượt ngưỡng giới hạn cho phép 0,14 mg/l (chỉ số RQ > 1), phát sinh từ hơn 800 tàu cá vãng lai và 120 tàu dịch vụ tập trung xả thải tại khu vực âu cảng đường kính 500m. Thứ ba, đa dạng sinh học biển suy giảm nghiêm trọng khi sản lượng khai thác bào ngư giảm mạnh tới 95%, từ 30 - 40 tấn/năm trước năm 1988 xuống chỉ còn 1 - 2 tấn/năm. Thứ tư, mật độ dân cư biến động mạnh, có thời điểm lên tới xấp xỉ 2.000 người/km2 tại khu âu cảng trong khi hệ thống thu gom và bãi tập kết rác thải xây dựng chưa đạt quy chuẩn kỹ thuật.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng ô nhiễm là sự dừng hoạt động từ cuối năm 2009 của Trung tâm Dịch vụ hậu cần nghề cá với xưởng sản xuất bột cá công suất 80 tấn/ngày và trạm sản xuất nước ngọt 200 m3/ngày, để lại hệ quả lớn về hạ tầng bỏ hoang và chất thải tồn lưu. Khác biệt với các đảo ven bờ khác như Cát Bà hay Cô Tô, Bạch Long Vĩ có khí hậu vô cùng khắc nghiệt với lượng bốc hơi đạt 1.461 mm/năm (vượt lượng mưa 1.031 mm/năm) cùng tần suất chịu ảnh hưởng của 30 đợt gió mùa Đông Bắc và 1 - 2 cơn bão mỗi năm với sức gió đạt 50 m/s. Điểm yếu cốt lõi trong công tác quản lý là bộ máy hành chính huyện chưa có phòng Tài nguyên và Môi trường chuyên trách, nhân sự kiêm nhiệm nhiều chức năng và thiếu công cụ kỹ thuật. Để làm sáng tỏ diễn biến ô nhiễm, dữ liệu thực nghiệm được lượng hóa qua biểu đồ hàm dự báo lượng dầu mỡ tích lũy theo thời gian và bảng ma trận SWOT 4 nhóm yếu tố, chứng minh rõ sự cần thiết phải vận hành mô hình quản lý theo chu trình khép kín PDCA để ngăn chặn nguy cơ cạn kiệt sinh thái biển.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả đánh giá thực trạng, nghiên cứu đưa ra 4 giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác quản lý môi trường tại đảo:

  • Thành lập Phòng Tài nguyên và Môi trường chuyên trách: Ủy ban nhân dân huyện Bạch Long Vĩ cần kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước trong giai đoạn 2012-2014, tuyển dụng và bố trí tối thiểu 2 cán bộ có chuyên môn sâu về khoa học môi trường nhằm đạt mục tiêu 100% các dự án đầu tư xây dựng trên đảo được thẩm định và giám sát môi trường định kỳ.
  • Triển khai mô hình quản lý chất lượng môi trường toàn diện TQEM: Ban Quản lý huyện phối hợp với Liên đội Thanh niên xung phong và các đoàn thể triển khai chu trình PDCA theo chuẩn ISO 14001 trong giai đoạn 2013-2015, cam kết thu gom đạt 95% lượng rác thải sinh hoạt phát sinh và xử lý 100% lượng dầu thải từ hơn 800 tàu thuyền neo đậu tại âu cảng trước năm 2016.
  • Quy hoạch khai thác và bảo vệ thấu kính nước ngọt tầng sâu: Ủy ban nhân dân huyện phối hợp với Sở Tài nguyên và Môi trường Hải Phòng đầu tư trạm bơm khai thác an toàn nguồn nước ngầm tầng sâu 792,53 m3/ngày đêm, kết hợp xây dựng hồ trữ nước mưa nhân tạo dung tích 50.000 m3 giai đoạn 2014-2018 nhằm đáp ứng 100% nhu cầu nước sạch dân sinh.
  • Tăng cường năng lực quan trắc và kiểm soát sự cố tràn dầu: Ban Quản lý cảng và lực lượng Hải quân thiết lập mạng lưới quan trắc tự động các chỉ tiêu hóa lý nước biển, trang bị 500m phao quây dầu chuyên dụng trong giai đoạn 2015-2020 nhằm duy trì chỉ số rủi ro môi trường RQ dưới ngưỡng an toàn 0,25.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học và thực tiễn có giá trị cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương: Lãnh đạo UBND huyện Bạch Long Vĩ và Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Hải Phòng có thể ứng dụng trực tiếp mô hình TQEM và chu trình PDCA để tái cấu trúc tổ chức bộ máy, xây dựng quy chế bảo vệ môi trường và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế biển đảo đến năm 2020.
  • Các nhà nghiên cứu và học viên chuyên ngành Môi trường: Tài liệu cung cấp hệ thống số liệu quan trắc gốc về địa chất thủy văn, phân tích thấu kính nước sâu 175m và phương pháp tính toán chỉ số tai biến RQ, làm cơ sở khoa học mở rộng nghiên cứu sinh thái hải đảo.
  • Ban Quản lý cảng biển và doanh nghiệp dịch vụ hậu cần nghề cá: Đơn vị quản lý âu tàu có thể áp dụng phương pháp kiểm soát tải lượng ô nhiễm từ hơn 800 tàu cá vãng lai để xây dựng quy trình thu gom dầu mỡ, xử lý rác thải sinh hoạt đạt chuẩn QCVN.
  • Các tổ chức bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng dân cư: Cung cấp phương pháp quản lý môi trường dựa vào cộng đồng cho 80 hộ dân và lực lượng Thanh niên xung phong, hỗ trợ xây dựng dự án bảo tồn bãi đẻ nhân tạo cho các loài thủy hải sản quý hiếm như bào ngư và hải sâm.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính gây nên tình trạng khan hiếm nước ngọt tại đảo Bạch Long Vĩ là gì? Cấu trúc địa chất đảo gồm các tầng đá sét kết và bột kết đặc sít làm hạn chế khả năng thấm nước, cùng diện tích rừng che phủ mỏng khiến nước ngầm tầng nông chỉ đạt 450.000 m3/năm. Lượng mưa trung bình 1.031 mm/năm trong khi lượng bốc hơi lên tới 1.461 mm/năm làm nước mặt cạn kiệt, buộc địa phương phải tìm kiếm nguồn bổ sung từ thấu kính sâu 175m.

Hoạt động của tàu cá vãng lai tác động như thế nào đến môi trường nước biển quanh đảo? Vào mùa đánh bắt cao điểm, hơn 800 tàu cá và 120 tàu dịch vụ tập trung neo đậu tại âu cảng có đường kính 500m xả trực tiếp nước la-de chứa dầu và rác sinh hoạt. Hoạt động này khiến hàm lượng dầu khoáng nhiều lần vượt quá giới hạn 0,14 mg/l theo QCVN 10:2008/BTNMT, đe dọa trực tiếp các rạn san hô và sinh vật đáy.

Mô hình quản lý chất lượng môi trường toàn diện TQEM mang lại lợi ích gì cho huyện đảo? Mô hình TQEM vận hành theo chu trình PDCA giúp chuyển dịch từ ứng phó sự cố sang chủ động phòng ngừa ô nhiễm từ nguồn thải. Mô hình liên kết trách nhiệm pháp trị của chính quyền với sự tham gia của 80 hộ dân và lực lượng Thanh niên xung phong, tối ưu hóa nguồn lực kiểm soát chất lượng môi trường bền vững.

Tại sao sản lượng khai thác bào ngư tại đảo Bạch Long Vĩ lại sụt giảm tới 95%? Sản lượng bào ngư giảm từ mức 30 - 40 tấn/năm trước năm 1988 xuống chỉ còn 1 - 2 tấn/năm do ngư dân lặn bắt triệt để bằng phương tiện thủ công không kiểm soát. Thêm vào đó, môi trường nước nông dưới 6m bị ô nhiễm và các hoạt động xây dựng kè bờ làm biến đổi bãi triều, phá hủy hoàn toàn bãi đẻ tự nhiên.

Phương án nào xử lý triệt để rác thải sinh hoạt và dầu mỡ tại âu cảng Bạch Long Vĩ? Cần trang bị thuyền thu gom rác chuyên trách cho Đội VSMT gồm 10-15 nhân sự, vận hành lò đốt rác đạt chuẩn công suất 5 tấn/ngày và bắt buộc 100% tàu thuyền cập cảng nộp phí dịch vụ thu gom dầu thải. Đồng thời, lắp đặt trạm tiếp nhận dầu cặn khép kín để tái chế hoặc vận chuyển vào đất liền.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng các thành phần môi trường và hệ thống quản lý tại đảo Bạch Long Vĩ, xác định điểm nóng ô nhiễm dầu mỡ vượt chuẩn 0,14 mg/l tại âu cảng.
  • Phát hiện tiềm năng trữ lượng nước ngọt tầng sâu 792,53 m3/ngày đêm tại độ sâu 175m, giải quyết triệt để nút thắt tài nguyên nước phục vụ đời sống dân sinh và dịch vụ hậu cần nghề cá.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn thông qua việc xây dựng mô hình Quản lý chất lượng môi trường toàn diện TQEM kết hợp phân cấp và cộng đồng vận hành theo chu trình PDCA.
  • Đề xuất lộ trình hành động phân kỳ giai đoạn 2012-2020 với các mục tiêu cụ thể về kiện toàn tổ chức bộ máy, lắp đặt phao quan trắc dầu và xây dựng hồ chứa nước mưa 50.000 m3.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền thành phố Hải Phòng và cộng đồng dân cư khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm gìn giữ môi trường biển đảo Bạch Long Vĩ phát triển bền vững nơi tiền tiêu Đông Bắc.