MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Viê ̣t Nam là quố c gia ven bờ Biể n Đông , có không gian biển rộng lớn và đầy tiề m năng, bao gồ m : vùng ven bờ, vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế. Bờ biể n nước ta dài trên 3.260km, có vị trí địa lý rất quan trọng trong phát triển kinh tế , xây dựng hê ̣ thố ng cảng biể n , phát triển hàng hải , phát triển du lịch và là cửa mở giao lưu với các nước trên thế giới. Biể n Viê ̣t Nam có trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ , trong đó nhiề u đảo có thể xây dựng thành các t rung tâm kinh tế , và dịch vụ cho các hoạt động khai thác biển , cũng như hoạt động du lịch.
Đây là lơ ̣i thế rấ t quan tro ̣ng cho chiế n lươ ̣c phát triể n kinh tế - xã hội (KTXH), xây dựng đấ t nước và củng cố an ninh quốc phòng. Trong sự nghiê ̣p công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa đấ t nước , vùng biển , đảo và thề m lu ̣c điạ nước ta đóng vai trò đă ̣c biê ̣t quan tro ̣ng , trong chiế n lươ ̣c ph át triển bề n vững KTXH, gắn với b ảo vệ an ninh quốc phòng. Nhâ ̣n thức đươ ̣c vai trò , tầ m quan tro ̣ng của biể n đố i với sự nghiê ̣p xây dựng và bảo vê ̣ tổ quố c , phát triển đất nước trước mắ t và lâu dài , Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 06/5/1993 của Bộ Chính trị Ban chấ p hành Trung ương Đảng khóa VII đã xác đinh ̣ rõ : “Trở thành một nước mạnh về biển là mục tiêu chiến lược xuất phát từ yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và bảo vê ̣ tổ quốc Việt Nam”. Ngày 28/4/2010, Thủ tướng chính phủ đã ký Quyết định số 568/QĐ-TTg, phê duyệt quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020, với yêu cầu phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững về kinh tế của các hệ thống đảo, để có bước đột phá về phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển của nước ta, đồng thời xây dựng hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia tại các vùng biển, đảo của tổ quốc.
Về mặt kinh tế, có thể khẳng định: các huyện đảo và hệ thống đảo ven bờ là một địa bàn chiến lược quan trọng của đất nước, nơi có thể tạo ra những đột phá trong hoạch định chiến lược kinh tế hướng ra biển, gắn với xuất khẩu và hợp tác kinh tế quốc tế, trong chiến lược tổng thể phát triển KTXH Việt Nam từ nay đến 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đi đôi với việc phát triển KTXH ở các đảo, quản lý môi trường (QLMT) hướng tới sự phát triển bền vững đang là một nhu cầu cấp thiết hiện nay. Đảo Bạch Long Vĩ (BLV) là một huyện đảo thuộc thành phố Hải Phòng, nằm trên hòn đảo cùng tên với diện tích 1,78km2 khi có thủy triều lên, và 3,05km2 khi thủy triều xuống. Đảo có vị trí quan trọng trong việc mở rộng các vùng biển và phân định biển trên vịnh Bắc Bộ.
Ngoài ra, Đảo còn nằm trên một trong tám ngư trường lớn của vịnh Bắc Bộ, có một vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển KTXH, an ninh quốc phòng biển của Việt Nam ở khu vực này. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, BLV đang phải đối mặt với nhiều thách thức môi trường cần phải giải quyết, như: vấn đề ô nhiễm nước dưới đất và nước biển quanh đảo; rác và nước thải từ các tầu thuyền neo đậu quanh đảo; hệ thống xử lý rác và nước thải trên đảo; vấn đề xói lở bờ đảo do khai thác đá tảng, cát làm vật liệu xây dựng, v. Từ đó cho thấy, việc nghiên cứu, tìm kiếm một mô hình quản lý môi trường (MHQLMT) phù hợp cho Đảo là hết sức cần thiết. Với những lý do nêu trên, chúng tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng môi trường và đề xuất mô hình quản lý môi trường phù hợp cho đảo Bạch Long Vĩ – Hải Phòng”.
Đây là mô ̣t đề tài có ý nghĩa khoa học và mang tính thực tiễn, nhằ m bảo vệ môi trường trên đảo BLV - Hải Phòng theo định hướng phát triển bền vững. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài * Mục tiêu nghiên cứu: - Đánh giá hiện trạng môi trường và công tác QLMT trên đảo BLV; - Xây dựng MHQLMT phù hợp cho đảo BLV. * Phạm vi nghiên cứu: - Không gian: phần đảo nổi và vùng nước ven bờ của đảo BLV; 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Thời gian: trong kế hoạch phát triển KTXH của huyện đảo BLV từ nay đến năm 2020. Những kết quả đạt đƣợc của luận văn - Xác định hiện trạng môi trường, hiện trạng công tác QLMT trên đảo BLV - Hải Phòng; - Xác định các dạng ô nhiễm và tai biến môi trường chính trên Đảo; - Dự báo ô nhiễm môi trường trên Đảo; - Xây dựng MHQLMT trên đảo nhằm phát triển môi trường bền vững.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 - TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về môi trƣờng các đảo ven bờ Việt Nam Hệ thống đảo ven bờ Việt Nam là tập hợp các đảo, cụm đảo, quần đảo phân bố trên thềm lục địa Việt Nam, gồm 2.773 đảo lớn nhỏ, trong đó có 84 đảo có diện tích lớn hơn 1km2, 24 đảo có diện tích lớn hơn 10km2 và 3 đảo có diện tích lớn hơn 100 km2, còn lại là các đảo có diện tích nhỏ hơn 1km2. Theo nguồn gốc thành tạo đảo, hệ thống đảo ven bờ Việt Nam thuộc nhóm đảo lục địa, là các bộ phận của lục địa đã bị phân cách, do biển xâm nhập và tràn ngập, hoặc những bộ phận của lục địa bị dập vỡ, hay bị hạ xuống do ảnh hưởng của quá trình kiến tạo của vỏ Trái đất, được phân chia như sau: - Các đảo có nguồn gốc núi lửa (Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý…), được thành tạo chủ yếu do hoạt động phun trào dung nham của núi lửa; - Các đảo có nguồn gốc kiến tạo (hầu hết các đảo Trung Bộ, Nam Bộ và đảo BLV), được thành tạo chủ yếu do quá trình nâng hạ kiến tạo, sau đó biển tràn ngập; - Các đảo nguồn gốc bóc mòn, xâm thực, rửa lũa…(phần lớn các đảo Đông Bắc Bộ và các đảo phân bố sát bờ), được thành tạo chủ yếu do quá trình bóc mòn, xâm thực chia cắt lục địa, tạo nên các đồi núi sót ven bờ, sau đó biển tràn ngập; - Các đảo có nguồn gốc tích tụ cửa sông ven bờ (phân bố ở các cửa sông, như: Cồn Vành, Cồn Thủ (cửa Ba Lạt), Cồn Đen (cửa Trà Lý), Đình Vũ (cửa Bạch Đằng), v. còn gọi là các bãi cửa sông, được thành tạo bởi sự tích tụ đất, cát, phù sa, do sự vận chuyển của nước sông.
Về mặt địa hình, có thể thấy rằng hệ thống đảo ven bờ Việt Nam chủ yếu là đồi núi thấp với độ dốc 15 35o. Có 8 đảo cao trên 400m, còn phổ biến là các đảo cao 100 200m. Đại đa số các đảo đang chịu quá trình phá hủy (bóc mòn, mài mòn) mạnh mẽ, nhất là các đảo nhỏ. Lớp phủ thổ nhưỡng trên các đảo ven biển, chủ yếu là các loại đất feralit, là sản phẩm phong hóa của đá vôi, đá bazan, đá sa diệp thạch, đá granit.
Nhìn chung, tầng đất trên đảo mỏng, thường xuyên bị rửa trôi, và nghèo chất dinh dưỡng. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khí hậu các đảo ven bờ phân hóa theo các vùng biển. Nhìn chung: chế độ nhiệt và bức xạ tăng dần từ bắc vào nam; gió mùa Đông Bắc, sương mù và bão ảnh hưởng nhiều đến các đảo ven biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; lượng mưa và độ ẩm không khí trên các đảo ven biển Nam Trung Bộ thấp hơn các vùng đảo khác. Nước mặt trên hệ thống đảo ven bờ hạn chế, chỉ có các đảo lớn và trung bình mới gặp khe suối có nước chảy thường xuyên hoặc định kỳ.
Số đảo có nước mặt thường xuyên ngày càng ít đi do diện tích rừng che phủ bị thu hẹp. Chế độ hải văn quanh các đảo ven bờ phân hóa theo các vùng khí hậu và theo mùa. Độ cao sóng từ 1 3m, khi có bão có thể đạt 6 7m. Nhiệt độ tầng mặt của nước biển ven bờ tăng dần từ bắc vào nam, tăng nhiều vào mùa đông.
Biên độ dao động nhiệt trung bình năm, giảm dần từ bắc (1 4oC ở đảo Cô Tô) đến nam (1 3oC ở đảo Phú Quốc). Độ mặn của nước biển ven bờ thay đổi theo mùa, nồng độ muối trung bình năm từ 25 30‰. Thảm thực vật trên các đảo ven bờ phong phú và đa dạng. Rừng các loại trên hệ thống đảo ven bờ còn chiếm khoảng 40% diện tích đất tự nhiên, và được bảo vệ tốt trên các đảo là vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn thiên nhiên hoang dã.
Trong những năm gần đây, dưới tác động của điều kiện tự nhiên và quá trình phát triển KTXH, trên hệ thống đảo ven bờ Việt Nam đã xuất hiện những vấn đề môi trường chung. Do đặc điểm của vùng lãnh thổ phân bố trên biển, được bao bọc bởi nước, các đảo luôn chịu sự tác động mạnh mẽ của khí quyển và thủy quyển, quá trình phá hủy bờ đảo của dòng chảy ven biển luôn rất mãnh liệt, vượt trội quá trình tích tụ ven đảo, và hệ quả dẫn tới là xu thế thu nhỏ dần diện tích đảo. Các quá trình rửa trôi, bóc mòn, đổ lở, v. cũng xảy ra mạnh mẽ hơn hẳn so với trên đất liền, do cường độ gió và mưa luôn lớn, chân sườn đảo thường là vách dốc, giải phóng nhanh vật liệu bóc mòn đưa thẳng xuống biển.
Bên cạnh đó, hệ thống đảo ven bờ đã và đang phải đối mặt với một số vấn đề môi trường bức xúc, như: 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rừng trên các đảo đang bị khai thác, phá hoại nghiêm trọng và diện tích đang bị thu hẹp; 2. Đất vốn đã bị rửa trôi, nghèo chất dinh dưỡng, do khai thác nông nghiệp thiếu kỹ thuật, ít đầu tư và thiếu nước, v. càng trở nên thoái hóa và cho năng suất cây trồng thấp; 3.