CHƯƠNG 1. Tình hình phát triển của ngành chế biến thủy sản 1. Tình hình phát triển của ngành thủy hải sản ở Việt Nam và Nghệ An Nếu năm 2008 thuỷ sản Việt Nam chiếm 3,9% GDP toàn quốc và 12% GDP toàn ngành nông, lâm nghiệp thì đến năm 2013 vươn lên chiếm 4,3% GDP toàn quốc và 21,79% GDP toàn ngành nông, lâm nghiệp. Mặc dù ngành thuỷ sản chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu kinh tế toàn quốc nhưng ngành thuỷ sản lại có tốc độ tăng trưởng vượt bậc so với các ngành kinh tế khác, trung bình giai đoạn 2008-2013 ngành thuỷ sản tăng trưởng bình quân 13,62%/năm, cao gấp 1,2 lần so với mức tăng trưởng kinh tế toàn quốc và cao gấp 1,4 lần so với mức tăng trưởng của ngành nông, lâm nghiệp [ 5, 9].
Dưới đây là Bảng 1.1 thể hiện đóng góp GDP của lĩnh vực thủy sản so với GDP toàn quốc trong giai đoạn từ 2008 – 2013. Hiện trạng GDP thuỷ sản giai đoạn 2007-2013 (giá thực tế) Hạng mục 2008 2009 2010 2011 2012 2013 Toàn quốc 839.960 85140 Tỷ trọng so với 3,9 3,9 4,0 4,0 4,3 4,3 toàn quốc % Nguồn: Niên giám thống kê -Tổng cục thống kê qua các năm 2008 - 2013 Hầu hết các cơ sở chế biến thủy sản sử dụng nhiều lao động trong các khâu sản xuất, chế biến. Đây là ngành sử dụng nhiều lao động địa phương, qua điều tra lao động chế biến thủy sản chiếm từ 30-40% lực lượng lao động của địa phương [11]. Thời tiết khắc nghiệt, giá cả thị trường có nhiều biến động, các rào cản phi thuế quan đang là những trở ngại lớn đối với các sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tỉnh Nghệ An.
Giá trị sản phẩm thuỷ sản chế biến xuất khẩu năm 2013 toàn tỉnh đạt 20triệu USD, trong đó giá trị xuất khẩu trực tiếp chỉ đạt 800. Nguyên nhân chủ yếu là nguồn nguyên liệu khai thác từ biển đủ tiêu chuẩn chế biến xuất khẩu đạt thấp, nhất là tôm và mực. Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp trang thiết bị và công nghệ cho các cơ sở chế biến thủy sản tập trung như các làng nghề chế biến thủy sản còn nhiều khó khăn, công tác xúc tiến thương mại của các doanh nghiệp còn hạn chế, thị trường xuất khẩu lớn có quá nhiều rủi ro, trong khi đó năng lực tài chính hạn chế, nguồn vốn tự có bị giảm do kinh doanh thua lỗ [11, 12]. Việc duy trì mặt hàng truyền thống như nước mắm (sản lượng nước mắm chế biến đạt 15 triệu lít), mắm tôm - cá, mắm tôm chua nguyên con, tôm nõn sấy khô, cá tẩm gia vị, cá ướp muối xuất khẩu, chả cá.
từng bước khẳng định trên thị trường về chất lượng cũng như giá cả. Các làng nghề chế biến bột cá, kho đông lạnh bảo quản sản phẩm thuỷ sản tiếp tục mở rộng, nâng cao giá trị sản phẩm thuỷ sản sau khai thác, góp phần thúc đẩy nghề khai thác hải sản phát triển [4, 11]. Đối với chế biến nội địa, tập trung xây dựng các khu chế biến thuỷ sản tại các vùng phát triển, mở rộng các nhà máy chế biến quy mô vừa và nhỏ tại các bến cá nhân dân như Lạch Quèn, Lạch Vạn, Cửa Hội (thị xã Cửa Lò). Tổ chức tốt mạng lưới thu mua trong và ngoài tỉnh, gắn công tác khuyến ngư và thực hiện các chính sách hỗ trợ về con giống đối với người nuôi.
Khuyến khích đầu tư xây dựng các nhà máy chế biến sản phẩm cho nghề khai thác hải sản, đặc biệt phát triển các mặt hàng như cá tẩm gia vị, tôm nõn. Cùng với giải pháp về tìm kiếm thị trường xuất khẩu mới, xây dựng và quảng bá thương hiệu cho các doanh nghiệp xuất khẩu thuỷ sản thì công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho công nhân các cơ sở chế biến xuất khẩu cũng cần được chú trọng [4,12]. Qua các dẫn chứng ở trên cho thấy tình hình phát triển ngành chế biến thủy sản đang phát triển một cách nhanh chóng. Bên cạnh những mặt tích cực mà lĩnh vực chế biến thuỷ sản đã mang lại, thì cũng có một số vấn đề tiêu cực trong phát triển của ngành, đó chính là vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về các vấn đề môi trường làng nghề chế biến thủy sản Các làng nghề sản xuất chủ yếu với quy mô hộ gia đình, nơi sản xuất vừa là nhà ở, vừa là cơ sở sản xuất chính, một số công đoạn khác (như phơi sấy, tập kết nguyên liệu) lại tận dụng các mặt bằng công cộng như cánh đồng, đường đi, ven chợ… Sản xuất càng phát triển thì nguy cơ lấn chiếm khu vực sinh hoạt, phát thải ô nhiễm tới khu dân cư càng lớn, dẫn đến chất lượng môi trường khu vực càng xấu đi [1] Hầu hết các làng nghề đều áp dụng công nghệ sản xuất thủ công, quy trình sản xuất thô sơ nên tiêu hao nhiều nhiên liệu, không đảm bảo vệ sinh, nguyên liệu không được tận dụng triệt để nên nguồn thải lớn. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho bảo vệ môi trường tại các làng nghề còn chưa được quan tâm đúng mức. Hệ thống xử lý nước thải và khí thải tại các làng nghề hầu như chưa có và tại một số làng nghề nếu có thì cũng bị xuống cấp nghiêm trọng do không có cán bộ bảo trì và chạy hệ thống liên tục.
Lượng nước thải, chất thải rắn sinh ra được xả trực tiếp ra ngoài môi trường nước mặt. Cống rãnh chứa nước thải thường hôi thối là môi trường sống của vi sinh vật gây bệnh. Quá trình phân hủy chất thải rắn từ hoạt động chế biến thủy hải sản tạo ra mùi tanh và thối làm ô nhiễm môi trường không khí tại làng nghề. Do trình độ người lao động còn thấp, nên người dân chưa có ý thức về môi trường lao động, không quan tâm đến bảo vệ môi trường.
Một số nghiên cứu xử lý chất thải từ hoạt động chế biến thủy sản ở Việt Nam Ở Việt Nam vấn đề ô nhiễm nước thải thủy sản ngày càng nghiêm trọng do sự phát triển của hoạt động chế biến thủy hải sản. Hơn nữa, lưu lượng nước thải tính trên một đơn vị sản phầm khá lớn, thường từ 30 – 80 m3/tấn thành phẩm. Vì vậy việc nghiên cứu phương pháp thu gom xử lý nước thải thủy sản từ các nhà máy chế biến thủy sản và các làng nghề chế biến thủy sản được nhiều nhà khoa học, viện 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu và trường đại học quan tâm. Phương pháp chủ yếu được áp dụng là phương pháp sinh học, ứng dụng xử lý nước thải bằng các vi sinh vật phân hủy và hấp thụ bởi thực vật [10, 6].
Phương pháp nghiên cứu sử dụng vi sinh vật trong xử lý nước thải thủy được tiến hành bởi Võ Văn Nhân và Trương Quang Bình, khoa Thủy Sản, Đại Học Lâm Nông Thành Phố Hồ Chí Minh đã mang lại những bước thành công nhất định. Nhìn chung nước thải chế biến thủy sản thường có các thành phần ô nhiễm vượt quá quy chuẩn cho phép xả thải nhiều lần. Xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học đáp ứng mục đích đưa dòng thải vào vòng tuần hoàn tự nhiên của vật chất, chất thải được xử lý và phân hủy theo chu trình sinh học tự nhiên. Kết quả của quá trình xử lý là các chất thải được chuyển hóa hoàn toàn thành dòng thải sạch.
Kết quả trong nghiên cứu này cho thấy phương pháp này đem lại hiệu quả khá cao, các chỉ tiêu khảo sát bao gồm pH, BOD5, Nitơ tổng số, SS, COD đều nằm trong giới hạn cho phép thải ra nguồn tiếp nhận thuộc cột B của QCVN 11:2008/BTNMT – quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp chế biến thủy sản. Phương pháp này áp dụng bổ sung hệ vi sinh vật và sục khí ôxy liên tục. Thành phần hệ vi sinh vật có hiệu xuất xử lý tốt nhất là: Bacillus subtilis (1012), Nitrosomonas sp. Nồng độ hệ vi sinh vật càng cao, hiệu suất xử lý càng tốt, nồng độ hệ vi sinh vật tốt nhất là 1lit/1m3 [9, 10, 13].
Nghiên cứu xử lý nước thải thủy sản bằng phương pháp bể kỵ khí kết hợp hiếu khí, Dương Gia Đức, Đại học Bách Khoa – Đại học Đà Nẵng. Nồng độ COD đầu vào 1800 – 4000 mg/L, phụ thuộc vào thành phần nguyên liệu. Nồng độ COD đầu ra tương đối ổn định dao động 500 – 1000 mg/L. Như vậy hiệu suất xử lý đạt 55 – 86%.
Thành phần khí sinh ra: CH4: 58 – 69,4%; O2: 0.3 – 1%; CO2: 19,6 – 28%; Khí khác: 2,9 – 18,3%. Lượng khí này có thể thu hồi và sử dụng làm nhiên liệu đun nấu hoặc tạo ra điện [3]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu tuyển chọn một số chủng vi sinh vật có khả năng xử lý protein và ứng dụng xử lý nước thải chế biến thủy sản, Trương Thị Mỹ Khanh, Vũ Thị Hương Lan, Đại học kỹ thuật công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu từ mẫu nước thải thủy sản đã phân lập được 6 chủng vi khuẩn có khả năng phân giải protein, 6 chủng phân lập được phân lập được qua các thử nghiệm sinh hóa, dự đoán các chủng phân lập được thuộc chi Bacillus.
Các chủng này có khả năng loại bỏ từ 60 – 70 % COD so với ban đầu [10]. Tổng quan về các làng nghề, làng nghề chế biến thủy hải sản trên địa bàn tỉnh Nghệ An 1. Tổng quan về làng nghề Theo quy định về công nhận làng có nghề, làng nghề và chính sách khuyến khích phát triển tiểu thủ công nghiệp và làng nghề trên địa bàn tỉnh Nghệ An tại Quyết định số 80/2008/QĐ-UBND ngày 18/12/2008 và Quyết định số 85/2010/QĐ- UBND ngày 29/10/2010, để công nhận làng nghề cần có 7 tiêu chí sau [5]. + Đã thực hiện việc đăng ký xây dựng làng nghề với cơ quan có thẩm quyền công nhận làng nghề theo quy định.
Thời gian đăng ký vào tháng 10 của năm trước năm xét công nhận làng nghề. + Đã được công nhận Làng có nghề. + Có tối thiểu 30% tổng số hộ của làng tham gia các hoạt động ngành nghề tiểu thủ công nghiệp. + Đạt tối thiểu 40% giá trị sản xuất, thu nhập (theo giá thực tế) so với giá trị sản xuất và thu nhập của làng.
+ Hoạt động sản xuất kinh doanh: Tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm xét công nhận. + Phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và phát triển làng nghề, làng có nghề.