Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển của các làng nghề truyền thống tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, đi đôi với tăng trưởng kinh tế, hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề cũng bộc lộ nhiều bất cập về công nghệ thô sơ, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém và thiếu hệ thống thu gom, xử lý chất thải tập trung. Tình trạng này dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng dân cư địa phương.

Tại thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang – một đô thị miền núi phía Bắc với 17 dân tộc cùng sinh sống, hoạt động sản xuất làng nghề mang đặc trưng vùng miền sâu sắc. Địa bàn thành phố có hai làng nghề đang hoạt động là Làng nghề bánh chưng gù tại thôn Bản Tùy (xã Ngọc Đường) và Làng nghề sản xuất chế biến chè Shan tuyết tại thôn Khuổi My và thôn Nà Thác (xã Phương Độ). Nhằm đánh giá mức độ ảnh hưởng của quy trình sản xuất đến chất lượng các thành phần môi trường và đề xuất giải pháp kiểm soát ô nhiễm, tác giả Nguyễn Việt Hải đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định gồm các nội dung:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại các địa bàn có làng nghề thuộc thành phố Hà Giang.
  2. Khảo sát công nghệ và quy trình sản xuất thực tế tại hai làng nghề nghiên cứu.
  3. Xác định các nguồn phát sinh chất thải và tác nhân gây ô nhiễm nước, đất, không khí từ hoạt động sản xuất.
  4. Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường nước, đất, không khí thông qua khảo sát thực địa, phân tích mẫu phòng thí nghiệm và điều tra xã hội học.
  5. Đề xuất các giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm: quy trình và công đoạn sản xuất tại hai làng nghề; các nguồn nước, môi trường không khí tại làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy; môi trường đất, nước, không khí tại làng nghề chế biến chè Nà Thác và Khuổi My; cùng nhận thức, đánh giá của các hộ gia đình sản xuất và người dân sinh sống xung quanh.

Phạm vi nghiên cứu về không gian giới hạn tại thôn Bản Tùy (xã Ngọc Đường) và hai thôn Khuổi My, Nà Thác (xã Phương Độ), thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang. Phạm vi thời gian thực hiện nghiên cứu được tiến hành từ tháng 02 năm 2018 đến tháng 05 năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các khái niệm về làng nghề, tiêu chí công nhận làng nghề theo quy định quản lý ngành nghề nông thôn (tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn; hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm; chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước). Đề tài cũng hệ thống hóa các phương thức phân loại làng nghề và tổng quan các xu thế phát triển, đặc trưng ô nhiễm của các nhóm ngành nghề nông thôn tại Việt Nam (chế biến nông lâm thủy sản, dệt nhuộm, thủ công mỹ nghệ, tái chế kim loại, giấy, sản xuất vật liệu xây dựng).

Hệ thống cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được tác giả viện dẫn để phục vụ phân tích, so sánh gồm:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Tài nguyên nước năm 2005.
  • Nghị định số 179/1999/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Tài nguyên nước; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 127/2007/NĐ-CP hướng dẫn Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
  • Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT về việc áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường.
  • Các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 08:2008/BTNMT (chất lượng nước mặt, cột B1); QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt); QCVN 03:2008/BTNMT (giới hạn cho phép của kim loại nặng trong đất); TCVN 5942:1995, TCVN 5992:1995, TCVN 5993:1995 về lấy mẫu, bảo quản và đánh giá chất lượng nước.

Để thực hiện các mục tiêu đặt ra, đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp khảo sát ngoài thực địa: Trực tiếp quan sát, ghi nhận các công đoạn trong dây chuyền sản xuất bánh chưng gù và chế biến chè; khảo sát vị trí xả thải, hiện trạng cống rãnh, khu vực đốt nhiên liệu và tập kết nguyên vật liệu.
  • Phương pháp thu thập và phân tích tài liệu thứ cấp: Kế thừa các báo cáo kinh tế - xã hội của UBND các xã Ngọc Đường, Phương Độ; số liệu niên giám thống kê thành phố Hà Giang; các tài liệu nghiên cứu về ô nhiễm môi trường làng nghề của Viện Bảo hộ lao động và Tổng cục Môi trường.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu câu hỏi soạn sẵn đối với 30 hộ gia đình được lựa chọn ngẫu nhiên, bao gồm 10 phiếu tại làng nghề bánh chưng gù thôn Bản Tùy và 20 phiếu tại làng nghề sản xuất chế biến chè thôn Nà Thác, Khuổi My. Đối tượng phỏng vấn gồm cả hộ trực tiếp sản xuất và hộ dân cư lân cận.
  • Phương pháp lấy mẫu hiện trường và phân tích phòng thí nghiệm: Tiến hành lấy mẫu nước mặt (tại ao, sông, suối chảy qua làng nghề) và nước thải (tại cống thải của hộ sản xuất trước khi đổ vào cống chung) vào những ngày thời tiết khô ráo. Các mẫu nước được đưa về bảo quản và phân tích tại phòng thí nghiệm của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Các chỉ tiêu phân tích gồm: pH, BOD5 (20°C), COD, TSS, DO, kim loại nặng (Zn, Pb, Cu, Fe, Mn), Amoniac và tổng dầu mỡ. Đối với đất, tác giả dự kiến lấy mẫu tại 2 điểm (khu dân cư và đồi chè).
  • Phương pháp đánh giá theo tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường: Sử dụng phương pháp so sánh trực tiếp các giá trị nồng độ đo đạc được với ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 08:2008/BTNMT cột B1.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tính cấp thiết của vấn đề bảo vệ môi trường làng nghề trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Tác giả khẳng định ý nghĩa khoa học của đề tài trong việc cung cấp hệ thống số liệu quan trắc và điều tra thực tế phản ánh trung thực hiện trạng môi trường làng nghề miền núi, đồng thời xác lập ý nghĩa thực tiễn khi làm tài liệu tham khảo cho công tác quản lý môi trường tại địa phương.

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung trình bày cơ sở lý luận về làng nghề, tiêu chuẩn công nhận và xu thế vận động của các làng nghề tại Việt Nam. Theo thống kê của Tổng cục Môi trường (2008), trình độ kỹ thuật tại các làng nghề nông thôn nhìn chung còn rất thấp: loại hình thủ công và bán cơ khí chiếm tới 61,56%, trong khi mức độ tự động hóa hoàn toàn bằng 0%.

Chương 1 cũng tổng thuật chi tiết các dạng phát thải đặc trưng và tác động sức khỏe cộng đồng từ các nhóm làng nghề chế biến thực phẩm, mộc chạm khắc, dệt nhuộm, tái chế kim loại, giấy và vật liệu xây dựng. Các nghiên cứu dẫn chứng từ Viện Bảo hộ lao động cho thấy tỷ lệ mắc bệnh hô hấp tại các làng nghề tái chế (như Đông Mai, Văn Môn, Vân Mai) dao động từ 44,4% đến 65,6%, bệnh ngoài da chiếm 23,1% - 68,5%. Đây là cơ sở lý luận để đối chiếu với đặc thù sản xuất của hai làng nghề tại thành phố Hà Giang.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết địa bàn nghiên cứu, phạm vi đối tượng, các bước triển khai khảo sát thực địa, quy trình chọn mẫu điều tra xã hội học (n = 30) và kỹ thuật lấy mẫu, thông số phân tích trong phòng thí nghiệm. Tác giả cụ thể hóa các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia áp dụng làm thước đo đánh giá chất lượng môi trường đất, nước mặt và nước thải.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Nội dung chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực tế trên địa bàn thành phố Hà Giang:

  • Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Thành phố Hà Giang có diện tích tự nhiên 134,04 km2, gồm 5 phường và 3 xã; dân số trên 55 nghìn người với 17 dân tộc sinh sống (dân tộc Kinh chiếm 55%, Tày chiếm 22%). Tỷ lệ hộ nghèo toàn thành phố còn 0,81%, cận nghèo 1,84%. Thôn Bản Tùy (xã Ngọc Đường) có diện tích 627 km2, 131 hộ với 387 nhân khẩu, trong đó có 40 hộ làm nghề bánh chưng gù. Thôn Khuổi My và Nà Thác (xã Phương Độ) có diện tích 1.050 km2, 132 hộ với 687 nhân khẩu, trong đó có 107 hộ tham gia sản xuất chế biến chè Shan tuyết. Ước tính toàn bộ các thôn khảo sát có khoảng 5.000 con gia cầm và 1.100 con trâu, bò, dê.
  • Quy trình và nguyên liệu sản xuất bánh chưng gù: Thôn Bản Tùy có trên 90% hộ dân làm bánh chưng, sản lượng đạt trên 10.000 chiếc/ngày; thu nhập mỗi hộ đạt từ 30 đến 50 triệu đồng/tháng. Định mức nguyên liệu sử dụng hằng năm của làng nghề gồm: 300 tấn gạo nếp, 73 tấn đỗ xanh, 146 tấn thịt lợn, 2.000 tàu lá dong cùng nước cốt lá riềng (tạo màu xanh) hoặc nước tro cây sương muối (tạo màu đen). Quy trình kỹ thuật gồm: sơ chế lá dong, vo gạo trộn nước màu, đồ chín đỗ xanh, thái ướp thịt lợn, gói bánh tạo hình gù và luộc liên tục từ 6 đến 8 tiếng bằng 100% củi gỗ tự nhiên.
  • Quy trình sản xuất chế biến chè Shan tuyết: Nguồn nguyên liệu là chè cổ thụ mọc tự nhiên trên núi cao tại Nà Thác và Khuổi My, không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật. Chè được thu hái 4 vụ trong năm: vụ 1 (tháng 3 - 4, chất lượng cao nhất), vụ 2 (tháng 5 - 6, năng suất cao nhất), vụ 3 (tháng 8) và vụ 4 (tháng 10 - 11). Quy trình chế biến thủ công gồm các khâu: thu hái và vận chuyển về xưởng trong vòng dưới 6 giờ; làm mát trong phòng dưới 25°C, rải lớp chè dày không quá 20 cm, thời gian bảo quản không quá 10 giờ; xao chè trong thùng quay nhiệt độ 200 - 300°C; vò chè 2 lần (mỗi lần 15 - 20 phút); làm tơi thủ công; sấy khô ở nhiệt độ 95 - 100°C trong 15 - 20 phút; để nguội cân bằng ẩm từ 1 - 2 giờ và đóng gói bảo quản trong bao nilon lót bao tải.
  • Hiện trạng môi trường tại Làng nghề bánh chưng gù: Nước thải phát sinh từ khâu rửa lá, vo gạo, sơ chế thịt và vệ sinh sinh hoạt chứa chủ yếu các hợp chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học (tinh bột, đường, axit hữu cơ). Các cơ sở sản xuất đã xây dựng hệ thống cống rãnh nạo vét thường xuyên và dẫn nước thải qua hầm Biogas trước khi thải ra môi trường. Nhiên liệu luộc bánh sử dụng 100% củi khô, không dùng than đá nên phát sinh khói bụi thấp; tro bếp được thu gom bón cho cây trồng.
  • Hiện trạng môi trường tại Làng nghề chè Shan tuyết: Quy mô sản xuất hộ gia đình nhỏ lẻ; thiết bị thô sơ đã qua sử dụng lâu năm chiếm 80%. Máy vò và sao chè gây tiếng ồn cơ học ở mức độ vừa phải. Do người dân hoàn toàn không bón phân hóa học và không phun thuốc trừ sâu trên đồi chè cổ thụ nên không phát sinh dư lượng hóa chất độc hại vào môi trường đất và nước ngầm. Chất thải rắn chủ yếu là tro củi, chè cám và bao bì hỏng.

Chương 4: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng kết đánh giá hiện trạng môi trường tại hai làng nghề: nhìn chung chất lượng môi trường nước mặt, không khí và đất vẫn nằm trong giới hạn an toàn theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, chưa ghi nhận dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng. Đồng thời, chương này đề xuất 4 nhóm giải pháp: duy trì biện pháp bảo vệ môi trường hiện có; tăng cường năng lực quản lý gắn với vai trò giám sát của cộng đồng; kết hợp đồng bộ các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, công nghệ và truyền thông; dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm và hỗ trợ sản xuất chè theo tiêu chuẩn VietGAP.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa hiện trạng môi trường tại hai làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Giang thông qua hệ thống số liệu phân tích trong phòng thí nghiệm và khảo sát xã hội học thực địa:

Bảng 1: Kết quả phân tích chất lượng nước mặt tại hai làng nghề

Làng nghề Điểm lấy mẫu pH TSS (mg/l) DO (mg/l) COD (mg/l) BOD5 (20°C) (mg/l)
Bánh chưng gù (Bản Tùy) NM1 6,68 52 - 29 15
NM2 - 47 - 22 12
Chế biến chè (Nà Thác, Khuổi My) NM1 6,5 - 9,0* 12 2,7 29 11
NM2 6,5 - 9,0* 15 2,7 30 10
QCVN 08:2008/BTNMT (Cột B1) - 5,5 - 9,0 50 ≥ 4 30 15

(Ghi chú: Giá trị pH tại làng chè được văn bản xác nhận nằm trong khoảng đạt quy chuẩn 6,5 - 9,0; chỉ số DO tại làng chè ở mức 2,7 mg/l, thấp hơn ngưỡng quy chuẩn).

Bảng 2: Tổng hợp kết quả phỏng vấn cộng đồng về hiện trạng môi trường (n = 30)

Nội dung khảo sát Địa bàn Ý kiến đánh giá Số phiếu Tỷ lệ (%)
Chất lượng nước Bánh chưng gù (10 phiếu) Không ô nhiễm 7 70%
Có nguy cơ ô nhiễm 2 20%
Ô nhiễm 1 10%
Rất ô nhiễm 0 0%
Chế biến chè (20 phiếu) Không ô nhiễm 15 75%
Có nguy cơ ô nhiễm 4 20%
Ô nhiễm 1 5%
Rất ô nhiễm 0 0%
Môi trường không khí Bánh chưng gù (10 phiếu) Không ô nhiễm 5 50%*
Bình thường 3 30%
Có nguy cơ ô nhiễm 2 20%
Ô nhiễm / Rất ô nhiễm 0 0%
Chế biến chè (20 phiếu) Không ô nhiễm 10 50%
Có nguy cơ ô nhiễm 8 40%
Ô nhiễm 2 10%
Rất ô nhiễm 0 0%
Chất thải rắn Bánh chưng gù (10 phiếu) Rất tốt 6 60%
Tốt 2 20%
Bình thường 2 20%
Chưa tốt 0 0%
Tiếng ồn máy móc Chế biến chè (20 phiếu) Hơi ồn 10 50%
Ồn 7 35%
Không ảnh hưởng 3 15%
Rất ồn 0 0%

(Ghi chú: Tại bảng đánh giá không khí làng bánh chưng gù trong văn bản, số phiếu "Không ô nhiễm" là 5 phiếu, tương ứng 50%).

Các giải pháp và kiến nghị cụ thể do tác giả đề xuất bao gồm:

  • Biện pháp kỹ thuật và hạ tầng: Xây dựng thêm bể chứa nước thải và các hầm Biogas dự phòng để tránh quá tải vào các đợt cao điểm lễ, Tết tại làng nghề bánh chưng gù. Tu sửa, thay mới mái tôn khu vực đun nấu để tránh muội than tích tụ gây nguy hiểm cho người lao động.
  • Quản lý quy hoạch và nguồn nước tại làng chè: Quy hoạch khu vực chăn nuôi gia súc, gia cầm tách biệt khỏi xưởng chế biến chè; không chăn thả trâu, bò, dê tại đồi chè và gần nguồn nước cấp; định kỳ phân bổ lượng nước tưới hợp lý, xây dựng mạng lưới máy bơm tưới diện rộng và bể tích trữ nước mưa phục vụ mùa khô kiệt.
  • An toàn lao động và thị trường: Trang bị đầy đủ khẩu trang, găng tay, đồ bảo hộ lao động cho người làm nghề; hỗ trợ kinh phí giúp người dân áp dụng quy trình VietGAP và dán tem truy xuất nguồn gốc sản phẩm chè Shan tuyết.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp bộ dữ liệu thực chứng phản ánh chi tiết hiện trạng môi trường tại hai làng nghề đặc thù của miền núi Hà Giang, chứng minh rằng mô hình làng nghề truyền thống nếu gắn với nhiên liệu sinh khối (củi gỗ) và xử lý sinh học (Biogas), kết hợp canh tác tự nhiên không hóa chất thì mức độ ô nhiễm được kiểm soát tốt hơn đáng kể so với các làng nghề công nghiệp ở vùng đồng bằng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế trong quá trình thực hiện:

  • Số lượng mẫu phân tích môi trường thực tế còn ít (chỉ phân tích 2 mẫu nước mặt đại diện cho mỗi làng nghề); các chỉ tiêu phân tích chủ yếu tập trung vào các thông số cơ bản (pH, TSS, COD, BOD5, DO) nên mới chỉ đánh giá được tính chất đặc trưng mà chưa phản ánh toàn diện biến động môi trường theo chu kỳ sản xuất hằng năm.
  • Tác giả không tiến hành lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm đối với môi trường đất và nước ngầm tại làng nghề chè (chỉ dựa trên cơ sở định tính là người dân không sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu).
  • Quy mô mẫu điều tra xã hội học còn hạn chế (tổng cộng 30 phiếu hỏi), phương pháp thu thập dữ liệu định lượng qua bảng hỏi chưa sâu, khiến kết quả đánh giá mang tính chất định tính nhiều hơn định lượng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ các hạn chế trên bao gồm: mở rộng mạng lưới quan trắc môi trường đầy đủ các mùa trong năm; bổ sung phân tích chuyên sâu các chỉ tiêu kim loại nặng, vi sinh và tồn lưu hóa chất trong đất đồi chè; quan trắc chi tiết chất lượng nước thải sau hầm Biogas và đánh giá nồng độ khí thải phát tán từ các cơ sở chế biến chè khi hình thành các xưởng sản xuất tập trung quy mô lớn trong tương lai.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên và môi trường, Phát triển nông thôn khi tìm kiếm tài liệu tham khảo về phương pháp đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tiểu thủ công nghiệp tại địa bàn miền núi.
  • Cán bộ quản lý môi trường tại các phòng ban chuyên môn cấp huyện, thành phố và chính quyền cấp xã thuộc tỉnh Hà Giang trong việc xây dựng phương án giám sát chất lượng môi trường cơ sở và quy hoạch hạ tầng làng nghề.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong công trình là dữ liệu định mức nguyên vật liệu sản xuất bánh chưng gù hàng năm (Bảng số liệu mục 3.2.1), quy trình kỹ thuật chế biến chè Shan tuyết thủ công truyền thống (mục 3.2.2) và kinh nghiệm xử lý nước thải tinh bột quy mô hộ gia đình bằng hầm Biogas.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu cụ thể những làng nghề nào tại thành phố Hà Giang?
Khóa luận nghiên cứu hai làng nghề đang hoạt động trên địa bàn: Làng nghề bánh chưng gù tại thôn Bản Tùy (xã Ngọc Đường) và Làng nghề sản xuất chế biến chè Shan tuyết tại thôn Nà Thác và thôn Khuổi My (xã Phương Độ).

2. Làng nghề bánh chưng gù Bản Tùy sử dụng bao nhiêu nguyên liệu mỗi năm và sản lượng sản xuất ra sao?
Theo kết quả điều tra của tác giả, mỗi ngày làng nghề làm ra hơn mười nghìn chiếc bánh; trên 90% hộ dân trong thôn tham gia sản xuất. Định mức nguyên liệu tiêu thụ hàng năm gồm 300 tấn gạo nếp, 73 tấn đỗ xanh, 146 tấn thịt lợn và 2.000 tàu lá dong. Thu nhập của các hộ sản xuất đạt từ 30 đến 50 triệu đồng/tháng.

3. Tại sao môi trường đất và nước ngầm tại làng nghề chế biến chè không bị ô nhiễm bởi hóa chất nông nghiệp?
Cây chè tại Nà Thác và Khuổi My là giống chè Shan tuyết cổ thụ thân gỗ, mọc xen lẫn rừng tự nhiên trên núi cao. Người dân địa phương hoàn toàn thu hái tự nhiên, không sử dụng phân bón hóa học và không phun thuốc trừ sâu hay thuốc bảo vệ thực vật, do đó không làm phát sinh hóa chất độc hại vào đất và mạch nước ngầm.

4. Chỉ số oxy hòa tan (DO) đo được tại nguồn nước mặt làng nghề chè có đạt chuẩn không?
Chỉ số DO đo được tại 2 điểm nước mặt ở làng nghề chè đều đạt 2,7 mg/l. Giá trị này thấp hơn ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 08:2008/BTNMT cột B1 (yêu cầu DO ≥ 4 mg/l), cho thấy lượng oxy hòa tan trong nước mặt tại khu vực khảo sát chưa đạt yêu cầu tối ưu của quy chuẩn.

5. Các cơ sở sản xuất bánh chưng gù Bản Tùy xử lý nước thải và chất thải rắn phát sinh bằng cách nào?
Nước thải chứa tinh bột và chất hữu cơ từ khâu vo gạo, rửa lá và sơ chế được thu gom qua hệ thống cống rãnh nạo vét định kỳ và đưa vào hầm Biogas để xử lý sinh học trước khi xả ra môi trường. Về chất thải rắn, các hộ dùng 100% củi khô để luộc bánh, lượng tro sinh ra được thu gom toàn bộ để bón cho cây trồng, cuống lá dong rách hỏng được gom đưa về bãi rác tập trung theo quy định.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Việt Hải đã cung cấp bức tranh thực tế về hiện trạng môi trường tại hai làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phố Hà Giang năm 2018. Thông qua phương pháp kết hợp giữa khảo sát thực địa, lấy mẫu quan trắc phòng thí nghiệm và phỏng vấn 30 hộ dân, nghiên cứu chỉ ra rằng chất lượng môi trường nước, không khí và đất tại đây cơ bản được kiểm soát tốt, chưa có dấu hiệu ô nhiễm nghiêm trọng nhờ áp dụng hầm Biogas và phương thức canh tác chè tự nhiên. Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác quản lý tài nguyên, quy hoạch môi trường nông thôn miền núi và thúc đẩy phát triển làng nghề bền vững.