CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ KHU CÔNG NGHIỆP ĐỒ SƠN 1. Giới thiệu chung về khu công nghiệp Đồ Sơn. Khu công nghiệp Đồ Sơn Hải Phòng nằm ở phía Đông Nam thành phố Hải phòng - Thành phố cảng lớn nhất khu vực phía Bắc, là đầu mối giao thông quan trọng Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, là thành phố lớn thứ 3 của Việt Nam, có vị trí quan trọng về kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của vùng Bắc Bộ và cả nước.
Khu công nghiệp Đồ Sơn Hải Phòng đi vào hoạt động từ năm 2004 (tính từ năm bắt đầu xây dựng hạ tầng KCN) theo Quyết định thành lập KCN số 1935/GP ngày 26/6/1997 và Giấy phép điều chỉnh số 1935/GP-DC1 ngày 9/1/2006 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư có tổng diện tích 150ha. Đến nay KCN đã thu hút trên 40 nhà đầu tư đến từ các quốc gia Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Việt Nam vào đầu tư xây dựng nhà máy, thu hút trên 7000 lao động tại địa phương và các tỉnh thành khác. Hiện tỷ lệ lấp đầy của KCN Đồ Sơn đã đạt trên 95%. Các loại hình đầu tư của các nhà đầu tư thứ cấp tại KCN gồm: may mặc, da giầy, văn phòng phẩm, nến thơm, chế biến thực phẩm, sản xuất gia công gỗ công nghiệp, vật liệu xây dưng, linh kiện nhựa chính xác, cấu kiện thép, cơ khí tổng hợp,…hiện vẫn đang tiếp tục thu hút các nhà đầu tư đến đầu tư tại KCN.
Vị trí KCN Khu Công nghiệp Đồ Sơn nằm trong khoảng từ 20044’48”- 20054’48”N và 106044’55”- 169000’00”E với diện tích 150 ha và có Đường 353 đi qua từ km 11+500 đến km 13 gần phường Ngọc Xuyên với các hướng tiếp giáp như sau: + Phía Bắc : giáp mương nước thủy lợi của thành phố; + Phía Nam : giáp mương nước thủy lợi của thành phố; + Phía Đông : giáp mương nước thủy lợi của thành phố; + Phía Tây : giáp đường 14 cũ (đường giao thông liên phường Minh Đức và phường Bàng La, quận Đồ Sơn). Khu công nghiệp Đồ Sơn được chia thành 2 khu: Khu B (100 ha): Khu phía Đông đường 353; Khu A (50 ha): Khu phía Tây đường 353. Điều kiện địa hình. Mương thoát nước KHU DÂN CƯ Trạm xử lý KHU B (100 ha) Mương thoát nước KHU A (50 ha) SÂN GOLF Mương thoát nước thuỷ lợi ĐƯỜNG 353 Đi Đồ Sơn Hình 1.
Sơ đồ vị trí tương quan KCN Đồ Sơn Sinh Viên: Nguyễn Xuân Việt Tuấn – MT2101 11 Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật môi trường Hình 2. Hình ảnh khu đất của KCN Đồ Sơn KCN Đồ Sơn nằm trên địa bàn phường Tân Thành, quận Dương Kinh và phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải phòng. Đây là khu vực đồng bằng, địa hình tương đối bằng phẳng. Khu công nghiệp Đồ Sơn Hải Phòng có cơ sở hạ tầng đồng bộ đáp ứng đủ cho các tiện ích hạ tầng kỹ thuật cho các doanh nghiệp thứ cấp trong khu.
Hệ thống đường nội bộ trong Khu công nghiệp được trải nhựa bê tông, phù hợp với tiêu chuẩn đường giao thông Việt Nam H30. Đường trục chính rộng 34m, đường trục phụ rộng 21,5m. Hệ thống cây xanh bên đường đảm bảo cho Khu công nghiệp xanh sạch. Theo quy hoạch đã được phê duyệt, cao độ mặt bằng của KCN Đồ Sơn thấp hơn so với đường 353.
Vì vậy, hiện nay tuyến mương nội bộ trong KCN ngoài chức năng thoát nước cho KCN còn đang làm nhiệm vụ thoát nước cho cả khu vực dọc tuyến đường 353. Điều kiện khí tượng. KCN Đồ Sơn nằm trên địa bàn quận Dương Kinh và quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng nên các đặc điểm về khí tượng thuỷ văn nằm trong vùng chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Hải Phòng, mang những đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc nước ta là nhiệt đới gió mùa và khí hậu vùng duyên hải. Các thông số của khí hậu như sau: Khí hậu đặc trưng của khu vực Hải Phòng là khí hậu nhiệt đới gió mùa có hai mùa rõ rệt.
Với 4 mùa phân biệt là Xuân, Hè, Thu, Đông. Mùa Hè thường trùng vào mùa mưa, kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9 và mùa Đông thường trùng vào mùa khô, kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tháng 4 là tháng chuyển tiếp từ mùa Đông sang mùa Hè và tháng 10 là tháng chuyển tiếp từ mùa Hè sang mùa Đông. Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến sự lan truyền và chuyển hoá các chất ô nhiễm trong không khí gần mặt đất và nguồn nước.
Nhiệt độ càng cao thì tác động của các yếu tố gây ô nhiễm môi trường càng mạnh. Nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 14,1 đến 29,70C. Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 23,2 đến 23,80C. Chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa rất rõ rệt, khoảng 12 đến 14 0C.
Nhiệt độ trung bình các tháng và cả năm từ năm 2012 đến 2017 như sau. Sinh Viên: Nguyễn Xuân Việt Tuấn – MT2101 12 Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật môi trường Chế độ gió: Gió là yếu tố khí tượng cơ bản ảnh hưởng đến sự lan truyền các chất ô nhiễm trong không khí và làm xáo trộn các chất ô nhiễm trong nước. Tốc độ gió càng lớn thì chất ô nhiễm trong không khí lan toả càng xa nguồn ô nhiễm và nồng độ chất ô nhiễm càng được pha loãng bởi không khí sạch. Ngược lại, khi tốc độ gió càng nhỏ hoặc không có gió thì nồng độ của các chất ô nhiễm trong không khí xung quanh nguồn thải lớn.
Hướng gió thay đổi sẽ làm cho nồng độ của các chất ô nhiễm cũng biến đổi theo. Hướng gió trong một năm tại Hải Phòng biến đổi và thể hiện theo mùa của hoàn lưu. - Tháng 1, 2 và 12: gió Đông và Đông Bắc chiếm ưu thế tuyệt đối. - Tháng 3, 4: gió Đông Bắc giảm, gió Đông chiếm ưu thế.
- Từ tháng 5 đến tháng 8: Gió Đông Nam và gió Nam chiếm ưu thế. - Tháng 9, 10, 11: gió chuyển dần về hướng Bắc và Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình trong đất liền Hải Phòng hàng năm dao động trong khoảng từ 2,7 đến 3,7m/s. Mỗi hướng gió có tốc độ gió khác nhau, nhìn chung gió có hướng Tây – Tây Nam có tốc độ nhỏ nhất, gió có thành phần Nam - Đông Nam có tốc độ lớn nhất.
Độ ẩm không khí: Độ ẩm tương đối trung bình tháng của không khí tại Hải Phòng dao động từ 76-97%. Tháng 3 có nhiều ngày mưa phùn ẩm ướt nên độ ẩm tương đối tháng này đạt cao nhất. Độ ẩm tương đối trung bình năm 2017 là 88%. Nhìn chung Hải Phòng có độ ẩm cao: Trong cả năm chỉ có 2 tháng là tháng 10 và tháng 12 có độ ẩm dưới 80%, các tháng còn lại đều có độ ẩm tương đối trên 80%.
Lượng mưa, bốc hơi: Lượng mưa hàng năm ở Hải Phòng đạt từ 1600 mm đến 1800 mm, được chia thành 2 mùa: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với tổng lượng mưa là 80% so với cả năm; mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lượng mưa trong khoảng từ 200 – 550 mm. Trong năm, lượng mưa lớn nhất vào các tháng 8 và tháng 9, lượng mưa trung bình xấp xỉ 800 mm, trùng với mùa bão. Các tháng 12, 1 và 2 là những tháng có lượng mưa ít nhất trong năm, lượng mưa trung bình chiếm 20 – 25%. Hàng năm thường có 100-150 ngày có mưa.
Vào mùa đông, trung bình có 8-10 ngày mưa/tháng, mùa hè có số ngày mưa là 13 - 15 ngày/tháng. Tổng lượng bốc hơi đạt 700 - 750mm/năm, tháng 10 và 11 lượng bốc hơi lớn nhất trong năm đạt trên 80mm. Tháng 2 và 3 lượng bốc hơi thấp chỉ đạt 30mm. Chế độ bức xạ: Do chịu ảnh hưởng của cơ chế gió mùa, của các lớp mây ven biển cũng như sự tăng độ ẩm và lượng mưa hàng tháng đã gây nên các hiệu ứng hấp thụ, khuyếch tán hoặc phản xạ một phần năng lượng mặt trời, vì vậy lượng bức xạ mặt trời trung bình năm của vùng ven biển Hải Phòng là 110 – 115 kcal/cm2.
Tỷ suất bức xạ đạt cao nhất vào tháng 10, tháng Sinh Viên: Nguyễn Xuân Việt Tuấn – MT2101 13 Khóa luận tốt nghiệp Ngành: Kỹ thuật môi trường 11 (khoảng 124kcal/cm2) và thấp nhất vào tháng 3 (khoảng 64kcal/cm2). Lượng bức xạ cao nhất vào tháng 5 và tháng 6, thấp nhất vào tháng 2. Nguồn bức xạ mặt trời là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ nhiệt trong vùng, qua đó ảnh hưởng đến quá trình phát tán cũng như biến đổi các chất gây ô nhiễm. Tầng bức xạ trung bình hàng ngày ở Hải Phòng là 100-115kcal/cm2, chế độ bức xạ mặt trời tương đối ổn định định qua các năm.
Tổng số giờ nắng trong năm từ 1398-1714 giờ, đây là điều kiện tốt cho việc xử lý nước thải sinh hoạt bằng phương pháp sinh học. Bão và nước dâng do bão: Tại Hải Phòng, bão sớm có thể xuất hiện từ tháng 4 và kéo dài đến hết tháng 10 nhưng tập trung nhiều vào các tháng 7, 8, 9. Tần suất của bão trong năm thường không phân bố đều trong các tháng. Tháng 12 là thời gian thường không có bão, tháng 1 đến tháng 5 chiếm 2,5%, tháng 7 đến tháng 9 tần suất lớn nhất đạt 35 – 36%.
Hải Phòng nằm trong khu vực có tần xuất bão đổ bộ trực tiếp lớn nhất của cả nước (28%). Hàng năm khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp 1-2 cơn bão và chịu ảnh hưởng gián tiếp của 3-4 cơn. Gió bão thường ở cấp 9 – 10, có khi lên cấp 12 hoặc trên cấp 12, kèm theo bão và mưa lớn, lượng mưa trong bão chiếm tới 25 -30% tổng lượng mưa cả mùa mưa. Tuy bão xuất hiện không thường xuyên nhưng năng lượng lớn gấp nhiều lần các quá trình động lực khác.
Trong thời gian bão có thể phá huỷ, xóa đi toàn bộ các dạng địa hình bờ biển đã tồn tại trước đó và làm xuất hiện những dạng địa hình mới. Quá trình đổ bộ của bão vào đới bờ biển thường làm cho mực nước biển dâng cao gây nên quá trình phá huỷ bờ, đe doạ các hệ thống đê và các công trình ven biển. Theo các số liệu thống kê và tính toán cho thấy khi bão đổ bộ vào vùng ven bờ Bắc Bộ, mực nước biển có thể dâng cao tối đa tới 2,8m. Tuy nhiên độ cao nước dâng do bão không thể hiện đồng đều trên mọi đoạn bờ biển mà phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chủ yếu là địa hình bờ biển.
Điều kiện thủy văn.