Đặt vấn đề Nước là cội nguồn của sự tồn tại, là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế- xã hội của loài người. Vai trò của nước là muôn màu, muôn vẻ, ở đâu có nước là ở đó có sự sống. Trong cơ thể nước chiếm tỷ lệ lớn, khoảng 70% khối lượng con người trưởng thành. Nước đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống.
Người ta có thể nhịn ăn được nhiều ngày nhưng không thể nhịn uống được một ngày. Ngày nay, vấn đề nước sạch đang là vấn đề bức xúc thu hút sự quan tâm của tất cả cộng đồng trên thế giới đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Hầu hết các nguồn nước ngọt trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều bị ô nhiễm ở các mức nặng nhẹ khác nhau và sự dụng quá mức cho phép. Đây là hậu quả chung do các yếu tố: gia tăng dân số, phát triển kinh tế và công tác quả lý tài nguyên nước.
Việc cải thiện mô hình cấp nước sinh hoạt và điều kiện vệ sinh góp phần quan trọng vào việc giảm bớt gánh nặng về sức khoẻ cho người dân vùng nông thôn và là điều kiện tiên quyết để đạt đến nhiều mục đích và mục tiêu sức khoẻ đã đặt ra trong chiến lược Quốc gia toàn diện về xoá đói giảm nghèo. Một trong các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ là giảm một nửa số hộ gia đình không có điều kiện tiếp cận với nguồn nước hoặc công trình vệ sinh được cải thiện. Chiến lược Quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn đã đặt ra mục tiêu đến năm 2020, 85% dân số Việt Nam có điều kiện tiếp cận 60 lít nước sạch mỗi ngày. Khả năng tiếp cận nước sạch cho sinh hoạt là nhu cầu căn bản của con người.
Tuy nhiên sự chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước sạch giữa các tỉnh thành, giữa các vùng miền có sự khác biệt rõ rệt. Sơn La là một tỉnh miền núi, địa bàn vùng nông thôn chiếm 80% diện tích, dân số nông thôn chiếm hơn 89%, chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu số. Tỉnh đã xác định vấn đề nước sạch, bảo đảm vệ sinh môi trường ở nông thôn là vấn đề cấp bách, phải được tổ chức thực hiện nghiêm túc, thường xuyên, là nhiệm vụ chăm lo của mọi ngành, mọi cấp chính quyền, tổ chức và mọi công dân. Quá trình triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và vệ sinh môi trường nông n 2 thôn đã được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HÐND, UBND và sự ủng hộ của các cấp, các ngành cùng với sự tham gia tích cực của nhân dân.
Những kết quả đạt được trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Nước sạch và VSMT nông thôn trên địa bàn tỉnh Sơn La trong những năm qua mới chỉ giải quyết được nhu cầu bức xúc trước mắt, chưa bền vững và đồng bộ. Vẫn còn một số chương trình, dự án đầu tư cấp nước chưa đạt tiêu chuẩn về số lượng, chất lượng nước. Vì vậy để giúp cho dân cư xã Song Pe có nguồn nước đạt tiêu chuẩn chúng tôi cho rằng cần phải tiến hành đánh giá đúng chất lượng nước sinh hoạt hiện tại, cũng như tác động của nước sinh hoạt đến sức khoẻ của cộng đồng dân cư, để từ đó xây dựng các giải pháp xử lý thích hợp. Xuất phát từ mục tiêu đó và sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của ThS.
Trương Thành Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng mô hình cấp nước sinh hoạt và những tác động đến sức khỏe cộng đồng dân cư nông thôn tại xã Song Pe, Huyện Bắc Yên,Tỉnh Sơn La giai đoạn 2013 - 2014”. Nhằm đưa ra hướng giải quyết đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn, giúp cho người dân có nguồn nước sạch hợp vệ sinh sử dụng cho cuộc sống. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng chất lượng nước sinh hoạt ở các mô hình cấp nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Nắm được tình hình phát sinh một số bệnh liên quan đến nước sinh hoạt tại xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. - Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn xã Song Pe, huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. - Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương. Yêu cầu của đề tài - Căn cứ vào luật bảo vệ môi trường 2005, luật tài nguyên nước và chấp hành đúng tiên chuẩn, quy chuẩn về nước sạch dùng cho sinh hoạt (QCVN 02: 2009-BYT).
Nắm được các mô hình cấp nước sinh hoạt chính trên địa bàn và đánh giá đúng chất lượng nước của một số điểm điều tra đang được xã Song Pe sử dụng làm nước sinh hoạt. - Xác định được những tác đông của nước sinh hoạt đến sức khoẻ của cộng đồng. - Các số liệu thu thập được phản ánh trung thực và khách quan. - Những kiến nghị, đề xuất đưa ra phải phù hợp với thực trạng, tình hình của địa phương.
Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học: - Là cơ hội giúp sinh viên biết cách n ghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Bổ sung tư liệu cho học tập. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
Ý nghĩa thực tiễn: - Đánh giá được hiện trạng mô hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt của xã, phục vụ cho công tác quản lý và bảo vệ nguồn nước sinh hoạt tốt hơn cho huyện. - Xác định được những tác động của nước sinh hoạt đến sức khoẻ cộng đồng, biết được những khó khăn tồn tại trong quá trình cấp nước sinh hoạt để đưa ra những giả pháp, đề xuất nhằm thực hiện tốt chương trình cấp nước sinh hoạt nông thôn của xã. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tầm qua trọng của nước Nước là tài nguyên tái tạo, bao phủ ¾ bề mặt Trái đất.
Trong đó nước biển chiếm 97%, còn nước ao hồ, sông suối và nước ngầm chỉ chiếm 1%, nhưng lại là nguồn nước quan trọng đối với con người, là nguồn cung cấp nước sinh hoạt cho nông nghiệp, công nghiệp. Nước còn đưa vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống như: Iot (I), sắt (Fe), Flo (F), kẽm (Zn), đồng (Cu),….Tuy nhiên nước bẩn cũng có thể đưa vào cơ thể nhiều loại vi khuẩn gây bệnh. Nước bẩn chứa nhiều các chất độc hại như chì (Pb), thuỷ ngân (Hg), thạch tín (As), thuốc trừ sâu, các hoá chất gây ung thư khác. Do đó, nước dung cho sinh hoạt phải đủ về số lượng và đảm bảo an toàn về chất lượng.
Hiện nay trong quá trình khai thác và sử dụng con người đã làm cạn kiệt và ô nhiễm các nguồn nước. Khái niệm ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều hướng xấu đi các tính chất vật lý – hóa học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm đa dạng sinh vật thủy sinh và giảm độ trong của nước. Nguồn gốc ô nhiễm nước có thể là tự nhiên hay nhân tạo.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên như mưa rơi, khu công nghiệp… kéo theo các chất bẩn xuống sông, hồ. Các chất gây bẩn còn có thể là nguồn gốc sinh vật tạo nên như xác động thực vật. Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải gây nên. Các xu hướng chính thay đổi chất lượng nước khi bị ô nhiễm là: + Giảm độ pH của nước do ô nhiễm bởi H2SO4, HNO3 từ khí quyển, tăng hàm lượng SO42- và NO3- trong nước.
n 5 + Tăng hàm lượng các ion Ca2+, Mg2+, SiO32- trong nước ngầm và nước sông do nước hòa tan, phong hóa các quặng cácbonat. + Tăng hàm lượng các muối trong nước bề mặt và nước ngầm do chúng đi vào môi trường nước cùng với nước thải, từ khí quyển, từ các chất thải rắn. + Tăng hàm lượng các chất hữu cơ, trước hết là các chất khó bị phân hủy bằng con đường sinh học (các chất hoạt động bề mặt, thuốc trừ sâu. + Giảm nồng độ ôxy hòa tan trong nước tự nhiên do các quá trình ôxy hóa có liên quan với quá trình Eutrophication các nguồn chứa nước và khoáng các hợp chất hữu cơ.
+ Tăng hàm lượng các ion kim loại trong nước tự nhiên, trước hết là Pb , Cd+, As3+, Zn2+, Fe2+, Fe3+,.và PO3-4, NO3-,NO2-. 3+ + Giảm độ trong của nước: Tăng khả năng nguy hiểm của nước tự nhiên do các nguyên tố đồng vị phóng xạ. Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước: dựa vào nguồn gốc ô nhiễm có ô nhiễm do nông nghiệp, công nghiệp hoặc sinh hoạt. Dựa vào môi trường nước có ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương.
Dựa vào tính chất ô nhiễm như ô nhiễm sinh học, hóa học hay vật lý. Nguyên nhân gây ô nhiễm nguồn nước Môi trường nước bị ô nhiễm do nhiều nguyên nhân khác nhau gồm nguyên nhân khách quan (thiên tai, lũ lụt.) nguyên nhân chủ quan (do các hoạt động sống của con người gây ra, nước thải đổ xuống các sông, hồ, kênh, rạch không qua xử lý làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm). Tuy nhiên ta có thể liệt kê một số nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm nguồn nước như sau: 2. Ô nhiễm do rác thải sinh hoạt của người dân Ở Việt Nam mỗi năm phát sinh đến hơn 15 triệu tấn chất thải rắn, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, từ các nhà hàng, các khu chợ và kinh doanh chiếm 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước.
Lượng còn lại phát sinh từ các cơ sở công nghiệp và các chất thải y tế. Các khu đô thị tuy dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng 50% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của cả nước).