Chương 1: Cơ sở lý luận về mô hình can thiệp cho trẻ tự kỷ Chương 2: Thực trạng hoạt động can thiệp trẻ tự kỷ của mô hình. Chương 3: Đánh giá kết quả thực hiện hoạt động can thiệp trẻ tự kỷ của mô hình. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1. Cơ sở lý luận về mô hình can thiệp trẻ tự kỷ.1 Khái niệm công cụ 1.1 Trẻ tự kỷ Tự kỷ hay còn gọi bằng những tên khác nhau như trẻ tự kỷ, hội chứng Tự kỷ.
Thuật ngữ tiếng Anh tự kỷ được xác định bởi một danh từ "Autism" chỉ những rối nhiễu đặc trưng trong việc khó khăn thiết lập các mối quan hệ, tương tác với xã hội. Đây là một tên gọi do nhà tâm lý Leo Kanner đưa ra vào năm 1943. Ông mô tả chi tiết hành vi của nhóm trẻ này bao gồm: "thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác; các thói quen thường ngày rất giống nhau về tính cách kỳ dị và tỉ mỉ; không có ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ nói khác thường; rất thích xoay các đồ vật hình tròn; có kỹ năng mức cao về nhìn nhận không gian hoặc giỏi trí nhớ "vẹt", hình thức bên ngoài có vẻ hấp dẫn, nhanh nhẹn, thông minh" [12, tr. Theo ông, những hành vi trên là biểu hiện của một hội chứng có tính độc nhất và tách rời đối với các trạng thái khác của tuổi ấu thơ.
Năm 1979 Lorna Wing đã đưa ra thuật ngữ Rối loạn phổ Tự kỷ (tên tiếng anh là Autistic Spesctrum Disorder). Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về Tự kỷ, dưới đây là một số khái niệm được sử dụng rộng rãi và khá phổ biến. Năm 1964 Bernard Rimland và một số nhà nghiên cứu khác cho rằng Tự kỷ là do những thay đổi của cấu trúc lưới trong bán cầu não trái, hoặc do những thay đổi về sinh hóa và chuyển hóa ở những đối tượng này. Do đó, những trẻ tự kỷ không có khả năng liên kết các kích thích thành kinh nghiệm của bản thân; không giao tiếp được vì thiếu khả năng khái quát hóa những điều cụ thể.
Năm 1999 tại Hội nghị toàn quốc về Tự kỷ của Mỹ, các chuyên gia cho rằng Tự kỷ là một bệnh lý đi kèm với tổn thương chức năng của não [14, tr. Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển diện rộng, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến giao tiếp và quan hệ xã hội. Năm 2008 Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm “Tự kỷ là một dạng khuyết tật phát triển tồn tại suốt cuộc đời, thường xuất hiện trong 3 năm đầu đời. Tự kỷ là do rối loạn 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thần kinh, gây ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của não bộ.
Tự kỷ có thể xảy ra ở bất cứ cá nhân nào không phân biệt giới tính, chủng tộc hoặc điều kiện kinh tế - xã hội. Đặc điểm của tự kỷ là những khiếm khuyết về tương tác xã hội, giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ và có hành vi, sở thích, hoạt động mang tính hạn hẹp, lặp đi lặp lại” [35, tr. Đây được coi là khái niệm tương đối đầy đủ và được sử dụng phổ biến nhất. Như vậy, mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau có các quan điểm khác nhau về Trẻ tự kỷ.
Trong luận văn này tôi chọn khái niệm của Liên hiệp quốc năm 2008 làm công cụ nghiên cứu và nội dung nghiên cứu.2 Rối loạn tự kỷ. Rối loạn tự kỷ (Autism Spectrum Disorders) ở trẻ em thể hiện bằng sự sa sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các phương diện: tương đối xã hội kém phát triển nghiêm trọng, ngôn ngữ phát triển chậm và lệch lạc bất thường, hành vi và ứng xử nghèo nàn, định hình, lặp đi lặp lại. Những rối loạn này làm cho trẻ không có khả năng hòa nhập cộng đồng. Điều đó cho thấy mức độ ảnh hưởng của hội chứng này tới trẻ về mặt thể chất và tinh thần là rất đáng ngại.
Trong đó, khó khăn trong giao tiếp là vấn đề đầu tiên[35].3 CTXH “CTXH là một chuyên ngành được sử dụng để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt được những mục tiêu ấy” [12, tr. Theo định nghĩa này, có thể thấy, Công tác xã hội là một hoạt động trợ giúp, một dịch vụ xã hội và là một ngành hướng đến sự phát triển con người và công bằng xã hội: "Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho người dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ. Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề" [14, tr.1 Mục đích của Công tác xã hội: 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mục đích của Công tác xã hội được thể hiện rất rõ qua những định nghĩa, khái niệm về ngành này.
Hiểu một cách chung nhất là vì con người, trong đó hướng tới việc “giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực và giải phóng cho con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu từ đó thúc đẩy sự thay đổi xã hội”. Kết hợp với phương pháp so sánh, người nghiên cứu sẽ so sánh để chỉ ra điểm tương đồng giữa mục đích của mô hình can thiệp trẻ tự kỷ với mục đích của Công tác xã hội[12].2 Các giá trị và nguyên tắc của Công tác xã hội: Với tư cách là một dịch vụ, một ngành nghề vì con người, Công tác xã hội có những giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp nhất định của nó, đây chính là một trong số những nhân tố quan trọng giúp phân biệt Công tác xã hội với những hoạt động hỗ trợ khác và là một yếu tố then chốt để xác định xem một hoạt động trợ giúp nào đó có mang tính chất Công tác xã hội hay không. Trên thế giới hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau về giá trị của nghề Công tác xã hội, tuy nhiên trong quá trình tìm hiều qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, các ý kiến đều tựu chung ở một số giá trị căn bản như sau: - Công bằng xã hội - Tôn trọng con người - Tin tưởng con người có tiềm năng thay đổi và có quyền phát triển các tiềm năng ấy Công tác xã hội tiếp thu những giá trị ngày trong các nguyên tắc căn bản của nó: - Nguyên tắc cá nhân (cá biệt) hóa - Nguyên tắc chấp nhận thân chủ - không kết án (hay không phán xét) - Tôn trọng quyền tự quyết của thân chủ - Nguyên tắc bảo mật Nội dung cụ thể của các giá trị, nguyên tắc này sẽ được luận văn trình bày cụ thể trong phần đánh giá, đối chiếu với những giá trị, nguyên tắc hoạt động của Mô hình can thiệp.4 Mô hình và mô hình CTS 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm mô hình Mô hình mô tả một cách chung nhất cái gì thường xẩy ra trong thực hành, nêu lên tình huống bao quát nhất và đưa ra một dạng cấu trúc cho ý tưởng. Mô hình đúc kết các nguyên tắc và loại hình của hoạt động, giúp cho việc thực hành có một dáng dấp nhất định.
Mô hình cung cấp cho nhân viên công tác xã hội ý tưởng để kết cấu và tổ chức tiếp cận cho một tình huống phức tạp. Mục tiêu là để giúp trẻ tiến bộ về giao tiếp xã hội – giao tiếp, nhận thức và ngôn ngữ – cho trẻ tự kỷ còn nhỏ tuổi, và để giảm thiểu các hành vi điển hình của tự kỷ. ESDM -Mô hình can thiệp sớm Denver thích hợp với trẻ tự kỷ hoặc có những triệu chứng của tự kỷ khi chúng còn nhỏ khoảng 12 tháng đến tuổi sắp đi học. Trẻ tự kỷ nếu được phát hiện sớm, can thiệp sớm thì có khả năng để phát triển trí tuệ, trẻ có thể có ngôn ngữ, học được kiến thức văn hóa, hòa nhập với mọi người trong cộng đồng.2 Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái Các quan điểm hệ thống trong CTXH có nguồn gốc từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy.
Đây là một lý thuyết sinh học cho rằng: “mọi tổ chức hữu cơ đều là những hệ thống được tạo nên từ các tiểu hệ thống và ngược lại cũng là một phần của hệ thống lớn hơn. Do đó con người là một bộ phận của xã hội và được tạo nên từ các phân tử, mà được tạo dựng từ các nguyên tử nhỏ hơn”. Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson (1995), Mancoske (1981). Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn CTXH phải kể đến công lao của Pincus và Minahan.
Các nhà hệ thống sinh thái cho rằng: Cá nhân là 1 hệ thống nhỏ trong các hệ thống lớn và là hệ thống lớn trong các tiểu hệ thống quan hệ, và các thể chế xã hội, các tổ chức chính sách có ảnh hưởng tới cá nhân. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Con người đó chịu sự tác động nhất định của các hệ thống (tích cực hoặc tiêu cực). Vì vậy khi xem xét vấn đề của cá nhân, nhóm cần phải xem xét các mối quan hệ, tác động qua lại của các hệ thống đối với cá nhân hoặc nhóm đó để chúng ta có thể khai thác những tác động tích cực của hệ thống đối với cá nhân, nhóm. Đồng thời hạn chế những tác động tiêu cực từ hệ các thống này đến cá nhân, nhóm.
Mục đích của CTXH là thúc đẩy công bằng xã hội để con người mở rộng các cơ hội tạo ra chỗ đứng cho mình trong xã hội. Lý thuyết hệ thống đặt cá nhân vào vị trí tương tác liên tục với những người khác và với những hệ thống khác trong môi trường và những con người, những hệ thống khác nhau này tác động tương hỗ với nhau. Như vậy lý thuyết hệ thống giúp cho nhân viên CTXH phân tích thấu đáo sự tương tác giữa trong các hệ thống xã hội và hình dung những tương tác này ảnh hưởng ra sao tới hành vi con người, từ đó nhân viên CTXH đưa ra những giải pháp trợ giúp tốt nhất cho thân chủ.