Chương I: Những quy định chung (từ Đ1-23) Chương II:Hoạt động thương mại (từ Đ45-218) Chương II: Mua bán hàng hóa (từ Đ24 - 73) Chương III: Thương phiếu (từ Đ219-Đ221) Chương III: Cung ứng dịch vụ (từ Đ74 - 87) Chương IV: Chế tài trong thương mại và Chương IV. Xúc tiến thương mại (từ Đ88-140) giải quyết tranh chấp trong thương mại (từ Đ222 – 243) Chương V: Quản lý nhà nước về thương Chương V. Các hoạt động trung gian mại (từ Điều 244 - 262) thương mại (từ Điều 141 đến Điều 177) Chương VI: Điều khoản thi hành (Điều 263, Chương VI. Một số hoạt động thương mại 264) cụ thể khác (từ Điều 178 đến Điều 291) Chương VII.
Chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp trong thương mại (từ Điều 292 đến Điều 319) Chương VIII. Xử lý vi phạm pháp luật về thương mại (từ Điều 320 đến Điều 322) Chương IX. Điều khoản thi hành (Đ323, 324) [Nguồn: Tác giả tự tổng hợp] Như vậy, bố cục của Luật Thương mại năm 2005 một mặt vẫn kế thưa những điểm cơ bản của Luật Thương mại năm 1997, mặt khác đã có sự bổ sung cơ bản. Sự thay đổi này chủ yếu là do việc mở rộng phạm vi điều chỉnh của Luật.
Luật Thương Mại năm 2005 không chỉ điều chỉnh các hoạt động mua bán hàng hóa mà còn điều chỉnh cả các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương mại, Luật Thương Mại năm 2005 không chỉ giới hạn trong 14 hành vi thương mại cụ thể mà chia thành 4 12 nhóm hành vi thương mại. Các nhóm hoạt động thương mại cùng tính chất được tập hợp trong chương riêng như Chương IV “Xúc tiến thương mại” hay Chương V “Các hoạt động trung gian thương mại” chứ không gói gọn trong một chương “ Các hoạt động thương mại” như của Luật Thương Mại 1997. Nội dung cơ bản của Luật Thương mại năm 2005 2.Về phạm vi điều chỉnh Phạm vi điều chỉnh của Luật Thương mại năm 2005 được mở rộng phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, theo hướng Luật Thương mại xác định hoạt động thương mại theo nghĩa rộng và đưa ra quy định khung cho các hoạt động này. Đối với các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại gắn liền và phục vụ trực tiếp cho mua bán hàng hóa, Luật Thương mại năm 2005 đưa ra những chế định cụ thể.
Những hoạt động thương mại khác chưa được quy định cụ thể trong Luật Thương mại năm 2005 sẽ được các luật chuyên ngành quy định.Về đối tượng áp dụng Luật Thương mại năm 2005 được áp dụng đối với: 1) Thương nhân hoạt động thương mại; 2) Tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Riêng đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh thì căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ sẽ có quy định cụ thể sau.Về những qui đị nh cơ bản của hoạt động thương mại Luật đưa ra 6 nguyên tắc, làm nguyên tắc chung cho hoạt động thương mại phù hợp với những qui tắc của Luật Dân sự , thực tiễn thương mại Việt Nam và các thông lệ quốc tế.Về thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại ở Việt Nam Luật Thương mại năm 2005 xác đị nh các hì nh thức và quyền hoạt động thương mại của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam. So với Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại năm 2005 đã bổ sung thêm hai hì nh thức mới của thương nhân nước ngoài ở Việt Nam là doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài bên cạnh hì nh thức chi nhánh và văn phòng đại diện.Về các hoạt động thương mại cụ thể Luật đã chia các hoạt động thương mại thành năm nhóm chí nh : Mua bán hàng hóa (chương II), Cung ứng dị ch vụ (chương III), Xúc tiến thương mại (chương IV), Các hoạt động trung gian thương mại (chươngV) và Một số hoạt động thương mại cụ thể khác (chươngVI). * Chƣơng II: Mua bán hàng hóa Chương này bao gồm ba mục : Các qui định c hung đối với hoạt độ ng mua bán hàng hóa , quyền và nghĩ a vụ các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa , mua bán hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa.
Về các qui đị nh chung đối với hoạt động mua bán hàng hóa : Luật Thương mại năm 2005 có nhiều điểm mới so với Luật Thương mại năm 1997 như: không qui đị nh về các nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa , đưa thêm vào các biện pháp khẩn cấp mà Nhà nước có thể áp dụng trong các trường hợp đặc biệt với cả hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa quốc tế , đổi tên hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài thành hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, qui đị nh về các phương thức xuất khẩu, nhập khẩu… Về quyền và nghĩ a vụ củ a các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa : Luật đưa ra các qui đị nh về quyền và nghĩ a vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa trên cơ sở kế thừa các qui định về mua bán hàng hóa trong Luật Thương mại 1997, tham khảo Công Ước Viên năm 1980 và tập quán , thông lệ quốc tế về mua bán hàng hóa, phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Về mua bán hàng hóa qua Sở giao dị ch hàng hóa. Đây là một mục mới của Luật Thương mại năm 2005 so với Luật Thương mại năm 1997. Trong mục này, Luật đã đưa ra những qui đị nh khung cho hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dị ch hàng hóa.
Chƣơng III: Cung ƣ́ng dị ch vụ Đây là một chương hoàn toàn mới của Luật Thương mại năm 2005, do đó nhiều qui đị nh trong chương này chỉ mang ý nghĩ a tạo khung pháp lý cho các hoạt động cung ứng dị ch vụ trên thị trường. Những loại hì nh dị ch vụ cụ thể được qui đị nh chi tiết trong các luật chuyên ngành như: Luật Kinh Doanh bảo hiểm (ban hành năm 14 2000), Luật các tổ chức tí n dụng (ban hành năm 1997, sửa đổi bổ sung năm 2004), Bộ Luật Lao Động, những qui đị nh về dị ch vụ tư vấn pháp lý… Trong chương này , Luật đưa ra các qui đị nh về quyền cung ứ ng và sử dụng dịch vụ của thương nhân được xây dựng dựa trên cơ cở các phương thức cung ứng dịch vụ phù hợp với qui định về thương mại dịch vụ của Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA) và các qui định của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Luật cũng đưa ra quyền và nghĩ a vụ của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ. Đồng thời, Luật đưa ra các qui đị nh về dị ch vụ cấm kinh doanh , hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiệ n cơ sở cho hoạt động quản lý nhà nước về thương mại dị ch vụ trong nước.
Chƣơng IV: Xúc tiến thƣơng mại Tương tự như Luật Thương mại năm 1997, Xúc tiến thương mại trong Luật Thương mại năm 2005 cũng bao gồm bốn nội dung là : khuyến mại ; quảng cáo thương mại ; trưng bày , giới thiệu hàng hóa , dịch vụ; hội chợ và triển lãm thương mại. Nhưng Luật Thương mại năm 2005 qui đị nh chi tiết , cụ thể hơn Luật Thương mại năm 1997. Nếu như trong Luật Thương mại năm 1997, các hoạt động khuyến mại chỉ được qui định trong 6 điều thì nay đã được bổ sung và sửa đổi thành 14 điều, các qui định về Quảng cáo thương mại tăng từ 12 điều (Luật Thương mại năm 1997) lên 15 điều; Trưng bày , giới thiệ u hàng hóa , dịch vụ tăng từ 10 điều lên 12 điều; Hội chợ , triển lãm thương mại từ 11 điều lên 12 điều. Bên cạnh đó , nhiều nội dung mới được đưa vào Luật như : bổ sung các hì nh thức khuyến mại , làm rõ các thông tin phải thông báo công khai trong hoạt động khuyến mại , trách nhiệm của các bên trong hoạt động hội chợ, triển lãm.
Các hoạt động trung gian thƣơng mại Chương này gồm bốn m ục, quy đị nh về : Đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại. Các điều khoản của chương này kế thừa nhiều nội dung của Luật Thương mại năm 1997, có bổ sung một số điều cho phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động thương mại ở Việt Nam như : quyền đòi bồi thường của bên đại lý trong trường hợp bên giao đại 15 lý đơn phương yêu cầu chấm dứt hợp đồng đại lý ( được qui đị nh trong khoản 2 và khoản 3 điều 177). Chƣơng VI: Một số hoạt động trung gian thƣơng mại khác Ngoài một số hoạt động trong thương mại như gia công trong thương mại ; đấu giá hàng hóa , dịch vụ; đấu thầu hàng hóa , dịch vụ; dịch vụ giám định , chương này đưa ra bốn loại hình dịch vụ mới là dịch vụ Logis tics, quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam và dịch vụ quá cảnh hàng hóa , nhượng quyền thương mại và cho thuê hàng hóa. Đây là những hoạt động thương mại đã xuất hiện trên thị trường Việt Nam trong những năm vừa qua nhưng chưa được Luật Thương mại năm 1997 điều chỉnh.
Sự bổ sung này của Luật Thương mại năm 2005 đã giúp đáp ứng được nhu cầu từ thực tiễn thương mại nước ta. Về các chế tài trong thương mại và giải quyết tranh chấp trong thương mại So với Luật Thương mại năm 1997, phần chế tài trong Luật Thương mại năm 2005 được bổ sung thêm hai loại chế tài là tạm ngừng thực hiện hợp đồng và đì nh chỉ thực hiện hợp đồng. Đáng chú ý là Luật đã đưa ra khái niệ m “vi phạm cơ bản hợp đồng” để làm cơ sở cho việc áp dụng các chế tài như tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đì nh chỉ thực hiện hợp đồng và hủy hợp đồng chỉ áp dụng đối với những vi phạm cơ bản. Luật cũng xác đị nh rõ m ối quan hệ giữa các chế tài để tạo thuận lợi cho việc áp dụng và thực thi luật.
Về giải quyết tranh chấp trong thương mại , Luật Thương mại năm 2005 đưa ra ba hì nh thức giải quyết tranh chấp giống như trong Luật Thương mại năm 1997, song giải quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng trực tiếp không còn là hình thức giải quyết tranh chấp bắt buộc như trong luật Thương mại năm 1997. Trên đây là những nội dung chí nh của Luật Thương mại năm 2005.