ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, chăn nuôi đang là trọng tâm phát triển của toàn ngành nông nghiệp, nó chiếm phần lớn sản phẩm nông nghiệp. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, nghành chăn nuôi nước ta không ngừng được nâng lên nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của cuộc sống, thu hẹp cán cân nông nghiệp giữa chăn nuôi và trồng trọt. Trong đó chăn nuôi lợn chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đáp ứng khoảng 70% nhu cầu thịt trong nước, nâng cao hơn nữa chất lượng bữa ăn mà còn phục vụ xuất khẩu. Với vai trò đó, nghành chăn nuôi lợn đã có những bước tiến vượt bậc.
Xu hướng chăn nuôi lợn hiện nay ở nước ta đang chuyển dần từ chăn nuôi nhỏ lẻ mang tính tận dụng sang chăn nuôi tập trung với quy mô trang trại. Do vậy số lượng trang trại tăng lên một cách nhanh chóng cả về số lượng và quy mô. Theo tổng cục thống kê, 6 tháng đầu năm 2012 tổng đàn lợn là 26,7 triệu con tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011. Đàn lợn nái khoảng 4,15 triệu con tăng 8,7% so với cùng kỳ, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1936,2 ngàn tấn tăng 4,8%.
Định hướng phát triển dài hạn đến năm 2020 chăn nuôi cơ bản chuyển sang phương thức trang trại, công nghiệp đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu. Tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp đến năm 2015 đạt 38% và đến năm 2020 đạt 35 triệu con trong đó đàn lợn ngoại trang trại chiếm 37%. Chăn nuôi lợn ở nước ta đã có những bước tiến bộ nhất định nhưng so với tốc độ phát triển chăn nuôi của một số nước trong khu vực và thế giới thì ngành chăn nuôi lợn ở nước ta vẫn ở mức độ thấp, năng suất và chất lượng chưa cao. Để phù hợp với công cuộc hội nhập, ngành chăn nuôi lợn không những được mở 1 rộng về quy mô sản xuất và chất lượng sản phẩm cũng không ngừng được cải thiện.
Điều này là do đàn lợn hướng nạc ngoại nhập ngày càng phát triển, đặc biệt là những giống lợn có tỷ lệ nạc cao và năng suất sinh sản tốt như: Landrace, Yorkshire, Duroc…Vì vậy việc tạo ra những con giống tốt có chất lượng cao để phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu là một nhiệm vụ trọng tâm của các công ty giống. Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển, nhu cầu của người tiêu dùng trong nước về thịt lợn tăng cao đặc biệt là thịt lợn nhiều nạc, đòi hỏi phải có những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn nhất là lợn có tỷ lệ nạc cao. Vì vậy việc mở rộng chăn nuôi lợn thịt siêu nạc là việc làm cần thiết. Tuy nhiên để sản xuất đạt năng suất và hiệu quả cao thì trước khi đưa vào sản xuất đại trà, cần phải tiến hành khảo sát và đánh giá khả năng sinh sản của giống lợn trong các điều kiện chăn nuôi khác nhau.
Trại lợn Ba Vì thuộc Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương được chuyển nhượng từ Công ty CP mới đi vào hoạt động năm 2011. Mới đầu chỉ nuôi lợn xuất thịt, đến năm 2012 trại mở rộng quy mô và cơ cấu nuôi thêm một số giống lợn nái ngoại từ trại Đô Lương chuyển ra như Landrace, Yorkshire, PiDu…Do điều kiện chăn nuôi thay đổi như vậy nên việc đánh giá năng suất sinh sản là rất cần thiết. Xuất phát từ thực tế trên, tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire nuôi tại Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương”. MỤC ĐÍCH – YÊU CẦU Đánh giá được năng suất sinh sản của lợn nái giống thuần Landrace và Yorkshire từ lứa đẻ 1 tới lứa đẻ 6.
Đánh giá khả năng sinh sản của từng giống. Xác định khả năng tiêu tốn thức ăn/kg lợn cai sữa. 2 Phần II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. NGUỒN GỐC, ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ TÍNH NĂNG SẢN SUẤT CỦA LỢN LANDRACE VÀ YORKSHIRE 2.
Giống lợn Yorkshire – Nguồn gốc: Giống lợn Yorkshire được hình thành do lai giữa một giống lợn địa phương Yorkshire (có màu lông trắng, cứng, trên da thường có vết xám đen. Tai rủ, chân cao, đi lại nhanh nhẹn trên đồng cỏ, phát triển nhanh, khả năng sinh sản trung bình) với giống lợn Châu Á, giống này có đặc điểm nhanh thành thục, dễ vỗ béo. Xương nhỏ, lưng võng, tai ngắn và đứng, lông màu đen hoặc khoang. Mắn đẻ và đẻ sai con, mông đùi kém phát triển.
Nhà chăn nuôi Bakewell đã cải tiến giống lợn Leicester đen bằng giống lợn Châu Á để hình thành giống lợn Leicester đen cho nhiều thịt và mỡ. Cho lai với giống lợn Yorkshire trắng đã tạo ra giống Small Yorkshire hay Small White. Trong quá trình lai tạo, dần dần xuất hiện một kiểu Large White và một kiểu Middle White. Năm 1851, giống lợn Yorkshire Large White đã được hội đồng khoa học Hoàng Gia Anh công nhận là một giống mới (Võ trọng Hốt và cộng sự, 2000).
– Đặc điểm: Lợn Yorkshire nuôi ở nước ta hiện nay được nhập từ Liên Xô cũ từ năm 1964 và Cuba năm 1978. Yorkshire Liên Xô cũ có đặc điểm toàn thân màu trắng, lông dày mềm, tai thẳng đứng, vai đầy đặn, ngực sâu, bốn chân khỏe. Yorkshire Cuba có đặc điểm toàn thân màu trắng đầu to, trán rộng, mõm dài hơi cong, tai đứng hơi nghiêng về phía trước (Trương Lăng, 2001). – Một số tính năng sản xuất: Lợn Yorkshire có ưu điểm là dòng đực có tỷ lệ nạc cao, dòng nái sinh sản cao; cả đực và cái đều có thân hình chữ nhật, bộ phận sinh dục đực lộ rõ, mắn đẻ, sai con, nuôi con khéo, chịu đựng kham khổ, có chất lượng thịt tốt, khả năng chống chịu với điều kiện khí hậu, môi trường 3 thay đổi cao.
Con đực trưởng thành có trọng lượng 350 – 380 kg, con cái đạt 250 – 280 kg. Số con/lứa là 10 – 12 con (có lứa đạt 17 – 18 con). Con cai sữa ở 60 ngày tuổi đạt 16 – 20 kg/con (Võ Trọng Hốt và cộng sự, 2000). Giống lợn Landrace – Nguồn gốc: Giống lợn Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch, được hình thành từ sự lai tạo giữa giống lợn Yout land có nguồn gốc từ Đức và lợn Yorkshire có nguồn gốc từ Anh.
Từ năm 1907 – 1919, lợn Landrace có mức tăng trọng 546 g/ngày với 3,73 đơn vị thức ăn. Từ năm 1972 – 1973 mức tăng trọng đạt 735 g/ngày với 3 đơn vị thức ăn. Ngày nay, lợn Landrace có mức tăng trọng trung bình từ 750 – 800 g/ngày tùy theo yêu cầu chăn nuôi của từng nước. – Đặc điểm của giống lợn này là: Tai to, dài, che phủ xuống mặt, lưng thẳng, xườn tròn, bụng gọn, phần sau rất phát triển, mông xuôi thể hiện rõ tính hướng nạc, có từ 14 vú trở lên.
– Tính năng sản xuất: Lợn nái đẻ 10 – 11 con/lứa, một năm từ 2 – 2,2 lứa. Khối lượng sơ sinh đạt 1,3 – 1,4 kg/con. Lợn đực trưởng thành đạt 300 – 350 kg/con, lợn nái trưởng thành đạt 250 – 300 kg. Lợn Landrace được dùng trong lai kinh tế với các giống lợn nội để nâng cao khối lượng và tỷ lệ nạc cho lợn nội (Trương Lăng, 2001).
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ SINH DỤC Ở LỢN CÁI 2. Chu kỳ tính Khi gia súc thành thục về tính thì cơ thể cái đặc biệt là cơ quan sinh dục có biến đổi kèm theo sự rụng trứng. Sự phát triển của trứng dưới sự điều tiết của hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng một cách có chu kỳ và biểu hiện bằng những triệu trứng động dục có chu kỳ gọi là chu kỳ tính. Thời gian của chu kỳ động dục được tính từ lần động dục trước đến động dục sau.
Lợn có chu kỳ động dục 18 – 23 ngày, trung bình 21 ngày. Thời gian động dục kéo dài 3 – 7 ngày, trung bình 5 ngày và chia ra làm 4 giai đoạn: Giai đoạn trước 4 động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn yên tĩnh. ➢ Giai đoạn trước động dục (kéo dài khoảng 1 – 2 ngày) Đây là giai đoạn đầu của chu kỳ sinh dục và tính từ khi thể vàng của chu kỳ động dục trước đến lần động dục tiếp theo. Nó xuất hiện đầy đủ các hoạt động về sinh lý, tính thành thục, trong đó có sự phát triển của bao noãn.
Bao noãn thành thục nổi rõ trên bề mặt buồng trứng, buồng trứng to hơn bình thường. Đường sinh dục xung huyết, nhu động của tử cung tăng cường, mạch quản trong màng nhày của âm đạo tiết ra niêm dịch, cổ tử cung hé mở. Tất cả những biến đổi này đều chuẩn bị cho tế bào trứng tách ra khỏi bao trứng. Đầu giai đoạn đường kính bao noãn là 4 mm, đến cuối giai đoạn tăng 8 – 12 mm.
Giai đoạn này cơ quan sinh dục có biểu hiện: Âm đạo sưng đỏ, có hoặc ít nước nhờn, con vật bồn chồn không yên, biếng ăn hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác hay thành chuồng nhưng không cho con khác nhảy lên lưng nó hoăc bỏ chạy khi người dẫn tinh ấn tay vào mông. Ở đoạn này không nên phối ép vì trứng chưa rụng không có khả năng thụ thai. ➢ Giai đoạn động dục (kéo dài 2 – 3 ngày) Gồm 3 thời kỳ liên tiếp là hưng phấn, chịu đực và hết chịu đực, giai đoạn này tế bào trứng tách khỏi noãn bao. Toàn bộ cơ thể gia súc và cơ quan sinh dục biểu hiện hàng loạt các biến đổi sinh lý.
Lượng oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất 112 mg% trong đó bình thường chỉ có 64 mg% do đó gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân. Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: Âm hộ xung huyết, tấy sưng lên, chuyển từ màu hồng đỏ sang màu mận chín, tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần keo dính có tác dụng làm trơn đường sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn. Các biểu hiện về thần kinh: Thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ ăn, bồn chồn không yên tĩnh, hoặc kêu rít lên phá chuồng nhảy lên lưng con khác. Lúc đầu chưa cho con đực nhảy sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy.
5 Trứng rụng: Ở lợn sau khi động dục 24 – 30 giờ thì trứng rụng và thời gian trứng rụng kéo dài 10 – 15 giờ. Vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sản xuất có hiệu quả thụ thai cao.