Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi đóng vai trò trọng tâm trong cơ cấu phát triển nông nghiệp tại Việt Nam, trong đó chăn nuôi lợn giữ vị trí đặc biệt thiết yếu khi cung cấp khoảng 70% tổng nhu cầu tiêu thụ thịt trên cả nước và phục vụ mục tiêu xuất khẩu. Cùng với xu hướng hội nhập kinh tế và hiện đại hóa nông nghiệp, phương thức sản xuất đang có sự dịch chuyển căn bản từ chăn nuôi phân tán, tận dụng quy mô nông hộ sang hình thức tập trung theo mô hình trang trại công nghiệp. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê trong 6 tháng đầu năm 2012, tổng đàn lợn cả nước đạt 26,7 triệu con (tăng 1,5% so với cùng kỳ năm 2011), đàn nái sinh sản đạt khoảng 4,15 triệu con (tăng 8,7%) và sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 1.936,2 nghìn tấn (tăng 4,8%). Định hướng phát triển đến năm 2020 đặt mục tiêu đạt 35 triệu con, trong đó lợn ngoại nuôi trang trại chiếm 37%.
Tuy quy mô đàn tăng trưởng nhanh chóng, năng suất và chất lượng chăn nuôi trong nước nhìn chung vẫn còn thấp so với mặt bằng các quốc gia trong khu vực. Nhu cầu thị trường đối với thịt lợn hướng nạc đòi hỏi việc nhập nội và nhân thuần các giống lợn ngoại cao sản như Landrace, Yorkshire. Để đạt hiệu quả kinh tế cao trước khi mở rộng chăn nuôi đại trà, việc khảo sát và đánh giá khả năng sinh sản của các dòng lợn ngoại nhập trong điều kiện sinh thái cụ thể là yêu cầu kỹ thuật bắt buộc.
Trại lợn Ba Vì thuộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn Lợn giống ngoại Thái Dương (địa phận xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội) nguyên là trại chăn nuôi gia công chuyển nhượng từ Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, chính thức hoạt động từ năm 2011. Ban đầu, cơ sở chỉ nuôi dưỡng lợn thịt thương phẩm xuất bán; đến năm 2012, trang trại tiến hành mở rộng quy mô, chuyển đổi sang phương thức chăn nuôi khép kín và tiếp nhận các đàn lợn nái thuần Landrace, Yorkshire từ trại Đô Lương chuyển ra. Do sự thay đổi về môi trường sinh thái, vi khí hậu và chu trình vận hành, đề tài "Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace nuôi tại Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương" được thực hiện nhằm cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ công tác chọn giống và quản lý đàn.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung chính:
- Đánh giá hiện trạng cơ sở vật chất, hệ thống chuồng trại, quy mô đàn và công tác vệ sinh phòng bệnh tại trại lợn Ba Vì.
- Đánh giá chi tiết năng suất sinh sản của lợn nái thuần chủng Landrace và Yorkshire từ lứa đẻ thứ 1 đến lứa đẻ thứ 6, so sánh đặc tính sinh sản giữa hai giống.
- Xác định mức tiêu tốn thức ăn trên một kilôgam lợn con cai sữa.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng: Các cá thể lợn nái thuần thuộc hai giống Landrace và Yorkshire được nuôi dưỡng, theo dõi chu kỳ sinh sản tại trại.
- Không gian: Trại lợn Ba Vì thuộc Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương, xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01 tháng 02 năm 2013 đến ngày 31 tháng 07 năm 2013.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các quy luật sinh lý sinh sản cơ bản của động vật nông nghiệp và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia:
- Cơ chế sinh lý sinh dục ở lợn cái: Chu kỳ tính ở lợn kéo dài từ 18 đến 23 ngày (trung bình 21 ngày), thời gian biểu hiện động dục dao động từ 3 đến 7 ngày (trung bình 5 ngày) qua 4 giai đoạn: trước động dục (1-2 ngày), động dục (2-3 ngày, gồm các pha hưng phấn, chịu đực, hết chịu đực; rụng trứng xảy ra sau 24-30 giờ kể từ khi bắt đầu động dục), sau động dục (khoảng 2 ngày) và giai đoạn yên tĩnh (12-14 ngày).
- Cơ chế điều hòa thần kinh - thể dịch: Hoạt động sinh dục chịu sự điều khiển theo trục vùng dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng thông qua cơ chế điều hòa ngược (feedback). Vùng dưới đồi tiết GnRH kích thích thùy trước tuyến yên tiết FSH (kích thích noãn bao phát triển) và LH (thúc đẩy rụng trứng, tạo thể vàng). Nồng độ Oestrogen trong máu tăng từ mức bình thường 64 µg% lên đỉnh điểm 112 µg% gây hưng phấn sinh dục. Quá trình phát triển phôi thai trong cơ thể mẹ gồm 3 giai đoạn: thời kỳ phôi (ngày 1 đến 22), thời kỳ tiền thai (ngày 23 đến 39) và thời kỳ bào thai (từ ngày 40 đến khi sinh).
- Tiêu chuẩn đánh giá: Đề tài áp dụng các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 1280-81, TCVN 3879-54 và TCVN 3900-84 (ban hành ngày 01/01/1995) về các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật trong chăn nuôi lợn nái.
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thống kê:
- Phương pháp theo dõi và thu thập dữ liệu: Dữ liệu được trích xuất trực tiếp từ sổ theo dõi phối giống, thẻ nái cá thể và sổ ghi chép quản trị đàn của doanh nghiệp, kết hợp theo dõi thực địa tại chuồng đẻ và chuồng mang thai. Khối lượng sơ sinh toàn ổ được cân đo trực tiếp trước khi lợn con bú sữa đầu; khối lượng cai sữa được cân vào ngày cai sữa cố định.
- Quy mô mẫu nghiên cứu: Đánh giá chỉ tiêu sinh lý sinh dục trên 50 nái Yorkshire và 51 nái Landrace; đánh giá năng suất sinh sản trung bình trên 208 nái Yorkshire và 233 nái Landrace; phân tích năng suất lứa đẻ 1 (46 nái Yorkshire, 49 nái Landrace) và lứa đẻ 2 (40 nái Yorkshire, 46 nái Landrace).
- Phương pháp tính toán các chỉ tiêu:
- Tỷ lệ sơ sinh sống đến 24 giờ (%) = (Số con sống đến 24 giờ / Số con đẻ ra) × 100.
- Số con để nuôi/ổ = Số con sống đến 24 giờ - (Số con loại thải ± Số con nuôi gửi).
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = (Số con cai sữa/ổ / Số con để nuôi/ổ) × 100.
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày) = Thời gian mang thai + Thời gian nuôi con + Thời gian chờ phối.
- Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa (kg/kg) = (P1 + P2 + P3 + P4) / Tổng khối lượng cai sữa toàn ổ; trong đó P1 là lượng thức ăn của nái chờ phối, P2 là thức ăn của nái giai đoạn mang thai, P3 là thức ăn của nái nuôi con, P4 là thức ăn tập ăn của lợn con.
- Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thu thập được tổng hợp trên phần mềm Microsoft Excel và xử lý thống kê sinh học trên phần mềm Minitab 16. Các giá trị được trình bày dưới dạng số trung bình kèm sai số chuẩn ($X \pm SE$), so sánh sự sai khác bằng phương pháp phân tích phương sai với mức ý nghĩa thống kê $P < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Phần I: Mở đầu
Tác giả nêu rõ tầm quan trọng của ngành chăn nuôi lợn trong cơ cấu thực phẩm nội địa, phân tích định hướng phát triển trang trại quy mô lớn đến các mốc thời gian 2015 và 2020. Chương này làm rõ lý do cần khảo sát các tính năng sinh sản của hai giống thuần Landrace và Yorkshire khi đưa vào nuôi dưỡng tại Trại Ba Vì sau quá trình tiếp nhận chuyển giao cơ sở từ Công ty C.P. sang Công ty Thái Dương.
Phần II: Tổng quan tài liệu
Tổng hợp có hệ thống nguồn gốc lịch sử và đặc điểm ngoại hình của hai giống lợn: Yorkshire bắt nguồn từ Anh (công nhận giống mới năm 1851, du nhập vào Việt Nam qua Liên Xô năm 1964 và Cuba năm 1978; tai đứng, lông trắng, ngực sâu) và Landrace có nguồn gốc từ Đan Mạch (lai tạo giữa lợn Yout land Đức và Yorkshire Anh; tai to cụp che mặt, thân dài, mông xuôi, hướng nạc rõ nét, sở hữu từ 14 vú trở lên).
Chương này trình bày chi tiết sinh lý chu kỳ tính, các nhân tố ảnh hưởng tới năng suất sinh sản (yếu tố di truyền giống, mức dinh dưỡng protein, năng lượng, vitamin A, D, E, khoáng vi lượng, mùa vụ thời tiết và nhiệt độ chuồng nuôi tối ưu 18-20°C). Tác giả lược khảo kết quả nghiên cứu quốc tế (Burger, White, Stoikov, Ducos, Dalin) và các công trình trong nước (Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh, Phan Xuân Hảo, Phùng Thị Vân, Đoàn Xuân Trúc) về các chỉ tiêu sinh học sinh sản của lợn ngoại nuôi tại miền Bắc Việt Nam.
Phần III: Đối tượng – Nội dung phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là đàn nái thuần Landrace và Yorkshire được chăm sóc theo quy chuẩn của Công ty Thái Dương tại xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì. Xác lập chi tiết các công thức toán học đo lường từng chỉ tiêu sinh lý (tuổi động dục, tuổi phối giống, tuổi đẻ, thời gian mang thai, khoảng cách lứa đẻ), chỉ tiêu số lượng và khối lượng đàn con (sơ sinh và cai sữa), quy trình cân đo trực tiếp và kỹ thuật phân tích số liệu trên phần mềm Minitab 16.
Phần IV: Kết quả và thảo luận
1. Hiện trạng trại lợn Ba Vì của Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương
- Cơ sở vật chất: Tổng diện tích 17.000 $m^2$, gồm 12 dãy chuồng kín, hệ thống giàn làm mát, quạt hút gió và lò đốt gas sưởi ấm mùa đông cho lợn con. Nguồn nước vận hành được bơm từ suối, qua giàn lọc vật chất thô, xử lý khử trùng bằng Clo trước khi cấp vào máng uống tự động. Quy hoạch mặt bằng gồm các phân khu chức năng: dãy C1 nuôi lợn sau cai sữa; C2, C3 nuôi lợn nái chửa; C4, C5 nuôi lợn thịt xuất bán; C6 nuôi nái chờ phối và đực giống; C7 nuôi lợn choai; F1 đến F5 là các dãy chuồng lợn đẻ và nuôi con; cùng các công trình phụ trợ (khu nhà ở, máy phát điện, trạm xử lý nước, phòng kiểm tra tinh, phòng cơ khí, kho thức ăn, hố sát trùng, hầm biogas và ao sinh học).
- Cơ cấu quy mô đàn: Số lượng vật nuôi tăng trưởng liên tục qua các giai đoạn:
| Phân loại đàn (con) |
Năm 2011 |
Năm 2012 |
Tháng 1 - 7/2013 |
| Nái sinh sản |
- |
400 |
600 |
| Đực đang khai thác |
- |
8 |
12 |
| Lợn con theo mẹ |
- |
800 |
1.000 |
| Lợn con cai sữa |
- |
2.000 |
2.500 |
| Lợn thịt chờ xuất |
4.000 |
1.500 |
2.000 |
| Tổng đàn |
4.000 |
4.708 |
6.112 |
- Chế độ dinh dưỡng: Áp dụng cám công nghiệp chuyên dụng do Công ty Thái Dương sản xuất:
- Nái đẻ và nuôi con (Cám TD25): Ngày đẻ cho nhịn hoặc ăn 0,5 kg; sau đẻ ngày 1 ăn 1 kg/ngày, ngày 2 ăn 2 kg/ngày, ngày 3 ăn 3 kg/ngày, ngày 4 ăn 4 kg/ngày; từ ngày thứ 5 đến khi cai sữa cho ăn 5-7 kg/ngày (tăng lên 7 kg ở ngày thứ 7, chia 3-5 bữa/ngày); ngày cai sữa nhịn hoặc ăn 0,5 kg.
- Nái chửa và chờ phối (Cám TD21): Nái chờ phối ăn 1,8-2,5 kg/ngày. Nái mang thai từ ngày phối đến 22 ngày ăn 2,0 kg/ngày; từ 23 đến 42 ngày ăn 2,4 kg/ngày; từ 43 đến 84 ngày ăn 2,5 kg/ngày; từ 85 đến 113 ngày ăn 3,5 kg/ngày.
- Lợn đực giống (Cám TD24): Lợn dưới 250 kg ăn 2-2,4 kg/ngày; từ 251 đến 300 kg ăn 3,0 kg/ngày; trên 300 kg ăn 3,5-4,0 kg/ngày. Bổ sung trứng gia cầm 1 quả/con/ngày (khi không khai thác) hoặc 2 quả/con/ngày (khi khai thác tinh).
- Lợn con theo mẹ (Cám HD01): Tập ăn từ 5 ngày tuổi bằng cách vê viên trét miệng 2-4 lần/ngày; đến 10 ngày tuổi rải vào máng tập ăn tự do. Định mức kiểm tra lúc 15 và 20 ngày tuổi đạt 50-80 g/con/ngày.
- Lợn sau cai sữa: Sử dụng cám TD19 (chuyển đổi dần từ cám HD01 từ ngày 26 đến 30; ăn tự do từ ngày 31 đến 79). Giai đoạn choai dùng TD17 (từ ngày 101 đến 150) và giai đoạn vỗ béo xuất chuồng dùng TD15 (từ ngày 131 đến xuất bán).
- Công tác vệ sinh thú y: Phun sát trùng lối đi và chu vi trại bằng Formol 5% 1 lần/tuần (khi có nguy cơ dịch phun 2 ngày/lần); hố sát trùng dùng NaOH 10%; khu nhà ở và chuồng nuôi phun Virkon 1-2 lần/tuần; rắc vôi bột lối đi 1 lần/tuần; phương tiện cơ giới phun FAM-30; ô chuồng để trống tối thiểu 4 ngày sau khi tẩy rửa vòi cao áp và quét nước vôi. Dụng cụ khai thác và pha chế tinh được sấy khử trùng ở 100°C trong 30 phút. Nhiệt độ duy trì cho lợn chờ đẻ là 25°C, nái nuôi con là 28°C; ô úm lợn con lắp đặt tấm sưởi và bóng hồng ngoại.
- Quy trình tiêm phòng vaccine và dược phẩm:
- Lợn con theo mẹ: 3 ngày tuổi tiêm Dextran-Fe và cho uống Bay-cox (ngừa thiếu máu, cầu trùng); 7 ngày tiêm Respisure1one (suyễn lợn); 10 ngày tiêm phó thương hàn; 14 ngày tiêm Aftofor typ O (lở mồm long móng); 17 ngày tiêm Biomectin 1% (kí sinh trùng); 21 ngày tiêm Swivacc (dịch tả lợn).
- Lợn con sau cai sữa: 32 ngày tiêm tai xanh; 42 ngày tiêm Swivacc mũi 2; 45 ngày tiêm Lepto; 55 ngày tiêm Aftofor typ O; 70 ngày tẩy giun qua thức ăn.
- Lợn hậu bị: 160 ngày tiêm tai xanh; 167 ngày tiêm Aftofor typ O; 174 ngày tiêm Swivacc; 181 ngày tiêm tai xanh mũi 2; 190 ngày tiêm FarowsureB (ngừa khô thai, đóng dấu, lợn nghệ).
- Lợn nái chửa: Nái đẻ lứa 1 tiêm PCV2 lúc 49 ngày, AD (giả dại) lúc 56 ngày, Rokovax (Rotavirus và E.coli) lúc 63 ngày; tất cả các lứa tiêm tụ huyết trùng lúc 70 ngày; nái đẻ lứa 2 trở đi tiêm PCV2 mũi 2 lúc 77 ngày, AD mũi 2 lúc 84 ngày, Rokovac lúc 91 ngày và Aftofor typ O lúc 100 ngày.
2. Kết quả nghiên cứu năng suất sinh sản của lợn nái Landrace và Yorkshire
- Chỉ tiêu sinh lý sinh dục: Kết quả theo dõi trên 50 nái Yorkshire và 51 nái Landrace được tổng hợp tại bảng:
| Chỉ tiêu sinh lý (ngày) |
Yorkshire (n=50) ($X \pm SE$) |
Landrace (n=51) ($X \pm SE$) |
Mức sai khác ($P$) |
| Tuổi động dục lần đầu |
231,90 ± 2,89 |
230,60 ± 2,09 |
$P > 0,05$ |
| Tuổi phối giống lần đầu |
252,92 ± 2,88 |
251,58 ± 2,08 |
$P > 0,05$ |
| Tuổi đẻ lứa đầu |
366,80 ± 2,86 |
365,02 ± 2,09 |
$P > 0,05$ |
| Thời gian mang thai |
113,88 ± 0,12 |
113,44 ± 0,10 |
$P < 0,05$ |
| Thời gian chờ phối |
4,64 ± 0,13 |
4,96 ± 0,13 |
$P > 0,05$ |
| Khoảng cách lứa đẻ |
143,74 ± 0,44 |
141,60 ± 0,53 |
$P < 0,05$ |
Tuổi phối giống lần đầu của lợn nái đạt xấp xỉ 251-252 ngày tuổi, tương ứng với chu kỳ động dục thứ 2 hoặc thứ 3 sau khi thành thục thể vóc. Thời gian mang thai của Landrace (113,44 ngày) ngắn hơn Yorkshire (113,88 ngày) có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$). Khoảng cách lứa đẻ ở giống Landrace ngắn hơn giống Yorkshire 2,14 ngày ($P < 0,05$).
- Năng suất sinh sản trung bình: Khảo sát trên 208 nái Yorkshire và 233 nái Landrace:
| Chỉ tiêu theo dõi |
Đơn vị |
Yorkshire (n=208) ($X \pm SE$) |
Landrace (n=233) ($X \pm SE$) |
Mức sai khác ($P$) |
| Số con đẻ ra/ổ |
con |
10,65 ± 0,17 |
10,64 ± 0,15 |
$P > 0,05$ |
| Số con sơ sinh sống đến 24h/ổ |
con |
9,68 ± 0,16 |
9,68 ± 0,14 |
$P > 0,05$ |
| Số con để nuôi/ổ |
con |
9,63 ± 0,16 |
9,50 ± 0,14 |
$P > 0,05$ |
| Số con cai sữa/ổ |
con |
8,53 ± 0,14 |
8,53 ± 0,14 |
$P > 0,05$ |
| Khối lượng sơ sinh/ổ |
kg |
13,18 ± 0,27 |
13,46 ± 0,23 |
$P > 0,05$ |
| Khối lượng sơ sinh/con |
kg |
1,38 ± 0,02 |
1,43 ± 0,01 |
$P < 0,05$ |
| Khối lượng cai sữa/ổ |
kg |
56,11 ± 1,32 |
53,77 ± 1,24 |
$P > 0,05$ |
| Khối lượng cai sữa/con |
kg |
6,51 ± 0,08 |
6,36 ± 0,09 |
$P > 0,05$ |
| Tỷ lệ sống đến 24h |
% |
91,56 ± 0,78 |
91,69 ± 0,67 |
$P > 0,05$ |
| Tỷ lệ sống đến cai sữa |
% |
89,26 ± 0,77 |
90,27 ± 0,98 |
$P > 0,05$ |
Khối lượng sơ sinh trung bình trên một con của giống Landrace đạt 1,43 kg, cao hơn giống Yorkshire đạt 1,38 kg có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$). Các chỉ tiêu về số con đẻ ra/ổ (10,64 - 10,65 con), số con sống 24h (9,68 con) và số con cai sữa/ổ (8,53 con) tương đương nhau giữa hai giống.
Phần V: Kết luận và đề nghị
Được tổng hợp từ các phát hiện thực tế tại trại Ba Vì, khẳng định khả năng thích nghi tốt của hai giống nái ngoại và kiến nghị duy trì nghiêm ngặt quy trình vệ sinh phòng dịch, quản lý khẩu phần thức ăn nhằm duy trì năng suất qua các chu kỳ khai thác tiếp theo.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại các kết quả định lượng cụ thể:
- Xác lập hệ thống chỉ số sinh lý sinh dục chuẩn xác cho đàn nái hậu bị ngoại nhập tại vùng Ba Vì: Tuổi phối giống lần đầu đạt 251,58 ngày (Landrace) và 252,92 ngày (Yorkshire); tuổi đẻ lứa đầu đạt 365,02 ngày (Landrace) và 366,80 ngày (Yorkshire); thời gian mang thai duy trì ổn định ở mức 113,44 - 113,88 ngày.
- Về năng suất sinh sản trung bình toàn đàn: Hai giống lợn thể hiện tiềm năng tương đương về số con đẻ ra/ổ (10,64 - 10,65 con), số con sơ sinh sống đến 24 giờ (9,68 con) và số con cai sữa/ổ (8,53 con). Tỷ lệ sống đến khi cai sữa duy trì ở mức cao, đạt 90,27% ở Landrace và 89,26% ở Yorkshire.
- Về sự sai khác di truyền giữa hai giống: Giống Landrace vượt trội về khối lượng sơ sinh trung bình cá thể (1,43 kg/con so với 1,38 kg/con của Yorkshire, $P < 0,05$) và có khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn (141,60 ngày so với 143,74 ngày của Yorkshire, $P < 0,05$). Ngược lại, giống Yorkshire có xu hướng đạt khối lượng cai sữa trung bình cá thể cao hơn ở lứa 2 (6,81 kg/con so với 6,21 kg/con của Landrace, $P < 0,05$).
- Giải pháp và kiến nghị kỹ thuật: Tác giả kiến nghị trang trại cần thực hiện tốt công tác ghép đàn, san sẻ số con giữa các ổ đẻ để đảm bảo sự đồng đều, bù đắp hao hụt cho các nái có số con vượt quá số núm vú hữu dụng; duy trì kiểm soát nhiệt độ nghiêm ngặt cho chuồng đẻ (28°C) và chuồng nái chửa (25°C); áp dụng chuẩn hóa quy trình tập ăn sớm cho lợn con từ 5 ngày tuổi bằng cám viên để sớm hoàn thiện bộ máy tiêu hóa và giảm áp lực hao mòn cơ thể mẹ.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Các chỉ số sinh sản thu được tại Trại Ba Vì (SCSS/ổ đạt 10,64 - 10,65 con; khối lượng sơ sinh toàn ổ đạt 13,18 - 13,46 kg; tỷ lệ sống đạt trên 91%) đều cao hơn kết quả công bố trước đây của Đặng Vũ Bình (1995, 1999) và Đinh Văn Chỉnh (1995, 2001) trên cùng đối tượng lợn ngoại tại các trạm trại miền Bắc. Điều này chứng minh quy trình nuôi dưỡng chuồng kín công nghiệp và kiểm soát dịch bệnh của Công ty Thái Dương đã phát huy tốt tiềm năng di truyền của đàn lợn giống ngoại nhập.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tồn tại một số giới hạn dựa trên điều kiện triển khai thực tế:
- Phạm vi không gian và thời gian: Đề tài chỉ tiến hành theo dõi trong phạm vi một cơ sở chăn nuôi đơn lẻ (Trại lợn Ba Vì), thời gian thực tập và thu thập dữ liệu diễn ra trong 6 tháng (từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2013), chưa bao quát trọn vẹn biến động năng suất qua toàn bộ các mùa khí hậu trong năm (đặc biệt là mùa đông lạnh vùng đồi núi Ba Vì).
- Giới hạn về tập dữ liệu: Do thời gian khảo sát thực địa ngắn và vòng đời khai thác của nái kéo dài, phần phân tích chi tiết từng lứa đẻ trong văn bản tập trung chủ yếu vào lứa đẻ thứ 1 và thứ 2; số liệu của các lứa đẻ từ lứa 3 đến lứa 6 chưa được thể hiện đầy đủ chi tiết trong phần báo cáo thực tế.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi biến động năng suất sinh sản của đàn nái qua toàn bộ chu kỳ khai thác từ lứa đẻ thứ 3 đến lứa thứ 6 và các lứa sau; đồng thời hạch toán chi tiết chi phí thức ăn tiêu tốn cho 1 kg tăng trọng của lợn con cai sữa theo từng mùa vụ để đưa ra khuyến cáo kinh tế - kỹ thuật toàn diện cho cơ sở sản xuất.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận cung cấp các tư liệu thực tế có giá trị sử dụng:
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Chăn nuôi Thú y làm tài liệu tham khảo cho các đồ án tốt nghiệp và đề tài khảo sát năng suất vật nuôi. Các kỹ sư chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật và nhà quản lý trang trại có thể vận dụng các thông số thực tế để xây dựng định mức kỹ thuật cho đàn lợn nái ngoại.
- Hạng mục tham khảo đáng giá: Quy trình kỹ thuật tổ chức chuồng kín công nghiệp (diện tích 17.000 $m^2$); hệ thống định mức thức ăn chi tiết cho từng giai đoạn nái chờ phối, mang thai, nuôi con và lợn con tập ăn; lịch phòng bệnh bằng vaccine và thuốc thú y có tính ứng dụng cao đối với các trang trại nuôi lợn sinh sản tập trung quy mô từ 400 đến 600 nái.
Câu hỏi thường gặp
1. Khối lượng sơ sinh trung bình trên một con của lợn Landrace và Yorkshire tại trại Ba Vì có sự khác biệt như thế nào?
Theo số liệu điều tra trên 233 nái Landrace và 208 nái Yorkshire, khối lượng sơ sinh trung bình cá thể của lợn Landrace đạt $1,43 \pm 0,01$ kg/con, cao hơn lợn Yorkshire đạt $1,38 \pm 0,02$ kg/con. Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê sinh học rõ rệt với $P < 0,05$.
2. Quy trình định mức cho nái nuôi con ăn bằng cám TD25 từ lúc đẻ đến khi cai sữa được thực hiện ra sao?
Vào ngày nái đẻ, cho nái nhịn ăn hoặc chỉ cho ăn 0,5 kg. Sau khi đẻ, định mức được nâng dần theo từng ngày: ngày thứ nhất ăn 1 kg/con/ngày; ngày thứ hai ăn 2 kg/con/ngày; ngày thứ ba ăn 3 kg/con/ngày; ngày thứ tư ăn 4 kg/con/ngày. Từ ngày thứ 5 đến khi cai sữa, mức ăn duy trì từ 5 đến 7 kg/con/ngày (nâng lên mức tối đa 7 kg vào ngày thứ 7 và chia 3 đến 5 bữa ăn/ngày tùy mùa). Vào ngày cai sữa, cho nái nhịn hoặc chỉ ăn 0,5 kg cám.
3. Lịch tiêm phòng thuốc và vaccine cho đàn lợn con theo mẹ tại trại được quy định ở những mốc thời gian nào?
Lợn con theo mẹ được tiêm phòng theo lịch trình nghiêm ngặt: lúc 3 ngày tuổi tiêm Dextran-Fe kết hợp uống Bay-cox để phòng thiếu sắt và bệnh cầu trùng; 7 ngày tuổi tiêm bắp vaccine Respisure1one phòng suyễn (Mycoplasma); 10 ngày tuổi tiêm phòng phó thương hàn; 14 ngày tuổi tiêm vaccine Aftofor typ O phòng lở mồm long móng; 17 ngày tuổi tiêm Biomectin 1% phòng nội ngoại ký sinh trùng; và 21 ngày tuổi tiêm vaccine Swivacc phòng dịch tả lợn.
4. Khoảng cách lứa đẻ giữa hai giống lợn Landrace và Yorkshire có chênh lệch không và đạt giá trị bao nhiêu?
Khoảng cách lứa đẻ trung bình của giống Landrace đạt $141,60 \pm 0,53$ ngày, ngắn hơn có ý nghĩa thống kê ($P < 0,05$) so với giống Yorkshire đạt $143,74 \pm 0,44$ ngày. Sự rút ngắn khoảng cách lứa đẻ ở giống Landrace giúp gia tăng hệ số lứa đẻ trên nái trong một năm cho trang trại.
5. Cơ cấu đàn lợn tại Trại Ba Vì đã phát triển và thay đổi quy mô như thế nào từ năm 2011 đến 7 tháng đầu năm 2013?
Năm 2011, trại mới đi vào hoạt động chỉ với quy mô 4.000 con lợn thịt chờ xuất bán, không có nái và đực giống. Đến năm 2012, cơ cấu đàn chuyển sang mô hình khép kín với tổng đàn 4.708 con (gồm 400 nái sinh sản, 8 đực giống, 800 con theo mẹ, 2.000 con cai sữa và 1.500 lợn thịt). Đến 7 tháng đầu năm 2013, tổng đàn tiếp tục mở rộng lên 6.112 con (gồm 600 nái sinh sản, 12 đực giống, 1.000 con theo mẹ, 2.500 con cai sữa và 2.000 lợn thịt chờ xuất).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Phương đã khảo sát toàn diện hiện trạng kỹ thuật chăn nuôi và đánh giá chi tiết năng suất sinh sản của hai giống lợn ngoại thuần Landrace và Yorkshire tại Trại Ba Vì thuộc Công ty TNHH lợn giống ngoại Thái Dương. Kết quả thực nghiệm khẳng định cả hai giống lợn đều có khả năng thích nghi cao với điều kiện nuôi dưỡng chuồng kín công nghiệp, đạt các chỉ tiêu sinh lý bình thường và năng suất sinh sản tốt với số con sơ sinh sống đến 24 giờ đạt 9,68 con/ổ, số con cai sữa đạt 8,53 con/ổ và tỷ lệ sống đến cai sữa xấp xỉ 90%. Giống Landrace thể hiện ưu thế về khối lượng sơ sinh cá thể (1,43 kg) và khoảng cách lứa đẻ ngắn hơn (141,60 ngày), trong khi giống Yorkshire đạt khối lượng cai sữa cá thể cao ở lứa đẻ thứ 2 (6,81 kg). Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực địa tin cậy, đóng góp cơ sở thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện quy trình chọn lọc, phân bổ khẩu phần dinh dưỡng và quản lý thú y đối với các cơ sở chăn nuôi lợn giống ngoại tập trung quy mô trang trại công nghiệp.