Khóa luận tốt nghiệp nông học đánh giá khả năng kháng glufosinate ammonium của các quần thể cỏ mần trầu eleusine indica l gaertn thu thập tại các vùng sinh thái khác nhau ở việt nam

Luận văn tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nông học đánh giá khả năng kháng glufosinate ammonium của các quần thể cỏ mần trầu, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề xuất biện

Trường đại học

Trường Đại Học Nông Lâm

Chuyên ngành

Nông Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2022

55
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Định nghĩa về cỏ dại và khả năng kháng thuốc của cỏ dại

1.2. Cơ chế kháng thuốc diệt cỏ

1.2.1. Tính kháng tại vị trí mục tiêu

1.2.2. Tính kháng tại vị trí không phải mục tiêu

1.3. Phương pháp xác định tính kháng thuốc diệt cỏ

2. CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Nguồn hạt cỏ và vật liệu thí nghiệm

2.2. Thí nghiệm 1: Đánh giá hiệu lực của hoạt chất Glufosinate ammonium

2.2.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.2.2. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

2.3. Thí nghiệm 2: Đánh giá khả năng kháng của các quần thể cỏ man trầu

2.3.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm

2.3.2. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Tỷ lệ nảy mầm của hạt cỏ thu thập tại các điều kiện sinh thái khác nhau

3.2. Đánh giá hiệu lực phòng trừ cỏ man trầu của hoạt chất GA

3.2.1. Kết quả kiểm tra quần thể cỏ trước khi tiến hành phun thuốc

3.2.2. Ảnh hưởng của hoạt chất GA đến chỉ số diệp lục tố của cỏ man trầu

3.2.3. Tỷ lệ chết của cỏ man trầu thời điểm 14 NSP

3.2.4. Ảnh hưởng của GA đến khối lượng cỏ tươi, khô và hàm lượng nước trong cỏ man trầu

3.2.5. Hiệu lực phòng trừ cỏ man trầu của hoạt chất GA

3.3. Đánh giá khả năng kháng hoạt chất GA của 9 quần thể cỏ man trầu

3.3.1. Kết quả kiểm tra trước khi tiến hành phun thuốc

3.3.2. Ảnh hưởng của GA đến khối lượng tươi, khô và hàm lượng nước của 9 quần thể cỏ man trầu

3.3.3. Tỷ lệ chết và mức độ kháng thuốc của các quần thể cỏ man trầu thu thập tại 9 tỉnh

3.3.4. Đánh giá mức độ kháng của các quần thể cỏ vào thời điểm 14 NSP

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DANH SÁCH CÁC BẢNG

DANH SÁCH CÁC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Khả Năng Kháng Glufosinate Ammonium Của Cỏ Mần Trầu

Khả năng kháng thuốc diệt cỏ là một vấn đề nghiêm trọng trong nông nghiệp hiện đại. Cỏ mần trầu (Eleusine indica) là một trong những loài cỏ dại phổ biến tại Việt Nam, có khả năng sinh trưởng mạnh mẽ và phát triển nhanh chóng. Việc sử dụng thuốc diệt cỏ như Glufosinate ammonium đã trở thành một giải pháp phổ biến để kiểm soát cỏ dại. Tuy nhiên, sự phát triển của khả năng kháng thuốc trong các quần thể cỏ mần trầu đang trở thành một thách thức lớn cho nông dân. Nghiên cứu này nhằm đánh giá khả năng kháng Glufosinate ammonium của cỏ mần trầu tại các vùng sinh thái khác nhau ở Việt Nam.

1.1. Định Nghĩa Cỏ Dại Và Khả Năng Kháng Thuốc

Cỏ dại được định nghĩa là những loài thực vật mọc không theo ý muốn của con người, gây ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất cây trồng. Khả năng kháng thuốc của cỏ dại là khả năng di truyền cho phép chúng sống sót và phát triển ngay cả khi tiếp xúc với thuốc diệt cỏ. Điều này dẫn đến việc cần thiết phải nghiên cứu và hiểu rõ hơn về cơ chế kháng thuốc của cỏ mần trầu.

1.2. Tình Hình Kháng Thuốc Của Cỏ Mần Trầu Trên Thế Giới

Trên toàn thế giới, đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng cỏ mần trầu có khả năng kháng với nhiều loại thuốc diệt cỏ khác nhau, bao gồm Glufosinate ammonium. Theo báo cáo của Heap (2022), có 37 trường hợp cỏ mần trầu kháng thuốc đã được ghi nhận. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và đánh giá tình hình kháng thuốc tại Việt Nam.

II. Vấn Đề Kháng Glufosinate Ammonium Trong Nông Nghiệp Việt Nam

Việc sử dụng thuốc diệt cỏ Glufosinate ammonium đã trở thành một phần không thể thiếu trong sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của khả năng kháng thuốc trong cỏ mần trầu đang gây ra nhiều khó khăn cho nông dân. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc lạm dụng thuốc diệt cỏ có thể dẫn đến sự phát triển của các quần thể cỏ kháng thuốc, làm giảm hiệu quả kiểm soát cỏ dại.

2.1. Nguyên Nhân Dẫn Đến Kháng Thuốc

Sự phát triển của khả năng kháng thuốc trong cỏ mần trầu chủ yếu do việc sử dụng lặp đi lặp lại các loại thuốc diệt cỏ tương tự. Điều này dẫn đến việc chọn lọc tự nhiên cho các cá thể có khả năng kháng thuốc, làm gia tăng tỷ lệ cỏ kháng trong quần thể.

2.2. Hệ Lụy Của Việc Kháng Thuốc Đối Với Nông Dân

Kháng thuốc không chỉ làm giảm hiệu quả của các biện pháp kiểm soát cỏ dại mà còn tăng chi phí sản xuất cho nông dân. Khi cỏ mần trầu kháng thuốc, nông dân phải sử dụng liều lượng thuốc cao hơn hoặc chuyển sang các loại thuốc khác, dẫn đến chi phí gia tăng và ảnh hưởng đến năng suất cây trồng.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Khả Năng Kháng Glufosinate Ammonium

Nghiên cứu này được thực hiện thông qua hai thí nghiệm chính nhằm đánh giá khả năng kháng Glufosinate ammonium của cỏ mần trầu. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên, với nhiều nghiệm thức khác nhau để xác định hiệu lực của thuốc và mức độ kháng thuốc của các quần thể cỏ.

3.1. Thiết Kế Thí Nghiệm Đánh Giá Hiệu Lực Thuốc

Thí nghiệm đầu tiên tập trung vào việc đánh giá hiệu lực phòng trừ cỏ mần trầu của Glufosinate ammonium. Các nghiệm thức được thiết lập với nhiều liều lượng khác nhau để xác định liều lượng tối ưu cho việc kiểm soát cỏ dại.

3.2. Đánh Giá Tính Kháng Của Các Quần Thể Cỏ

Thí nghiệm thứ hai nhằm đánh giá tính kháng của các quần thể cỏ mần trầu thu thập từ các vùng sinh thái khác nhau. Kết quả sẽ giúp xác định mức độ kháng thuốc của từng quần thể và đưa ra các biện pháp quản lý phù hợp.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Khả Năng Kháng Của Cỏ Mần Trầu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số quần thể cỏ mần trầu thu thập tại các vùng sinh thái khác nhau có dấu hiệu kháng Glufosinate ammonium. Cụ thể, các quần thể từ Dak Lắk, Hậu Giang và Tây Ninh thể hiện khả năng kháng cao, trong khi các quần thể từ Bình Phước và Đồng Nai có mức độ kháng thấp hơn.

4.1. Hiệu Lực Của Glufosinate Ammonium Đối Với Cỏ Mần Trầu

Nghiên cứu cho thấy rằng Glufosinate ammonium ở nồng độ 900 g a.i/ha đạt hiệu lực 79,9% trong việc kiểm soát cỏ mần trầu. Tuy nhiên, hiệu lực này giảm đáng kể ở các quần thể kháng thuốc.

4.2. Mức Độ Kháng Của Các Quần Thể Cỏ

Kết quả đánh giá cho thấy rằng các quần thể cỏ mần trầu từ Long An và Bình Thuận có mức độ kháng cao nhất, trong khi các quần thể từ các tỉnh khác có mức độ kháng thấp hơn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi và quản lý chặt chẽ việc sử dụng thuốc diệt cỏ.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Giải Pháp Quản Lý Kháng Thuốc

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng khả năng kháng Glufosinate ammonium của cỏ mần trầu là một vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết. Để quản lý hiệu quả tình trạng kháng thuốc, cần áp dụng các biện pháp quản lý tích hợp, bao gồm luân canh cây trồng, sử dụng thuốc diệt cỏ có cơ chế tác động khác nhau và tăng cường nghiên cứu về cơ chế kháng thuốc.

5.1. Đề Xuất Biện Pháp Quản Lý Kháng Thuốc

Cần áp dụng các biện pháp quản lý tích hợp để giảm thiểu tình trạng kháng thuốc. Việc luân canh cây trồng và sử dụng thuốc diệt cỏ có cơ chế tác động khác nhau sẽ giúp giảm áp lực chọn lọc cho các quần thể cỏ kháng thuốc.

5.2. Tương Lai Của Nghiên Cứu Về Kháng Thuốc

Nghiên cứu về khả năng kháng thuốc của cỏ mần trầu cần được tiếp tục để hiểu rõ hơn về cơ chế kháng và phát triển các biện pháp quản lý hiệu quả. Việc theo dõi tình hình kháng thuốc sẽ giúp nông dân có những quyết định đúng đắn trong việc sử dụng thuốc diệt cỏ.

09/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1.1 Dinh nghĩa về có dai và khả năng kháng thuốc của cỏ dại 1.1 Định nghĩa về có dại Cỏ dại được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, mỗi nhà khoa học có một định nghĩa riêng biệt. Theo Hà Thị Hiến (2003) cỏ dai là loài thực vật mọc tự nhiên, có anh hưởng xau đến quá trình sinh trưởng, năng suất va phâm chat của cây trồng, gây tốn kém chi phí sản xuất. Cỏ dại còn là loài thực vật có nhiều khả năng thích ứng với điều kiện ngoại cảnh, có tính chống chịu cao với điều kiện khắc nghiệt của khí hậu và thổ nhưỡng. Theo Nguyễn Hữu Trúc (201 1) cỏ đại là những cây mọc không theo ý muốn trên diện tích canh tác mà con người tác động lên bên cạnh những cây trồng nông nghiệp.

Theo Đỗ Thị Kiều An (2010) định nghĩa cỏ dại là những loài thực vật bản địa hay ngoại lai sinh trưởng, phát triển ngoài ý muốn của con người. Sự hiện diện của cỏ dai gây khó chịu, can trở các hoạt động và gay bat loi đến lợi ich của con người. Tóm lại, cỏ dại là những loài thực vật mọc cạnh những cây trồng mang lại kinh tế cho con người, nhằm cạnh tranh dinh dưỡng và môi trường sống, làm giảm năng suất và chất lượng cây trồng.2 Tính kháng thuốc của cỏ dại Kiểm soát cỏ đại là một việc quan trọng đối với bất kỳ hệ thống sản xuất cây trồng ở các quốc gia trên thế giới. Có nhiều phương pháp đề quản lý cỏ dại bao gồm làm cỏ cơ học làm bằng tay, dụng cụ, máy hoặc máy phát laser để đốt cỏ.

Sử dụng hóa chất là thuốc diét cỏ, sử dụng mô hình cạnh tranh cây trồng (Allelopathy) và kiểm soát sinh học như côn trùng, ký sinh, nâm, chăn thả gia súc hoặc động vật ăn cỏ khác. Đôi với sản xuất cây trồng ở quy mô lớn, phương pháp hóa học vẫn là giải pháp hiệu quả nhất dé quản lý cỏ dại (Harker va O’ donovan, 2013). Sau khi thuốc diệt cỏ được giới thiệu trên thị trường, sự phát triển tính kháng thuốc của cỏ dại đã được Blackman (1950) dự đoán. Trường hợp đầu tiên về cỏ đại kháng thuốc Atrazine và Simazine được tìm thấy vào năm 1968 và lần đầu tiên được báo cáo ở Hoa Kỳ.

WSSA (1998) cũng phân biệt kháng thuốc diệt cỏ và khả năng chống chịu thuốc diệt cỏ: kháng thuốc diệt cỏ là khả năng di truyền của một cây dé sinh tồn và hồi phục sau khi tiếp xúc với một liều lượng thuốc diệt cỏ thường gây chết cho các loài hoang dã. Đối với cây trồng, sự kháng thuốc có thé xảy ra một cách tự nhiên hoặc được gây ra bởi kỹ thuật di truyền, lựa chọn các biến thé được tạo ra từ nuôi cay mô hoặc gây đột biến. Một số yếu tố góp phần vào sự tiến hoá của tinh kháng thuốc diệt cỏ ở bat kỳ loài cỏ đại nào, bao gồm tần số alen kháng trong quân thẻ, số lượng và phương thức sử dụng thuốc diệt cỏ, hiệu quả của liều lượng sử dụng, hạt giống trong đất và các yếu tố sinh học khác.2 Cơ chế kháng thuốc diệt cỏ 1.1 Tính kháng tại vị trí mục tiêu Cơ chế kháng thuốc ức chế ACCase: Mỗi loại thuốc diét cỏ có một vị trí tác dụng cụ thé, thường là enzym hoặc protein trong tế bào thực vật. Nếu có thay đôi trong các vi trí mục tiêu có thé dẫn đến tình trạng kháng thuốc (kháng tại chỗ mục tiêu) và những thay đổi này sẽ làm giảm sự liên kết của thuốc điệt cỏ với enzyme hoặc protein mục tiêu ( McGillion và Storrie, 2006).

ACCase là enzyme tông hợp axit béo đầu tiên trong plastid tế bào. Có hai dạng ACCase ở thực vật bậc cao là eukaryotic và prokaryotic, trong đó dạng tế bào nhân thực chủ yếu kháng thuốc diệt cỏ và dạng plastidic prokaryotic dễ bị nhiễm thuốc diệt cỏ (Konishi va ctv, 1996). Enzym plastidic được phân chia thành hai dạng đồng phân của dạng dimeric và dạng đa miễn bat thường, dang dimeric được tim thấy trong hầu hết các monocot và tat cả các dicots. Hình thức đa miền chỉ được tìm thấy trong các monocase gramin và nó là mục tiêu chính cho ACCase ức chê thuôc diệt cỏ.

Sự ức chê của ACCase sẽ làm gián đoạn quá trình tổng hop phospholipid cần thiết cho việc xây thành tế bào và phát triển tế bào. Cơ chế kháng thuốc ức chế ALS: Thuốc diệt cỏ nhóm B hoặc chất ức chế ALS là nhóm thuốc diệt cỏ lớn nhất hiện nay. Nhóm thuốc diệt cỏ này được thiết kế dé nhắm mục tiêu Acetolactate synthase (ALS) hoặc Acetohydroxyacid synthase (AHAS), với AHAS là enzyme chính trong tổng hợp nhiều axit amin trong tế bào thực vật, bao gồm isoleucine, leucine, valine và Rossa. Sự gián đoạn tông hợp axit amin sẽ ảnh hưởng đến việc sản xuất protein và làm chết thực vật.

Có nghĩa là sự thay đổi mã hóa axit amin cho ALS là một trong những cơ chế quan trọng nhất của tính kháng thuốc ức chế ALS trong cỏ dại (Heap, 2022). Cơ chế kháng thuốc ức chế quang hợp: Nhiều loại thuốc điệt cỏ có tác dụng ức chế PSII bằng cách can thiệp vào quá trình vận chuyên điện tử trong phản ứng sáng của quang hợp, thông qua cạnh tranh với phân tử Plastoquinone tại vị trí QB. Kháng thuốc diệt cỏ ức chế quang hợp có liên quan đến gen DI mã hóa protein D1 trong DNA của diép luc. Phân tích di truyền cho thay sự thay đổi serine của glycine ở vị trí 264.

Sự thay đổi này làm giảm áp lực giữa phân tử thuốc diệt cỏ và QB vì liên kết phụ thuộc vào liên kết hydro giữa phân tử thuốc diệt cỏ và nhóm hydroxyl cua serine trong QB (Trebst và ctv, 1991).2 Tính khang tai vi trí không phải mục tiêu Hoạt tính tăng cường cytochrom P450 trong chuyển hóa thuốc diệt cỏ Tính kháng tại vị trí không phải mục tiêu là một cơ chế khác của tính kháng thuốc diệt cỏ ở thực vật. Có một số cơ chế kháng vị trí không phải mục tiêu, một trong những cơ chế được nghiên cứu nhiều nhất là hoạt động tăng cường cytochrom P450 trong tế bào thực vật. Cytochrome P450 là một isozyme, enzyme chịu trách nhiệm chuyền hóa một số hóa chất và 20 hợp chất trong tế bào. Tế bào thực vật có thé chuyển hóa sinh học các hợp chất độc hại và thuốc diệt thuốc cỏ qua hai giai đoạn: đầu tiên là quá trình oxy hóa và sau đó liên hợp với glutathione.

Enzym P450 monooxyenase là enzyme chính trong giai đoạn đầu tiên giải độc thuốc diệt cỏ trong tế bào thực vật (Cummins và ctv, 2013). Hoạt tính tăng cường của glutathione S transferase trong chuyển hóa thuốc diệt cỏ Glutathione S - transferase (GST) là một nhóm enzyme được tìm thấy ở thực vật bậc cao, còn thấy ở nắm, côn trùng và động vật có vú. Các enzyme GST có thể xúc tác xenobiotics là chất không tự sản xuất được trong tế bào thực vật bằng cách kết hop glutathione tripeptide với các chất độc hại trong tế bào. Nhóm enzyme này cũng đóng vai trò trong việc chuyền đổi anthocyanin và axit cinnamic.

Trong khi cytochrom P450 là enzyme chính của giai đoạn đầu oxy hóa giải độc thuốc diệt cỏ, GST là enzyme chính của giai đoạn thứ hai của quá trình xúc tác, ngăn chặn thuốc diét cỏ tương tác với các vi trí mục tiêu liên kết của chúng. Sau khi xúc tác, bơm glutathione trong thành tế bào có thể bài tiết các chất được xúc tác ra khỏi tế bào và các chất có thê được phân lập trong stroma hoặc giữa các tế bào (Marrs, 1996).3 Phương pháp xác định tính kháng thuốc diệt có Kế từ báo cáo đầu tiên về cỏ dại kháng thuốc diệt cỏ, việc kiểm soát cỏ dai kháng thuốc diệt cỏ đã trở thành một van dé cap bách trên toàn thé giới. Có nhiều phương pháp kiểm tra sự kháng khác nhau đã được sử dụng như gieo hạt trong chậu, trồng cây trong chậu, nảy mầm đĩa petri, kỹ thuật phân tử (Moss, 1999).1 Hạt giống trồng trong nhà kính từ phương pháp sàng lọc hiện trường Theo Moss (1999), độ tin cậy của kết quả dựa trên các thử nghiệm thực vật chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của mẫu hạt mà chúng được trồng. Hạt kém chất lượng thường sẽ dẫn đến tỷ lệ nảy mầm thấp hoặc tạo ra cây kém với phản ứng thay đổi do thuốc diệt cỏ.

Phương pháp này phù hợp với tat cả các loài cỏ dai cũng như tat cả các loại thuốc diệt cỏ. Nó có thé phát hiện sự kháng thuốc bat kể cơ chế và chi phí ở mức trung bình. Tuy nhiên, vì nó phụ thuộc vào việc thu thập hạt giống, kết quả có thể không được mong đợi trong cùng một vụ mùa và điều kiện đồng ruộng phải đồng nhất. Cần ít nhất 6 liều lượng dé có được ước tính LDso tốt cho xét nghiệm sàng lọc.

Theo Moss (1999), thử nghiệm kháng thuốc được sử dụng rộng rãi nhất liên quan đến việc trồng cây từ hạt được thu thập từ cánh đồng nghỉ ngờ có khả năng kháng thuốc và phun thuốc diệt cỏ được áp dụng ở một liều lượng duy nhất. Các xét nghiệm như vậy thường được tiến hành trong nhà kính hoặc nơi mà môi trường được kiêm soát. Đối với các thí nghiệm phản ứng với liều lượng thuốc, sử dụng nhiều liều lượng thuốc diệt cỏ khác nhau dé thu được đường cong phan ứng liều lượng của cỏ đại đối với thuốc diét cỏ. Đường cong phản ứng giúp ước tính mức độ kháng thuốc và tính toán liều (Moss,1999).2 Phương pháp nảy mầm trong đĩa peptri Các thử nghiệm được thực hiện bằng cách nảy mam hạt giống của quan thể nghi ngờ kháng và nhạy cảm trong các đĩa Petri được làm ướt bằng các dung dịch diệt cỏ với nồng độ khác nhau.

Phương pháp này nhanh trong thời gian thử nghiệm và chi phí thấp. Việc phát hiện diễn ra trong ống nghiệm, do đó các điều kiện ở đồng ruộng là không lý tưởng. Tuy nhiên, nó không thé phát hiện sự kháng thuốc bat ké cơ chế nào, kết quả không thé có được trong cùng một vụ mùa và nó không phù hợp với tất cả các loại cỏ đại và thuốc diệt co (Moss va ctv, 2012).3 Xét nghiém huynh quang diép luc Cùng với các phương pháp thử nghiệm khác, kỹ thuật huỳnh quang diệp lục rất hữu ích trong việc phát hiện tính kháng thuốc diệt cỏ ức chế Photosystem II. Cơ chế của phương pháp này dựa trên việc giảm năng lượng bức xạ trong chất diệp lục sau khi xử lý thuốc diệt cỏ.

Khi sự vận chuyền điện tử ở phía khử của hệ thống quang điện tử II bị ức chế, năng lượng bức xa hấp thụ chất diệp lục được phát lại dưới dang huỳnh quang theo một nghiên cứu của LeBaron và Gressel (1982).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ