Chương 1: Cơ sở lý luận về kết quả đào tạo + Chương 2: Đánh giá thực trạng kết quả đào tạo ngành Công nghệ kỹ thuật hóa học tại trường Cao đẳng Công Thương Tp.Hồ Chí Minh. 5 Luan van + Chương 3: Đề xuất g nâng cao kết quả đào tạo ngành Công nghệ kỹ thuật hóa học tại trường Cao đẳng Công Thương Tp.Hồ Chí Minh. Kết luận và kiến nghị. - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 9.
Kế hoạch thực hiện đề tài nghiên cứu Thời gian 10 11 12 01 02 03 04 05 06 07 08 09 Nhiệm vụ Đăng ký Chuyên đề 2 Xây dựng đề cương Xây dựng cơ sở lý thuyết Bảo vệ Chuyên đề 2 Khảo sát thực trạng Đề xuất giải pháp Kiểm nghiệm, đánh giá giải pháp Viết Luận văn tốt nghiệp Hoàn chỉnh và nộp Luận văn tốt nghiệp 6 Luan van CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐÀO TẠO 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Các nghiên cứu về lý thuyết đo lường trong giáo dục được thực hiện tương đối nhiều, phát triển mạnh nhất ở Mỹ và Anh. Các ấn phẩm liên quan đến Đo lường trong giáo dục được thực hiện bài bản, phát hành rộng rãi và được chỉnh sửa hàng năm, chủ yếu những nghiên cứu này là của các trường đại học.
Đây là nguồn tài liệu tham khảo phong phú cho việc tổng hợp lý thuyết đo lường trong giáo dục. Ngoài ra, hướng nghiên cứu lần theo dấu vết cũng được đẩy mạnh, chủ yếu là để đánh giá và xếp loại các trường đại học theo chuyên ngành đào tạo, đồng thời các trường đại học có căn cứ để điều chỉnh chương trình đào tạo. Các nghiên cứu này có thể do các trường đại học tự thực hiện và cũng có thể do các tổ chức đánh giá chất lượng đào tạo, các tổ chức nghề nghiệp thực hiện. Các nghiên cứu này có một ưu điểm rất lớn là sự áp dụng các lý thuyết đo lường trong các kỹ thuật đo lường cụ thể và có thể cung cấp cho các nhà nghiên cứu về sau những bài học tốt về kỹ thuật, phương pháp đo lường và triển khai xây dựng các tiêu chí đo lường trong các vấn đề cụ thể.
Những nghiên cứu theo hướng này có thể kể đến cuộc điều tra 3,000 cựu sinh viên do Trường đại học Melbourne của Úc thực hiện năm 1999, cuộc điều tra 6,000 cựu sinh viên do Trường đại học Michigan thực hiện năm 2001. Trong hai cuộc điều tra này, các nhà nghiên cứu đã so sánh các tiêu chí về kỹ năng và kiến thức mà cựu sinh viên thấy cần được đào tạo và các tiêu chí kiến thức, kỹ năng các trường đại học đã đào tạo cho sinh viên để đánh giá khoảng cách giữa đào tạo và sử dụng thực tế các sản phẩm đào tạo đại học. Một vài nghiên cứu nữa cũng rất gần với nghiên cứu của luận văn là khảo sát của tạp chí Update (Nhật Bản) thực hiện năm 1996, của Viện Giáo dục Hàn Quốc (KEIDI) thực hiện năm 2003 và của Viện Quản lý Đào tạo nhân lực (NIAM) của Hà 7 Luan van Lan đối với các doanh nghiệp sử dụng lao động. Đồng thời, tham khảo kinh nghiệm khảo sát, đánh giá sự hài lòng của người sử dụng lao động đối với sinh viên tốt nghiệp của một số trường đại học như trường đại học Texas-Pan America, đại học Bắc Dakota (Mỹ), đại học Nam Australia, đại học Assumption (Thái Lan) [27].
Bộ tiêu chí đánh giá do các tổ chức, nội dung của cuộc khảo sát là tìm ra các tiêu chí mà các doanh nghiệp đánh giá cao ở người lao động trong quá trình tuyển dụng. Đây là những tham khảo quan trọng của luận văn trong quá trình thực hiện. Nhiều nước phát triển trên thế giới đang phải chịu sức ép về tỷ lệ lao động có kỹ năng (skill workers) thất nghiệp tăng cao khi nền kinh tế toàn cầu đang gặp khó khăn. Chính vì vậy đã có nhiều hoạt động được khởi xướng và thực thi nhằm rút ngắn thời gian tìm việc cho các cử nhân đại học.
Nhà nước và các trường đại học đầu tư khá nhiều tiền cho các nghiên cứu nhằm tăng khả năng tìm việc và thích ứng nghề nghiệp của sinh viên. Các phương pháp giảng dạy kết hợp lý thuyết với thực hành như: Blended learning, problem based learning cũng đang được quan tâm. Với các phương pháp này, bài tập cho sinh viên là những nhiệm vụ thực tế, được đặt hàng hoặc đưa ra bởi chính các doanh nghiệp bên ngoài. Sinh viên luôn được khuyến khích đi thực tập ngay từ khi mới vào trường được 1- 2 học kỳ, thời gian thực tập có thể kéo dài 1- 2 năm toàn thời gian, xen giữa thời gian học.
Ở Úc, tất cả các trường đại học đều phải xác định được các “kỹ năng đại học” (graduate attributes) hay kỹ năng dùng chung (generic skills) – tương đương như khái niệm kỹ năng mềm ở Việt Nam - mà họ hướng tới trong từng môn học [31] Các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu chính sách McKinsey (Mỹ), hiện trên toàn thế giới đang có khoảng 75 triệu người trẻ tốt nghiệp và không có việc làm, tương đương 12,6% tổng “dân số trẻ” của thế giới. McKinsey chỉ ra thực tế rằng chỉ có 45% số sinh viên (SV) hài lòng với lựa chọn đại học (ĐH) của mình sau khi bước chân vào thị trường lao động. Ngoài ra các nghiên cứu của McKinsey còn cho hay chỉ có 42% các nhà tuyển dụng đồng ý rằng các sinh viên đã được cung cấp đủ kiến thức phù hợp để 8 Luan van chuẩn bị cho các công việc mà họ đặt ra. Cũng theo nghiên cứu của McKinsey, gần một nửa số SV có việc làm sau khi tốt nghiệp đang phải đảm trách những công việc không hề liên quan đến ngành học của mình.
Tức tồn tại một hạn chế – không mới nhưng khó đổi – là chương trình đào tạo không thực tế. Theo các nghiên cứu của công ty nhân lực Aspiring, chẳng hạn như trường hợp Ấn Độ, Mind, đăng tải trên tờ The New India Express ngày 31 – 12 - 2013, hơn một nửa số sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học và cao đẳng của nước này không thể tuyển dụng được vào bất kỳ ngành nghề nào [33] Còn theo Hiệp hội Các công ty phần mềm và dịch vụ Quốc gia của Ấn Độ [33], số sinh viên tốt nghiệp từ các trường đào tạo kỹ sư công nghệ đủ phẩm chất để được tuyển dụng là chưa đến 30%. Các nghiên cứu cũng chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là do các sinh viên thiếu khả năng tiếng Anh, kỹ năng tin học yếu và kiến thức còn nặng tính lý thuyết, sách vở, thiếu tính thực tiễn, ứng dụng. Một nghiên cứu đã so sánh giáo dục tại Mỹ, châu Âu hay gần hơn là Nhật Bản, Singapore [33] là một “thị trường hàng hóa”.
Ở đó nhà trường – nhà cung ứng lớp học – đưa ra các tiêu chuẩn về tuyển chọn ứng viên, hình thức tuyển chọn, thời gian tuyển chọn… để chọn ra người phù hợp nhất với ngành học. Để đảm bảo các trường đại học không chơi chiêu “treo đầu dê, bán thịt chó”, ngành chức năng giáo dục kết hợp các tổ chức nghề nghiệp xã hội sẽ kiểm định thường niên cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, khảo sát ý kiến học viên về quá trình học và rèn luyện tại trường. Đồng thời, tiếp thu ý kiến từ nhà tuyển dụng về chất lượng đào tạo của các trường. Trên cơ sở đó sẽ xếp hạng, chỉ định chỉ tiêu đào tạo phù hợp cho từng ngành, từng trường mỗi năm.
Trụ cột còn lại và không kém phần quan trọng chính là đại diện đơn vị tuyển dụng – sử dụng lao động. Trụ cột này tồn tại dưới dạng các hiệp hội nhà nghề (hay hiệp hội nghề nghiệp). Tại Mỹ và châu Âu, hầu như mỗi nghề đều có một hiệp hội (hiệp hội nhà báo, giáo viên, luật sư, kỹ sư điện tự động, dược sĩ, phi công…), huy động đông đảo các đơn vị tuyển dụng và chuyên gia đầu 9 Luan van ngành. Có ba nhiệm vụ lớn: i) Tham gia quá trình nghiên cứu nhu cầu của thị trường (số lượng, chất lượng nhân lực theo từng giai đoan cụ thể); từ đó ii) Tư vấn cho học viên theo học cho phù hợp và iii) Phản biện các chính sách giáo dục từ cơ quan quản lý giáo dục và chương trình đào tạo từ trường Đại học nhằm cân chỉnh yếu tố “chuyên môn – kỹ năng – tư duy” cho học viên.
Tóm lại, sinh viên tốt nghiệp chính là sản phẩm của đào tạo. Tỉ lệ sinh viên ra trường có việc làm đúng với ngành nghề đã học, chất lượng làm việc của những sinh viên này khi trở thành lao động của một doanh nghiệp, xí nghiệp là phản ảnh rõ nét nhất kết quả đào tạo của nhà trường. Nghiên cứu đánh giá chất lượng sản phẩm đào tạo đại học, cao đẳng thông qua ý kiến của người sử dụng lao động, của sinh viên tốt nghiệp không phải là một hướng tiếp cận mới nhưng lại ít được quan tâm nghiên cứu và thực hiện. Tại Việt Nam Các nghiên cứu trong thời gian gần đây liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài chia làm hai mảng tương đối rõ rệt: 1/ Phân tích, đánh giá, bình luận về kết quả giáo dục đại học và các tiêu chí đo lường, đánh giá chất lượng đại học, trong đó người lao động được đề cập đến như là sản phẩm của giáo dục đại học và 2/ Nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, trong đó đề cập đến tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp, làm việc đúng hay không đúng chuyên ngành, đề cập vào phân tích sự đáp ứng của sản phẩm giáo dục đại học với các yêu cầu của thị trường lao động.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài – đánh giá kết quả đào tạo của sinh viên tốt nghiệp - nằm cả ở hai mảng nghiên cứu trên. Vì thế, các nghiên cứu liên quan đến tương đối nhiều, nhưng không chuyên sâu vào đánh giá kết quả đào tạo, đa phần là đánh giá chất lượng đào tạo, nhưng đó cũng là những nguồn tài liệu rất hữu ích, dựa vào nó, người nghiên cứu có cơ sở làm căn cứ để phân tích sâu vào lãnh vực của đề tài. Đầu tiên phải kể đến các nghiên cứu liên quan đến đánh giá chất lượng giáo dục đại học và các tiêu chí đo lường, đánh giá chất lượng đào tạo đại học.