Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 1. LƯỢC SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Sơ lược về bối cảnh đánh giá chất lượng đào tạo trên thế giới 1. Bối cảnh kiểm định – đánh giá chất lượng giáo dục thế giới.
Trước sự gia tăng không ngừng của quy mô đào tạo Đại học, các nước đã sớm nhận định được vai trò của việc đánh giá và đảm bảo chất lượng. Do đó, vào các năm của thập niên 90 thế kỷ 20 việc tổ chức hệ thống đảm bảo chất lượng được phổ biến đại trà. Tuy nhiên mỗi một quốc gia với nhận thức khác nhau nên có nhiều hình thức vận hành khác nhau [34]. Đối với nước ở Mỹ, đảm bảo chất lượng là một quy trình đánh giá một cơ sở hay một chương trình nhằm xác định xem các tiêu chuẩn vềgiáo dục đại học, học thuật và cơsởhạtầng có được duy trì và tăng cường không (CHEA, 2001).
Theo AUQA (2002), đảm bảo chất lượng ở Australia bao gồm các chính sách, thái độ, hành động và quy trình cần thiết để đảm bảo rằng chất lượng đang được duy trì và nâng cao. Ở Anh quốc, đảm bảo chất lượng là một công cụ qua đó cơ sởgiáo dục đại học khẳng định rằng các điều kiện dành cho sinh viên đã đạt được các tiêu chuẩn do nhà trường hay cơquan có thẩm quyền đềra (CHEA, 2001) [34]. Trong nhiều nước châu Âu trước đây, đảm bảo chất lượng được sửdụng như một hệ thống đánh giá bên ngoài mà không cần phải có một sự công nhận chính thức các kết quả đạt được. Một số nước Đông Nam Á cũng đã thành lập cơ quan kiểm định quốc gia như: BDAC (Brunei), BAN-PT (Indonesia), LAN (Malaysia), FAAP (Philipines), ONESQA (Thái Lan).
Trọng tâm kiểm định của mỗi quốc gia có sự khác nhau. Những nước như Indonesia thực hiện kiểm định ở cấp chương trình trong khi đó Malaysia, Brunei và Thái Lan thực hiện kiểm định ở cấp trường. Hầu hết các quốc gia thuộc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, các cơ quan đảm bảo chất lượng thuộc cơ quan của nhà nước thành lập, nguồn kinh phí do nhà nước cấp. HVTH: ĐOÀN NGỌC THUẬN – GDH11B 8 Luan van GVHD: TS.
NGUYỄN TIẾN DŨNG Bảng 1.1: Đặc điểm chung của các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia ở Đông Á và Thái Bình Dương (Phạm Xuân Thanh, 2005) Ngoài ra, trong khu vực còn có một số trường tham gia phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng nhưmạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN) và mạng lưới Đảm bảo Chất lượng Giáo dục Đại học Quốc tế(INQAAHE), mạng lưới Chất lượng Châu Á - Thái Bình Dương. Bối cảnh kiểm định và đánh giá chất lượng ở Việt Nam. Trong những năm qua, hệ thống kiểm định giáo dục ở nước ta đang từng bước được hình thành. Đầu năm 2002, Bộ GDĐT đã thành lập Phòng Kiểm định chất lượng HVTH: ĐOÀN NGỌC THUẬN – GDH11B 9 Luan van GVHD: TS.
NGUYỄN TIẾN DŨNG đào tạo trong Vụ Đại học (nay là Vụ Giáo dục Đại học). Năm 2003 Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục (Cục KTKĐCLGD) đã được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/07/2003 của chính phủ. Việc thành lập Cục KTKĐCLGD đã đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam. Và đến nay hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam được xây dựng và phát triển căn cứ vào có những cơ sở pháp lý sau: Luật giáo dục năm 2005 đã quy định: “Kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục.
Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” [1]. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 đã bổ sung các quy định về kiểm định chất lượng giáo dục nguyên tác kiểm định giáo dục và các tổ chức kiểm định giáo dục. Nghị quyết số 50/2010/QH12 ngày 19/06/2010 của quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về thành lập trường, đầu tư và bảo đảm chất lượng đào tạo đối với giáo dục đại học yêu cầu: “Đẩy mạnh công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩu nhanh tiến độ và công khai kết quả kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục Đại học, hình thành một số tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục đại học độc lập”. Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02/11/2005 của chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006-2020 đã xem công tác đảm bảo và kiểm định chất lượng là một trong giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục và đề ra mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp bảo đảm chất lượng và hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục”.
Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, đã dành một chương về kiểm định chất lượng giáo dục. Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012, Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ cho Bộ GDĐT: “Đẩy mạnh việc đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục đại học theo hướng đẩy nhanh tiến độ HVTH: ĐOÀN NGỌC THUẬN – GDH11B 10 Luan van GVHD: TS. NGUYỄN TIẾN DŨNG tự đánh giá của các trường đại học và cao đẳng, triển khai từng bước việc kiểm định các trường đại học, cao đẳng, xây dựng tiêu chuẩn và hình thành một số cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục đại học,…” Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban cán sự Đảng bộ Bộ GD&ĐT về đổi mới quản lý giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 và chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ đã đưa ra một số hoạt động cần sớm triển khai thực hiện để đẩy nhanh tiến độ kiểm định chất lượng giáo dục. Hiện nay Bộ GD&ĐT đã tiến hành chương trình kiểm định chất lượng các trường đại học, bước đầu đã kiểm định được 10 trường, bước 2 tiếp theo là 10 trường tự nguyện tham gia kiểm định chất lượng, trong đó có hai trường ĐH dân lập đầu tiên.
Đó là các trường: ĐH Nông nghiệp 1, ĐH Sư phạm Hà Nội, ĐH dân lập Hải Phòng, ĐH Ngoại thương, ĐH Thương mại, ĐH Sư phạm (thuộc ĐH Huế), ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Dân lập Văn Lang, ĐH Sư phạm TP.HCM và ĐH Nông lâm TP. Xây dựng và hoàn chỉnh bộ tiêu chí đánh giá cấp trường và cấp chương trình ở cấp độ từ giáo dục Mầm non đến giáo dục Đại học. Đến nay không những có nhiều trường đăng ký tham gia kiểm định theo bộ tiêu chuẩn của Cục Khảo thí và Đảm bảo chất lượng ban hành, một số trường như trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh tiến hành đánh giá chương trình theo tiêu chuẩn của AUN (Asean University Network) và đã đạt được nhiều kết quả tốt. Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh là những trường Đại học đầu tiên áp dụng đánh giá chương trình giáo dục bằng bộ tiêu chuẩn AUN đầu tiên ở Việt Nam.
Đoàn đánh giá ngoài của AUN đã tiến hành việc đánh giá cấp chương trình đào tạo lần đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 12–2009 đối với 4 chương trình của 4 trường ĐH. Đó là chương trình đào tạo ngành công nghệ thông tin của Trường ĐH Công nghệ (ĐH Quốc gia Hà Nội), ngành điện tử - viễn thông của Trường ĐH Bách khoa, ngành công nghệ thông tin của Trường ĐH Khoa học Tự nhiên và ngành khoa học - kỹ thuật máy tính của Trường ĐH Quốc tế, đều thuộc ĐH Quốc gia TPHCM. Kết quả 4 chương trình trên cũng đã được đánh giá đạt trên 4 điểm ngang với mức trung bình trong khu vực. Đến năm 2011, đoàn đánh giá ngoài của Mạng lưới đại học Đông Nam Á (AUN) tiếp tục tổ chức đánh giá 3 chương HVTH: ĐOÀN NGỌC THUẬN – GDH11B 11 Luan van GVHD: TS.
NGUYỄN TIẾN DŨNG trình đào tạo của ĐHQG Tp.HCM theo Bộ tiêu chuẩn AUN-QA. Các chương trình được đánh giá gồm: Cơ khí chế tạo thuộc Khoa Cơ khí (trường ĐH Bách khoa); Công nghệ sinh học (trường ĐH Quốc tế) và Việt Nam học (trường ĐH KHXH&NV). Đại học Cần Thơ cũng đã có những bước thử nghiệm áp dụng đánh giá bằng bộ tiêu chuẩn AUN với 12 chương trình đào tạo vào năm 2009. Một số nghiên cứu ngoài và trong nước có liên quan.
Ở nước ngoài, năm 1991 Hiệp hội các trường Đại học Hà Lan tiến hành đánh giá chương trình quốc tế công nghệ Điện (International Programme Review Electrical Engineering – IPR-EE). Trong dự án này, các khoa Công nghệ Điện tử của Thụy Điển, Bỉ, Đức, Anh, Thụy Sĩ và Hà Lan tham gia đánh giá lẫn nhau. Ở trong nước, năm 1999, nhóm nghiên cứu của trường đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh do PGS.TS- Đỗ Huy Thịnh chủ nhiệm đề tài đã tiến hành nghiên cứu đề tài cấp bộ: “Đánh giá hiệu quả đào tạo và hiệu quả sử dụng đội ngũ nhân lực tốt nghiệp của trường Đại học Nông Lâm giai đoạn 1975 – 2000” [2]. Tháng 3 năm 2002, công trình nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước: “Nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo dùng cho các trường đại học Việt Nam” [3] do Giáo sư Nguyễn Đức Chính chủ biên, đã được hội đồng khoa học nhà nước nghiệm thu chính thức.
Nguyễn Đức Minh, đã trình bày đề tài nghiên cứu “Đánh giá và vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục”[4], nội dung được trình bày trên tạp chí Khoa học giáo dục số 77, tháng 2/2012. Tác giả đề tài đã trình bày cụ thể về mục đích của đánh giá giáo dục, các nội dung đánh giá giáo dục và đề ra vai trò của đánh giá trong giáo dục trong nâng cao chất lượng giáo dục. Ưu điểm của đề tài, tác giả trình bày có logic về vấn đề đánh giá trong giáo dục, tuy nhiên đề tài chỉ mới dừng lại trên việc đúc kết cơ sở lý luận của đánh giá trong giáo dục, chưa nêu cụ thể đặc điểm và vận dụng thực tế của nước ta. Nội dung đề tài nghiên cứu “Quản lý chất lượng trong giáo dục đại học và vận dụng vào thực tiễn Việt Nam” [5] do tác giả Nguyễn Quang Giao được trình bày trên Tạp chí Khoa học Giáo dục số 78, tháng 3/2012, do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam ấn hành.
Nội dung nghiên cứu đã đưa ra vấn đề vai trò chất lượng cũng như quản HVTH: ĐOÀN NGỌC THUẬN – GDH11B 12 Luan van GVHD: TS.