MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm gần đây, việc khai thác sử dụng đất đai tại nhiều địa phương ở nước ta ngày càng có hiệu quả. Song, tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại một số địa phương vẫn còn nhiều hạn chế, mà chủ yếu phụ thuộc vào các nguyên nhân: tiềm năng phát triển kinh tế, năng lực quản lý của cán bộ và chủ đầu tư, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tập quán canh tác của người dân chủ yếu là chạy theo lợi nhuận, sản xuất tràn lan không theo quy hoạch, kế hoạch đã được hoạch định trước đó, do yêu cầu của quá trình đô thị hóa, phát triển công nghiệp dịch vụ, xây dựng cơ sở hạ tầng nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã và đang chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp. Mặt khác, để đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm, rau quả,… cho nội thành thì cần phải có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp một cách hiệu quả và bền vững.
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã thực sự trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai, góp phần tích cực cho việc sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả; là một trong những căn cứ pháp lý quan trọng để UBND quận Ô Môn tiến hành thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều tiết thị trường đất đai. Mặc dù kế hoạch sử dụng đất đai trong thời gian qua đã được chú trọng và phát triển nhưng kết quả thực hiện vẫn chưa cao. Vấn đề đặt ra là làm sao để công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất nói chung và kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp nói riêng ngày càng khả thi và hoàn thiện góp phần hiệu quả vào việc phát triển kinh tế xã hội và đời sống người dân đồng thời góp phần điều phối lại quỹ đất sao cho phù hợp với tình hình thực tế, phát huy tối đa các tiềm năng của đất đai trên địa bàn quận Ô Môn, TPCT. Xuất phát từ mục đích, ý nghĩa đó đề tài: “Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2015 – 2020 quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ” mang tính thực tiễn cao rất cần được thực hiện.1 Mục tiêu tổng quát Phân tích hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2015 – 2020 quận Ô Môn, TPCT đồng thời xác định thuận lợi và khó khăn trong công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất, đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp của Quận trong thời gian tới.2 Mục tiêu cụ thể Phân tích hiện trạng sử dụng đất của quận Ô Môn năm 2020 và đánh giá biến động sử dụng đất nông nghiệp của Quận giai đoạn 2015 – 2020.
Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp từng năm giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020 so với kế hoạch sử dụng đất đã đề ra ở Ô Môn, Cần Thơ. Phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn quận Ô Môn. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 Định nghĩa đất đai Theo FAO (1995), đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tác động như: xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất…), vừa là phương tiện lao động (cho công nhân nơi đứng, dùng để gieo trồng, nuôi gia súc…). Như vậy, đất không phải là đối tượng của từng cá thể mà chúng ta đang sử dụng coi là của mình, không chỉ thuộc về chúng ta.
Ðất là điều kiện vật chất cần thiết để tồn tại và tái sản xuất các thế hệ tiếp nhau của loài người. Vì vậy, trong sử dụng cần làm cho đất tốt hơn cho các thế hệ mai sau. Theo định nghĩa về đất đai của Luật đất đai Việt Nam (1993), “Đất là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu, là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động. Đất còn là vật mang của các hệ sinh thái tự nhiên và các hệ sinh thái canh tác, đất là mặt bằng để phát triển nền kinh tế quốc dân”.
Theo Thông tư 14/2012/TT-BTNMT thì: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc SDĐ trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế - xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mao, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”. Theo Lê Quang Trí (2010), cho rằng “đất đai bao gồm điều kiện tự nhiên, khí hậu, địa hình, đất, nước và thực vật trong phạm vi ảnh hưởng đến tiềm năng sử dụng đất đai. Điều đó còn bao gồm các hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại”. Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố đất đai của khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng ( Luật đất đai, 1993, trích trong Lê Quang Trí, 2010).
Theo Nguyễn Hữu Ngữ (2010), đất đai là điều kiện vật chất mà mọi sản xuất và sinh hoạt đều cần tới. Đất đai là khởi điểm tiếp xúc và sử dụng tự nhiên ngay sau khi nhân loại xuất hiện. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất và văn minh tinh thần, tất cả các kỹ thuật vật chất và văn hóa khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất đai. Theo Lê Tấn Lợi (1999), “Đất đai là một diện tích khoanh vẽ của bề mặt trái đất, chứa đựng tất cả các đặc trưng của sinh khí quyển ngay bên trên và bên dưới của lớp mặt này, bao gồm khí hậu gần mặt đất, đất và dạng địa hình, nước mặt (bao gồm hồ cạn, sông, 3 đầm trũng, đầm lầy), lớp trầm tích gần mặt và kết hợp với dự trữ nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, mẫu hình định cư của con người và những kết hợp về tự nhiên của những hoạt động của con người trong thời gian qua và hiện tại (làm ruộng bậc thang, cấu trúc hệ thống trữ nước và thoát nước, đường sá, nhà cửa)”.
Theo Brinkman va Smyth (1976), về mặt địa lý mà nói đất đai “Một vùng đất chuyên biệt trên bề mặt của trái đất có những đặc tính mang tính ổn định, hay có chu kỳ dự đoán được trong khu vực sinh khí quyển theo chiều thẳng từ trên xuống dưới, trong đó bao gồm: Không khí, đất và lớp địa chất, nước, quần thể thực vật và động vật và kết quả của những hoạt động bởi con người trong việc sử dụng đất đai ở quá khứ, hiện tại và trong tương lai”.2 Vai trò Đất đai ngày một khan hiếm bởi đặc tính không co dãn, đã làm cho đất đai đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển nông nghiệp – lâm nghiệp nói chung và công nghiệp – thương mại – dịch vụ nói riêng, là “tư liệu sản xuất đặc biệt” cho sự phát tiển nền kinh tế quốc dân, tài sản quý giá của quốc gia, thể hiện chủ quyền của mỗi dân tộc. Theo Lê Quang Trí (2005), vai trò của đất đai được thể hiện qua nhiều lĩnh vực rất khác nhau: - Trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất như cày, bừa, xới xáo.) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi. Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất. - Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản).
Quá trình sản xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất. Theo Lê Tấn Lợi (1999), đất đai có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Đất đai là tư liệu sản xuất trực tiếp của nền kinh tế nông – lâm – ngư nghiệp,là địa bàn để phát triển nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ, là nhu cầu thiết yếu cho sinh hoạt của con người. Nước ta nông nghiệp chiếm hơn 80% dân số.
Như vậy, nông nghiệp nước ta đang đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân kể cả sản lượng lẫn lực lượng lao động.3 Chức năng - Nhóm chức năng kinh tế: + Chức năng sản xuất: Đất đai là nền tảng cho hệ thống hỗ trợ sự sống, thông qua việc sản xuất sinh khối để cung cấp lương thực, thực phẩm chăn nuôi, sợi, dầu, gỗ và các vật liệu sinh vật sống khác cho con người sử dụng, một cách trực tiếp hay thông qua các vật nuôi như nuôi trồng thủy sản và đánh bắt thủy sản vùng ven biển. + Chức năng nước: Đất đai điều hòa sự tồn trữ và lưu thông của nguồn tài nguyên nước mặt và nước ngầm, và những ảnh hưởng chất lượng của nước. + Chức năng tồn trữ: Đất đai là kho chứa các vật liệu và chất khoáng thô cho việc sử dụng của con người. - Nhóm chức năng xã hội: + Chức năng không gian sống: Đất đai cung cấp nền tảng tự nhiên cho việc xây dựng khu dân cư, nhà máy và những hoạt động xã hội như thể thao.
+ Chức năng bảo tồn di tích lịch sử: Đất đai còn là nơi chứa đựng và bảo vệ các chứng tích lịch sử văn hóa của loài người, và nguồn thông tin về các điều kiện khí hậu và những sử dụng đất đai trong quá khứ. + Chức năng nối liền không gian: Đất đai cung cấp không gian cho sự vận chuyển của con người, đầu tư và sản xuất, và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa những vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên.