ĐẶT VẤN ĐỀ Rutin thuộc nhóm flavonoid glycoside có tên gọi khác là rutoside hoặc quercetin-3-rutinoside, là hợp chất có nhiều đặc tính sinh học quý và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khoa học công nghệ. Đặc tính sinh học nổi bật của rutin thể hiện thông qua khả năng kháng oxy hóa (Jang et al., 2007); kháng viêm (Suky et al., 2014); có khả năng làm giảm tính thấm của mao mạch, giảm sự xuất huyết, chống co thắt do rutin có tác dụng làm tăng tính bền vững của mao mạch (Yang et al., 2012), có khả năng hỗ trợ điều trị bệnh đường ruột, tăng khả năng duy trì collagen giữ bền sụn [88]. Ngoài ra rutin còn thể hiện khả năng kháng một số vi khuẩn gây bệnh trên cơ thể người (Aditya Ganeshpurkar et al. Bên cạnh đó, rutin không gây độc đối với cơ thể người khi sử dụng liều lượng cao, nghiên cứu của Boyle et al.
Dựa trên các đánh giá này, nhiều sản phẩm giàu rutin có mặt trên thị trưởng như: Rutin with Vitamin C của công ty Lifeplan (Anh), Rutin (500mg) của công ty Swanson (Tây Ban Nha), Rutin (250mg) của công ty iherb và nhiều dạng sản phẩm khác. Đây là các sản phẩm được bổ sung rutin với thành phần nguyên liệu chủ yếu là đường, tinh bột và một lượng nhỏ vitamin C nhưng chi tiết về tỷ lệ cũng như quy trình sản xuất không được công bố [90,91,92]. Trong tự nhiên rutin có mặt trong một số loài thực vật với hàm lượng khác nhau như: lúa mạch ba góc ở châu Âu có chứa 2-3% rutin, trong lá bạch đàn ở (Oxtraylia) lượng rutin chiếm 10-19% rutin, trong táo ta lượng rutin chiếm 1. Đây là nguồn nguyên liệu để khai rutin ở một số nước phát triển khu vực Châu Âu, Mỹ (Ngô Văn Thu, 1998).
Ở Việt Nam, hoa hòe là loại thực vật có chứa nhiều rutin, tuy nhiên mỗi bộ phận cây có chứa hàm lượng rutin khác nhau, trong đó nụ hoa hòe có chứa lượng rutin lớn nhất, có thể đạt tới 28% thậm trí 33% (trích theo Đỗ Tất Lợi, 1999). Ngoài ra, hàm lượng rutin trong hoa hòe còn phụ thuộc vào điều kiện trồng trọt, lượng rutin có thể biến động từ 6-33% (trích 1 theo Đỗ Tất Lợi, 1999). Điều này cho thấy một tiềm năng lớn về nguồn vật liệu khai thác rutin từ hoa hòe Việt Nam. Tuy nhiên những đánh giá về đặc tính sinh học của rutin trồng tại Việt Nam cũng như khả năng ứng dụng trong công nghiệp thực phẩm và y học còn chưa được đánh giá chi tiết hoặc chưa được công bố [93].
Cốm là sản phẩm ăn liền, phù hợp với nhiều lứa tuổi trong đó đặc biệt trẻ nhỏ bởi tính tiện dụng. Sản phẩm cốm được sản xuất tại Công ty cổ phần Biolife với các thành phần chính bột đỗ xanh, đường kính, lactose, glucose, chất độn glucidex và vitamin C. Đây là sản phẩm nhằm mục đích hỗ trợ dinh dưỡng và vitaminC cho cơ thể. Với mong muốn bổ sung lượng rutin cho cơ thể người, việc tinh sạch cũng như đánh giá đặc tinh sinh học của rutin hoa hòe trồng tại Việt nam và đánh giá khả năng bổ sung vào sản phẩm sẽ là cơ sở khoa học để khai thác rutin từ loại cây trồng này, qua đó thúc đẩy sản xuất sản phẩm cũng như thúc đẩy việc trồng trọt cây hoa hòe [94].
Thực hiện đề tài “Đánh giá một số hoạt tính sinh học của rutin chiết xuất từ nụ hoa hòe và bước đầu ứng dụng trong sản xuất cốm” nhằm mục đích và yêu cầu sau. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích Đánh giá được đặc tính sinh học và ứng dụng rutin tinh sạch từ hoa hòe vào quy trình sản xuất cốm 1. Yêu cầu - Xác định được hàm lượng rutin trong nguyên liệu hoa hòe - Tinh sạch được rutin làm nguyên liệu sản xuất sản phẩm cốm giàu rutin từ hoa hòe.
- Xác định được một số đặc tính sinh học của rutin tinh sạch từ hoa hòe: khả năng kháng oxi hóa, khả năng kháng khuẩn, khả năng kháng viêm và độc tính đối với tế bào của rutin tinh sạch từ hoa hòe. - Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung rutin từ bột hoa hòe và rutin tinh sạch đến chất lượng cảm quan và hàm lượng rutin trong sản phẩm cốm. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ CÂY HOA HÒE 2.
Đặc điểm thực vật học Còn goịlàhòe mễ, hòe hoa mễ, hòe hoa Tên khoa hoc:̣ Sophora Japonica L. Người ta thường dùng nu ̣hoa hòe sấy khô hoăc̣ quảhoè Cây hòe thân gỗ, to, cao cóthểđến 15m, thân thẳng, có vỏhơi nứt nẻ. Cành hình trụ, nằm ngang, nhẵn, màu lục nhat,̣ cónhững chấm trắng. Lákép lông chim lẻ, mọc so le, gồm 11-17 láchét moc̣ đôi, hı̀nh bầu duc̣ thuôn, dài 3-4,5cm, rông̣ 1,2- 2 cm, màu luc̣ nhạt, măṭdưới cólông.
Cuṃ hoa moc̣ ởđầu cành thành chùm dài 20cm, phân thành nhiều nhánh. Hoa nhỏ, màu trắng hoặc vàng nhaṭ. Cánh hoa mỏng ngắn, hı̀nh tim cuṭởgốc, mép cong lên, nhị rời nhau, bao phấn hınh̀ bầu duc̣. Quả đâu,̣ hınh̀ tràng hat,̣ nhẵn, thắlaịkhông đều giữa các hat,̣ đầu cómũinhoṇ ngắn.
Mỗi quảcó 2- 5 hat,̣ hạt hình bầu dục, hơi dẹt, nhẵn, có màu đen bóng (Đỗ Tất Lợi, 1999). Phân bố và sinh thái Các bô ̣phâṇcủa cây như: hoa, quả,lá đều cóthể sửdung̣ đươc̣ nhưng nu ̣hòe làbô ̣phâṇtập trung nhiều nhất lượng rutin chứa 6 – 33 % (Đỗ Tất Lơi,̣ 1999). Để thu hái nụ, người ta choṇ những chùm hoa cótừ5 - 10 hoa nở (không nên thu hoạch sớm quá hoặc muộn quá, năng suất thấp). Dùng sào tre nhỏ làm chạc đôi dễ bẻ cuống chùm hoa.
Thời gian thu hái chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 dương lịch (rộ nhất vào tháng 7-8) vào buổi sáng khi trời khô ráo. Sau đó, phơi luôn trong ngày cho đến khi bóp nụ giòn tan là được. Có nơi người thu hoạch thu hái làm hai vụ: - Vụ mùa từ tháng 4 đến tháng 9, năng suất thu hoạch cao hàm lượng rutin không bằng vụ chiêm. - Vụ chiêm từ tháng 10 đến tháng 1 năm sau, năng suất thu hoạch thấp hàm lượng rutin cao.
Việc phơi hay sấy khô cần được tiến hành nhanh chóng. Nếu thu hoạch 0 vào thời tiết mưa, có thể sấy ở 60-70 C. Dược liệu có màu vàng, vị hơi đắng, dài 0.3 cm, cánh hoa vàng nâu, đài hoa vàng xám. Loại 3 nụ có màu vàng ngà; không ẩm mốc; không lẫn cuống lá, nụ nhỏ và tạp chất là tốt.
Nụ hòe có thể dùng sống hoặc sao cháy. Dược điển Việt Nam quy định hoa nở lẫn vào không được quá 10%. Hoa dài 4-8 mm, rộng 2-3 mm phần đài chiếm 2/3 toàn bộ chiều dài, đài hình chuông, phía dưới có cuống ngắn. Sau khi bị khô thì cánh hoa nở trên nền vàng, vị hơi đắng.
Hoa nở rồi cũng dùng chứ không bỏ đi nhưng phân loại riêng (Mr. Hòe được trồng rộng rãi ở các tỉnh phía Bắc hiện nay vốn là cây nhập nội, chưa rõ nguồn gốc. Từ năm 1978, cây được đưa vào các tỉnh Tây nguyên, ven biển miền Trung sau lan ra các tỉnh khác. Những tỉnh trồng nhiều hòe hiện nay là Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Nam, Lai Châu (vùng Điện Biên), Sơn La, Vĩnh Phúc, Bắc Giang.
Trên thế giới hòe cũng được trồng ở Trung Quốc, Nhật Bản và một số nước khác. Hòe thuộc loại cây gỗ trung sinh, ưa sáng và ưa ẩm, thường được trồng ở vườn gia đình xen với cây ăn quả. Vài năm trở lại đây, cây được trồng có kết quả tốt ở cả vùng đồi, đất cao nguyên ở Mộc Châu, Điện Biên, Đắc Lắc hoặc ở đất mới khai hoang vùng Tam Điệp (Ninh Bình). Nhiệt độ không khí trung bình khoảng o 23-26 C.
Cây ít thấy trồng ở những vùng cận nhiệt đới, núi cao như Sa Pa (Lào Cai); Đồng Văn (Hà Giang). Những cây trồng ở trại thuốc Tam Đảo phát triển kém hơn cây trồng ở vùng đồi trung du và đồng bằng. Cây trồng từ hạt sau 3-4 năm bắt đầu có quả các năm sau nhiều hơn (Viêṇdươc̣ liêu,̣ 2003). Trong dân gian, người ta phân biệt cây hòe nếp và cây hòe tẻ.
Kinh nghiệm của Thái Bình (nơi có trồng nhiều hòe nhất trong cả nước) cho biết: - Hòe nếp: hoa to, nhiều, đều, nở cùng một lúc, có màu nhạt, cuống ngắn. Cây phát triển nhanh, phân nhiều cành. - Hòe tẻ: hoa nhỏ, thưa thớt, không đều nở nhiều đợt, có màu sẫm hơn, cuống dài. Cây vồng cao, phân ít cành.
Thành phần hóa học trong hoa hòe Trong hoa hòe có rất nhiều thành phần, trong đó chủ yếu là rutin. Tùy từng điều kiện cụ thể về khí hậu, thổ nhưỡng, trồng trọt và cách thu hái mà hàm lượng rutin là khác nhau. Thông thường thu hái vào lúc nụ hòe còn non, tại đây hàm lượng rutin đạt mức cao nhất. Theo tác giả Lê Quang Toàn, (1974) quy định hàm o lượng rutin đã sấy khô trước 60 C trong 6 giờ không được thấp hơn 20%.
Thành phần rutin có trong các bộ phận hoa hòe Các bộ phận Thành phần rutin (%) Lá hoa hoè 4–5 Vỏ quả 4–11 Lá chét 5–6 Hạt 0.5-2 Cành con 5–6 Nụ hoa hòe 25-35 Nguồn: Lê Quang Toàn (1974) Thành phần rutin trong bảng 2.1 cho thấy: trong nụ hoa hòe rất giàu rutin chứa lên đến 25 – 35%. Trong lá hoa hòe chứa (4-5%), trong vỏ quả (4-11%), trong lá chét (5-6%), trong cành non (5-6%), trong hạt (0. Ngoài ra trong hoa hòe còn có chứa quercetin, betulin, sophoradiol, sophorin A, sophorin B, sophorin C, sophorose (Lê Quang Toàn, 1974). Như vậy, từ nụ hoa đến hình thành quả, hàm lượng rutin ở mức cao, do đó bộ phận nụ hoa, hoa được chúng tôi sử dụng trong nghiệ cứu này.
Ứng dụng hoa hòe trong đời sống Tác dụng cầm máu: hoa hòe có tác dụng rút ngắn thời gian chảy máu, sao thành than tác dụng càng tăng. Tác dụng với mao mạch: hoa hòe có tác dụng giảm bớt tính thẩm thấu của mao mạch và làm tăng độ bền của thành mao mạch. Tác dụng hạ mỡ trong máu: hoa hòe có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu của gan và ở cửa động mạch, giúp phòng ngừa xơ vữa động mạch. Tác dụng chống có thắt và chống loét: hoa hòe có tác dụng giảm trương lực cơ trơn của đại tràng và phế quản.
Tác dụng chống tiêu chảy: nước hoa hòe có tác dụng giúp kích thích niêm mạc ruột sinh chất tiết dịch có tác dụng làm giảm tiêu chảy. Tác dụng chống viêm: hoa hòe có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn hiệu quả (Ippolito et al. Bài thuốc từ hoa hòe trong đời sống Chữa đi ngoài ra máu: nu ̣hoa hòe 20g, látrắc bá20g, hoàng liên 8g, kinh giới 8g sắc nhỏnấu nước uống. 5 Chữa tăng huyết áp, đau mắt: nu ̣hoa hòe 10g, lásen hoăc̣ ngósen 10g, cúc hoa vàng 4g sắc nước uống.