Đặt vấn đề đái tháo đường. Trong đó, cây Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) thuộc họ Bàng (Combretaceae), là một loài cây thuộc hệ sinh thái rừng ngập mặn có chứa một hàm lượng flavonoid tương đối cao. Từ những lý do đó, để đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng và các acid amin cần thiết cho người mắc bệnh đái tháo đường đồng thời hỗ trợ tình trạng bệnh lý nên đề tài : “Nghiên cứu quy trình sản xuất bột dinh dưỡng hỗ trợ người bệnh đái tháo đường có bổ sung flavonoid từ cao chiết lá Cóc đỏ (Lumnitzera littorea) ” đã được đề xuất. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 2 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu 1.
Khái niệm[10] Đái tháo đường (Diabetes mellitus) là một bệnh rối loạn chuyển hoá mạn tính, đặc trưng bởi sự tăng đường máu (hyperglycemia) do thiếu hụt insulin tương đối hay tuyệt đối gây ra. Đái tháo đường là một trong ba bệnh tăng lên song hành với tuổi già đó là : Bệnh tim mạch, ung thư và đái tháo dường. Đái tháo đường gây nên một loạt các rối loạn chuyển hoá trước hết là rối loạn chuyển hoá glucid làm glucose máu tăng cao và xuất hiện glucose trong nước tiểu. Rối loạn chuyển hoá đường kéo theo rối loạn chuyển hoá lipid, protid và các chất điện giải.
Những rối loạn này gây ra nhiều biến chứng nặng nề cho người bệnh hoặc có thể dẫn tới hôn mê và tử vong nếu không được điều trị kịp thời. [10] Đái tháo đường (ĐTĐ) được chia làm 2 loại: - Loại 1: là ĐTĐ phụ thuộc insulin có liên quan tới sự thiếu hụt insulin, thường là kết quả của sự phá hủy tự miễn các tế bào ở của tụy; chiếm khoảng 10 % trong tổng số bệnh nhân ĐTĐ; thường gặp ở người trẻ và có thể trạng gầy. - Loại 2: là ĐTĐ không phụ thuộc insulin chiếm 90 % tổng số người ĐTĐ nguyên phát, thường gặp ở người béo. Tuy nhiên, người gầy cũng gặp khoảng 15 – 20 %.
Giai đoạn sớm của đái tháo đường loại 2 được đặc trưng bởi sự sản xuất insulin quá mức. Khi bệnh tiến triển, mức insulin có thể giảm xuống như là kết quả của sự suy giảm một phần các tế bào ở sản xuất ra insulin của tụy. Nguyên nhân[10] Nguyên nhân của bệnh đái tháo đường hiện vẫn chưa được xác định rõ ràng. Các yếu tố bao gồm di truyền và lối sống không cân bằng, chế độ ăn nhiều thịt đỏ, chất béo và hàm lượng bột đường cao, thừa cân béo phì.
là những yếu tố nguy cơ cao dẫn đến đái tháo đường. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 3 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu 1. Biến chứng cấp tính Xảy ra đột ngột trong thời gian ngắn, có thể hôn mê, thậm chí rất dễ tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nguyên nhân do quá liều thuốc hạ đường huyết hoặc insulin, ăn uống kiêng quá mức hoặc không ăn nhưng vẫn dùng thuốc, uống rượu nhiều, tập luyện quá sức.
Người bệnh sẽ cảm thấy cồn cào, run rẩy, vã mồ hồi, choáng váng, đánh trống ngực. Nếu hạ đường huyết nhẹ hay trung bình có thể chỉ cần cho người bệnh ăn cháo loãng, súp hay uống một cốc nước đường và nằm nghỉ ngơi, khi tỉnh táo lại thì cần bổ sung dưỡng chất cho cơ thể. Hạ đường huyết nặng cần đưa người bệnh nhanh chóng đi cấp cứu và tiêm tĩnh mạch dung dịch ngọt ưu trương 30 %. Trường hợp tăng đường huyết quá cao có thể đưa người bệnh vào tình trạng hôn mê do nhiễm aceton hay hội chứng tăng áp lực thẩm thấu.
Khi người bệnh rơi vào tình trạng này đòi hỏi phải theo dõi sát và điều trị kịp thời. Biến chứng mãn tính Gây tắc mạch vành tim, cao huyết áp, xơ cứng động mạch, nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não gây bại liệt hoặc tử vong. Tổn thương thần kinh thực vật: loạn nhịp tim, da khô, tiêu chảy, táo bón, đại tiện không kiểm soát được. Tổn thương thận do hàm lượng đường trong máu luôn cao nên gây tổn thương hàng triệu vi mạch tại thận dẫn đến suy giảm các chức năng lọc, bài tiết của thận và suy thận.
Một trong những biến chứng dễ nhận thấy ở bệnh nhân tiểu đường là tổn thương mắt do những mạch máu nhỏ tại võng mạc dễ bị nghẽn, vỡ trong lòng mắt dẫn đến các bệnh lý về võng mạc. Mặt khác, tiểu đường cũng có thể gây đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp, gây mù loà. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 4 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu 1. Phương pháp điều trị[10] Với bệnh tiểu đường loại 1, người bệnh sẽ phải tiêm insulin thường xuyên trong cả cuộc đời vì cơ thể không có khả năng tạo ra hormon này.
Với bệnh tiểu đường loại 2, Phụ thuộc vào tình trạng của người bệnh, phương pháp chữa trị kết hợp giữa ăn uống hợp lý và tăng cường hoạt động. Chỉ bệnh nhân mắc loại 2 mới dùng thuốc kết hợp với những chất đặc hiệu nhằm làm giảm đường huyết. Người bệnh có thể dùng riêng thuốc viên hoặc kết hợp với phương pháp tiêm insulin. Thuốc sử dụng điều trị tiểu đường loại 2 được chia làm 3 nhóm: - Nhóm thuốc thúc đẩy tiết insulin như nhóm sufonylurea: Tolbutamide, Chlorpropamide, Glibenclamid, Gliclazid, Glimepirid,… - Nhóm thuốc giúp insulin hoạt động hiệu quả hơn như nhóm biguanide: metfomin (Glucophage, Glucophge XR, Metfomin XR): nhóm thiazolidinedione (TZD) hay glitazone.
- Thuốc ức chế men α-glucosidase: acarbose (Precose, Glucobay), miglitol (Glyset). Enzyme α-glucosidase α-glucosidase là một enzyme nằm ở tế bào biểu mô niêm mạc ruột non đảm nhận việc phân giải các đường disaccharide và carbohydrate. Hiện nay, xu hướng sử dụng các loại thuốc ức chế enzyme α-glucosidase trong việc điều trị đái tháo đường như acarbose, migliton đã trở nên phổ biến. Dưới tác dụng của α-amylase, tinh bột sẽ bị thủy phân thành maltose.
Sau đó, dưới tác dụng của α-glucosidase, đường maltose sẽ tiếp tục bị thủy phân thành đường glucose. Ngoài sự hấp thu tinh bột, cơ thể còn hấp thu saccharose. Dưới tác động của α-glucosidase, đường saccharose cũng bị thủy phân thành đường glucose và fructose. Do đó, ức chế α-glucosidase làm cho quá trình thủy phân maltose và saccharose diễn ra chậm.
Do đó, hàm lượng glucose không tăng mạnh sau khi ăn. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 5 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu Tinh Bột Saccharose (Glucose + Fructose ) Amylase Maltose (Glucose + Glucose) α-glucosidase Glucose Glucose Glucose Glucose Glucose huyết tăng Hình 1.1: Sơ đồ vai trò của α-glucosidase trong quá trình hình thành glucose. Khái niệm về dinh dưỡng[1,9,11] Trước hết, cần có sự phân biệt giữa thực phẩm (hay thức ăn) với các chất dinh dưỡng: Thực phẩm là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng. Thịt, cá, rau cải, trái cây, gạo,… đều là thực phẩm.
Đa số thực phẩm cần nấu nướng, chế biến để trở thành món ăn. Dinh dưỡng là những chất nuôi sống cơ thể, chủ yếu được hấp thụ từ thực phẩm. Dinh dưỡng rất cần thiết cho sự hình thành của bào thai, sự phát triển của trẻ sơ sinh, sự tăng trưởng từ tuổi thơ đến tuổi trưởng thành và duy trì sức khỏe cơ thể trong suốt cuộc đời. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 6 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu Dinh dưỡng còn được hiểu theo môt nghĩa khác, đó là lấy những chất bổ trong thức ăn để nuôi dưỡng thân thể, trong tiếng anh là “Nutrition”.
Các chất bổ dưỡng (Nutrients) trong thực phẩm được dùng để nuôi sống cơ thể. Trong việc nuôi dưỡng cơ thể, nhằm hữu dụng hóa, thực phẩm được trải qua hai tiến trình như: - Cung cấp (do nhu cầu ăn uống) - Biến năng (do các phản ứng hóa học trong cơ thể, giúp cho các chất hóa học trong thực phẩm được biến thành nguồn chất bổ, có năng lượng nuôi dưỡng cơ thể). Do đó hai tiến trình cung cấp và biến năng đồ ăn còn được gọi là Dinh Dưỡng (Nutrition). Vai trò của dinh dưỡng[1,9,11] Mỗi loại chất dinh dưỡng có một hoặc nhiều tác dụng như: - Cung cấp năng lượng cho các hoạt động của cơ thể - Cung cấp nguyên liệu để cấu tạo và tu bổ các mô, tế bào - Tham gia điều hòa các sinh hoạt cơ thể Các nhà dinh dưỡng ước lượng có tới vài chục chất dinh dưỡng khác nhau dưới dạng đơn thuần hoặc hỗn hợp và được chia thành sáu nhóm chính: carbohydrate, protein, lipid, vitamin, khoáng chất và nước.
Mỗi loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng khác nhau. Vì vậy cần phải phối hợp các dạng thực phẩm khác nhau mới đảm bảo được hàm lượng và sự cân bằng các chất dinh dưỡng cần thiết. Đặc biệt trong nhóm protein, cơ thể con người cần có đầy đủ 22 loại acid amin. Nhưng chỉ có 13 loại acid amin là cơ thể tổng hợp được, còn 9 loại acid amin còn lại thì phải cung cấp trực tiếp từ thực phẩm nguồn gốc từ thực vật hay từ thịt động vật.
9 loại acid amin này được xem là tối cần thiết bao gồm: histidine, leucine, lysine, methionine, phenylalanine, threonine, tryptophan và valine. SVTH: HUỲNH TẤN LỘC- MSSV: 1553010096 Trang 7 Báo cáo Khóa luận tốt nghiệp khóa 2015 Tổng quan tài liệu Khi thiếu một trong những acid amin này, cơ thể có khả năng lấy từ tế bào thịt trong người. Nhưng khi diễn biến kéo dài sẽ dẫn đến hao mòn cơ thịt. Chế độ dinh dưỡng hợp lý[9,11] Một chế độ dinh dưỡng hợp lý sẽ giúp tăng cường sức khỏe, phòng chống được nhiều bệnh như : bệnh béo phì, sự kém phát triển của xương, trí não và sự gia tăng của bệnh đái tháo đường.
Có 40 chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể hằng ngày nhưng nhìn chung có thể chia các chất dinh dưỡng chủ yếu này thành hai nhóm chính: - Nhóm chất dinh dưỡng đa lượng sinh năng lượng: chất bột đường, chất béo, chất đạm và chất cồn. Ngoài vai trò cung cấp năng lượng cho cơ thể, các chất dinh dưỡng đa lượng sinh năng lượng còn tham gia vào cấu trúc cơ thể, tham gia vào các hoạt động hấp thu, chuyển hóa, miễn dịch… - Nhóm chất dinh dưỡng vi lượng: không cung cấp năng lượng nhưng có vai trò quan trọng trong các quá trình chuyển hóa cơ thể, có ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật. Nhu cầu hằng ngày của cơ thể thường ít, tính bằng miligam thậm chí là microgam. Bao gồm các vitamin và khoáng chất vi lượng + Vitamin: gồm các vitamin tan trong nước (B, C) và các vitamin tan trong dầu (A, D, E, K) + Chất khoáng vi lượng: Hiện đã được xác định khoảng 10 loại khoáng vi lượng hiện diện trong cơ thể nhưng chỉ mới biết được chức năng và chuyển hoá của Zn, Fe, Mg, Cu, I, F, Se.