CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY MUA NHÀ VÀ SỬA CHỮA NHÀ Ở TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN MARITIME BANK CHI NHÁNH HUẾ 1.1 Khái niệm tổ chức và hoạt động Ngân hàng Thương mại 1. Khái niệm và phân loại Ngân hàng Thương mại Khái niệm Ngân hàng Thương mại Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động Ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Theo hướng đề tài nghiên cứu của mình, tôi xin được định nghĩa về Ngân hàng Thương mại như sau: NHTM là những tổ chức tín dụng bao gồm các hoạt động như nhận tiền kí thác, cung cấp dịch vụ thanh toán, cho vay với nhiều mục đích khác nhau. theo quy định của pháp luật.
Theo nghị định số 59/2009/NĐ-CP Ngày 16-07-2009 của Chính phủ) về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Thương mại. Phân loại Ngân hàng Thương mại: Dựa vào hình thức sở hữu: Ngân hàng Thương mại Quốc doanh: Là Ngân hàng Thương mại được thành lập bằng 100% vốn ngân sách Nhà nước. Trong tình hình hiện nay để tăng nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài chính với thế giới các NHTM quốc doanh Việt Nam đang phát hành trái phiếu để huy động vốn; đã và đang cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài và các Ngân hàng Cổ phần hiện nay. Các NHTM Quốc doanh gồm: Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Bank for Agriculture and Rural Development); Ngân hàng công thương Việt 7 nam (Industrial and commercial Bank of Viet Nam – ICBV) gọi tắt là Vietinbank); Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam (Bank for Investement and Development of Viet Nam – BIDV); Ngân hàng ngoại thương Việt Nam (Bank for Foreign Trade of Viet Nam – Vietcombank); Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu long (Housing Bank of Mekong Delta) Ngân hàng Thương mại Cổ phần: Là Ngân hàng Thương mại được thành lập dưới hình thức công ty Cổ phần.
Trong đó một cá nhân hay pháp nhân chỉ được sở hữu một số cổ phần nhất định theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Gồm có: NHTMCP Á Châu; NHTMCP Phương Đông; NHTMCP Đông Á; NHTMCP Quân đội; NHTMCP Hàng hải Việt Nam. Ngân hàng liên doanh: Là Ngân hàng được thành lập bằng vốn liên doanh giữa một bên là Ngân hàng Thương mại Việt Nam và bên khác là Ngân hàng Thương mại nước ngoài có trụ sở đặt tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật ở Việt Nam. Các Ngân hàng liên doanh gồm: INDOVINA BANK LIMITTED; SHINHANVINA BANK; VID PUBLIC BANK; VINASIAM BANK; Ngân hàng Việt Nga… Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài: là Ngân hàng được thành lập theo pháp luật nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam: CITY BANK; BANGKOK BANK; SHINHAN BANK; DEUSTCH BANK.
NHTM 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ (NH mẹ). NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân Việt Nam, có trụ sở chính tại Việt Nam: NHTNHH một thành viên ANZ; NHTNHH một thành viên Standard Chartered; NHTNHH một thành viên HSBC; NHTNHH một thành viên Shinhan; NHTNHH một thành viên Hongleo. Dựa vào chiến lược kinh doanh Ngân hàng bán buôn: là loại Ngân hàng chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân. Ngân hàng bán lẻ: là loại Ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng khách hàng cá nhân.
8 Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại Ngân hàng giao dịch và cung ứng dịch vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân. Dựa vào tính chất hoạt động Ngân hàng chuyên doanh: là loại Ngân hàng chỉ hoạt động chuyên môn trong một lĩnh vực như nông nghiệp, xuất nhập khẩu, đầu tư… Ngân hàng kinh doanh tổng hợp: là loại Ngân hàng hoạt động ở mọi lĩnh vực kinh tế và thực hiện hầu như tất cả các nghiệp vụ mà một Ngân hàng có thể được phép thực hiện. Theo mục 3, điều 87 Nghị định số 59/2009/NĐ-CP Ngày 16-07-2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM. Trách nhiệm của ngân hàng trong hoạt động ngân hàng: Chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình.
Tuân thủ các quy định của Pháp luật trong tổ chức, quản trị và hoạt động ngân hàng. Công bố công khai tại nơi giao dịch các thông tin về lãi suất tiền gửi và tiền vay, các mức phí, tỷ giá, thời gian giao dịch và các thông tin khác nếu ngân hàng thấy cần thiết. Lưu giữ hệ thống dữ liệu, sổ sách tài chính kế toán đầy đủ theo đúng các chính sách và thông lệ kế toán nhằm giúp cơ quan giám sát ngân hàng đánh giá trung thực và hợp lý về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, NHTM luôn ngày càng mở rộng, đa dạng các nghiệp vụ kinh doanh.
Từ đó nâng cao chất lượng hoạt động và nâng tầm quan trọng của Ngân hàng trong các nghiệp vụ này.1 Nghiệp vụ về nguồn vốn Huy động vốn là nghiệp vụ quan trọng, là yếu tố nền tảng tạo điều kiện giúp Ngân hàng thực hiện các hoạt động giao dịch khác. Các nguồn vốn được NHTM thực hiện bằng cách huy động từ nguồn vốn nhàn rỗi: vốn tự có của chủ sở hữu, các hoạt động gửi tiền của KHCN hay hộ gia đình. Qua đó, ngân hàng thực hiện các nhiệm vụ như đầu tư, cho vay giúp cho hoạt động kinh doanh ngày càng hiệu quả và thu được 9 lợi nhuận cao. Thành phần nguồn vốn của NHTM gồm: vốn điều lệ, các quỹ dự trữ, vốn huy động, vốn đi vay, vốn tiếp nhận, vốn khác.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn Hoạt động kinh doanh này quyết định đến khả năng đem lại hiệu quả sinh lợi cho NHTM.
Ngân hàng sử dụng khoản vốn huy động được để thực hiện nghiệp vụ cho vay. Phần lợi nhuận thu được là khoản chênh lệch lãi suất giữa vốn huy động và vốn cho vay. Bên cạnh lợi ích kinh tế của nội bộ ngân hàng, hoạt động này còn góp phần giúp xã hội ngày một phát triển hơn, cụ thể: cho vay giúp mở rộng vốn đầu tư, gia tăng các hoạt động sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống của người dân. Ngoài ra nguồn vốn còn để dự trữ một phần để đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng; đầu tư mua cổ phần, cổ phiếu, mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương,.
đều góp phần mang lại thu nhập lớn và đáng kể cho ngân hàng.3Nghiệp vụ khác NHTM không chỉ thực hiện hoạt động huy động vốn, sử dụng vốn mà còn thực hiện các dịch vụ trung gian cho khách hàng nhằm nâng cao chất lượng và uy tín của ngân hàng trong nền kinh tế hiện nay. Ở hoạt động này, ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian Thương mại nhằm thỏa mãn các nhu cầu của hai bên khách hàng về những dịch vụ cần thiết trong đời sống hàng ngày. Nước ta đang trong giai đoạn phát triển đất nước theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì vậy nhu cầu, hành vi tiêu dùng của khách hàng ngày càng đa dạng và phức tạp. Để đáp ứng tốt hơn cho khách hàng thì việc đa dạng hóa các danh mục sản phẩm dịch vụ và nâng cao chất lượng là điều cực kì cần thiết.
Các dịch vụ trung gian mà NHTM đem lại bao gồm: Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán.), nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công chúng, bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng, kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quý, tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu… Với nhịp sống bận rộn hôm nay, việc ngân hàng thực hiện các hoạt động trung gian Thương mại sẽ giúp cho khách hàng tiết kiệm thời gian, công sức của mình. Các hoạt động: giữ hộ chứng từ, chi lương cho nhân viên, khấu trừ các khoản trả góp tự động,. thường xuyên xảy ra theo từng tháng. Nếu không có dịch vụ này, khách hàng sẽ tốn nhiều thời gian và thủ tục thanh toán phiền toái hơn.
10 Xã hội ngày càng hiện đại, các ngân hàng luôn kịp thời nắm bắt và phát triển hoạt động của mình để đáp ứng nhu cầu của khách hàng đồng thời giúp cho hệ thống NHTM phát triển một cách toàn diện hơn. Cạnh tranh bằng con đường “phi giá” đang được tất cả các NHTM trong và ngoài nước áp dụng. Dịch vụ Ngân hàng càng phát triển càng cho ta thấy được sự phát triển nhanh chóng của một đất nước.2 Tín dụng Ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng Tín dụng là một hoạt động quan trọng của các NHTM. Tùy theo khía cạnh tương ứng của tín dụng mà định nghĩa về nó.
Trong đề tài này, tín dụng được xem xét và đánh giá ở góc độ cho vay tiêu dùng: Dưới giác độ của NHTM, tín dụng được định nghĩa : “Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận. Bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.” Trong hệ thống NHTM, khi tìm hiểu các hoạt động mà ngân hàng có không thể nào bỏ qua hoạt động cho vay bởi đây chính là nguồn thu lại lợi nhuận cao. Đặc biệt đối với NHTM Việt Nam, hoạt động cho vay chiếm tỉ lệ rất lớn trong tổng lợi nhuận của Ngân hàng. Có thể nói rằng, hoạt động cho vay là hoạt động chủ đạo trong hệ thống NHTM Việt Nam.
Nói tóm lại: Tín dụng là một hình thức cho vay, trong đó bên cho vay sẽ cung ứng một khoản tiền và bên đi vay thực hiện các điều kiện đã thỏa thuận giữa hai bên, sau một khoản thời gian nhất định tiến hành hoàn trả số tiền đã vay kèm theo lãi suất đã được bên cho vay đưa ra.