CHƯƠNG 1: Giới thiệu tổng quan về Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh và lĩnh vực hoạt động kinh doanh tại đơn vị - sự cần thiết phải vận dụng báo cáo bộ phận để đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận tại Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh. CHƯƠNG 2: Cơ sở lý thuyết về báo cáo bộ phận và đánh giá thành quả hoạt động thông qua báo cáo bộ phận. CHƯƠNG 3: Thực trạng đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận tại Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh. CHƯƠNG 4: Giải pháp vận dụng báo cáo bộ phận tại Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh.
6 CHƯƠNG 5: Kế hoạch hành động thực hiện các giải pháp. Phần kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 7 CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VIETTEL THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ LĨNH VỰC HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI ĐƠN VỊ - SỰ CẦN THIẾT PHẢI VẬN DỤNG BÁO CÁO BỘ PHẬN ĐỂ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC BỘ PHẬN TẠI VIETTEL THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 1. Giới thiệu khái quát về Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi Nhánh Tập Đoàn Công Nghiệp – Viễn Thông Quân Đội.1 Thông tin khái quát về Viettel TP. Hồ Chí Minh Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh là một trong 63 chi nhánh tỉnh thành trực thuộc Tổng công ty viễn Thông Viettel – Tập Đoàn Công Nghiệp-Viễn Thông Quân Đội, được thành lập và hoạt động từ tháng 6 năm 2010 bao gồm 10 phòng ban chức năng và 24 trung tâm Viettel quận, huyện.
Tên chi nhánh: Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh – Chi Nhánh Tập Đoàn Công Nghiệp – Viễn Thông Quân Đội. Mã số thuế 0100109106-122 được cấp vào ngày 22/06/2010 tại cơ quan Thuế đang quản lý: Chi cục Thuế Thành Phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ trụ sở công ty: đặt tại Số 285 Cách Mạnh Tháng Tám, Phường 12, Quận 10, TP Hồ Chí Minh. Chi nhánh Viettel TP.
HCM có: 1 Giám đốc, 5 phó giám đốc, 10 phòng ban và 24 trung tâm Viettel quận, huyện. Thực hiện mô hình khung theo quyết định số 384/QĐ-VTQĐ-VTT ngày 11/03/2016 về việc ban hành mô hình tổ chức, quy định nhiệm vụ khung các tỉnh/ thành phố năm 2016 do Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn phê duyệt, ở hình 1.1(Hồ Hữu Trường(2019), Giải pháp nâng cao sự hài lòng đối với công việc của nhân viên tại chi nhánh Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh thông qua phong cách lãnh đạo, Luận văn Thạc sĩ, Đại học kinh tế TP. Hồ Chí Minh). GIÁM ĐỐC PHÓ PGĐ KHÁCH PHÓ GIÁM GIÁM PHÓ GIÁM ĐỐC HÀNG CÁ ĐỐC KỸ ĐỐC HẠ PHÓ GIÁM KHÁCH HÀNG NHÂN VÀ HỘ THUẬT TẦNG ĐỐC TỐI ƯU DOANH NGHIỆP GIA ĐÌNH PHÒNG TÀI PHÒNG KẾ PHÒNG TỔ PHÒNG KINH CHÍNH PHÒNG HOẠCH HÀNH CHỨC LAO DOANH DI CHÍNH TRỊ CHÍNH ĐỘNG ĐỘNG PHÒNG PHÒNG KINH PHÒNG PHÒNG HẠ PHÒNG THIẾT KẾ CHĂM SÓC DOANH CỐ KỸ THUẬT TẦNG TỐI ƯU KHÁCH ĐỊNH HÀNG 24 TRUNG TÂM VIETTEL QUẬN/ HUYỆN Hình 1.1 Sơ đồ tổ chức Viettel Hồ Chí Minh 9 1.
Đặc điểm hoạt động kinh doanh tại Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh Ngành nghề kinh doanh của Chi Nhánh Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh bao gồm: Những ngành. nghề kinh doanh của VIETTEL được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định 101/2014/NĐ-CP về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Viễn thông Quân đội. Ngành, nghề kinh doanh chính: Viễn thông, công nghệ thông tin, truyền hình, sản phẩm viễn thông, truyền thông như sau: Dịch vụ truy cập internet băng thông rộng ADSL, truy cập internet tốc độ cao thông qua đường truyền cáp quang. Dịch vụ điện thoại cố định có dây PSTN, không dây homephone Dịch vụ internet thông qua thiết bị không dây như USB 3G, 4G có gắn sim D-Com Viettel.
Dịch vụ truyền hình số thông qua các đường truyền internet tốc độ cao ( ADSL, FTTH). Dịch vụ di động trả trước và trả sau. Dịch vụ quản lý và giám sát hành trình xe trực tuyến. Dịch vụ chữ ký số điện tử và các giải pháp công nghệ thông tin dành cho khách hàng doanh nghiệp.
Phân phối và bán các sản phẩm đầu cuối mang thương hiệu Viettel. Bối cảnh ngành viễn thông Ngành viễn thông tại Việt Nam là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn và có tiềm năng phát triển vượt bậc, rút ngắn được khoảng cách so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Từ năm 1986 thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra, ngành Bưu chính, Viễn thông đã dũng cảm xây dựng và triển khai chiến lược đột phá với phương châm chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế ‘tự vay, tự trả, tự chịu trách nhiệm”. Nhanh chóng khẳng định được vị thế vững chắc, ngành viễn thông ở giai đoạn năm 1993 - 2000 với phương châm “đi thẳng vào công nghiệp hiện đại” và “lấy ngoài nuôi trong”, đạt được mục tiêu số hóa hoàn toàn mạng lưới viễn thông, phát triển các dịch vụ mới, mở rộng phạm vi hoạt động đến vùng nông thôn(Đinh Thị Kim Xuyến(2014), Công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông di động Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học Viện Tài Chính).
Chiến lược phát triển Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 (“chiến lược cất cánh”) thể hiện tinh thần chủ động chuẩn bị tích cực của Việt nam để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với phát triển kinh tế tri thức(Đinh Thị Kim Xuyến(2014), Công tác kế toán quản trị chi phí và giá thành tại các doanh nghiệp viễn thông di động Việt Nam, Luận án Tiến sĩ, Học Viện Tài Chính). Trong giai đoạn hiện nay, với tình hình phát triển kinh tế và biến động trên thế giới đã tạo ra nhiều thách thức cho các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam trong mục tiêu giữ vững thị phần, bảo đảm mục tiêu doanh thu và phát triển bền vững.5 Bối cảnh của Viettel TP. Hồ Chí Minh Viettel TP. Hồ Chí Minh – Chi Nhánh Tập Đoàn Công Nghiệp – Viễn Thông Quân Đội là chi nhánh công ty mới thành lập từ năm 2010, ra đời với chức năng cung cấp các dịch vụ viễn thông, dịch vụ truyền dẫn, dịch vụ truyền hình số liệu, dịch vụ chữ ký số cho các doanh nghiệp, cá nhân trong khu vực Hồ Chí Minh.
Viettel Thành Phố Hồ Chí Minh đang áp dụng hệ thống kế toán doanh thu, chi phí thông thường ( kế toán tài chính) trong thực trạng các khoản phát sinh doanh thu, chi phí tập hợp về tại một chi nhánh Viettel TP. Hồ Chí Minh, điều này dẫn đến thông tin báo cáo bộ phận chưa xác thực tại trung tâm Viettel(TTVT) quận, cũng như chưa thực hiện báo cáo được thông tin về kết quả kinh doanh theo hình thức số dư đảm phí(SDĐP) cho bộ phận cho từng TTVT Viettel quận, huyện. Từ đó dẫn đến việc cung cấp thông tin thành quả hoạt động kinh doanh tại TTVT quận, huyện của chi nhánh Viettel TP. Hồ Chí Minh(Viettel TP.
HCM) chưa có thông tin chính xác điều này ảnh hưởng đến việc ra quyết định quản trị chiến lược của doanh nghiệp. Sự cần thiết phải vận dụng báo cáo bộ phận tại Viettel TP. Hồ Chí Minh Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, thông tin kế toán đòi hỏi phải chính xác, chi tiết và báo cáo đúng và đầy đủ từng bộ phận, trung tâm, cửa hàng. Để nhà quản lý chi nhánh Viettel ra quyết định kịp thời, đúng và chính xác, Viettel TP.
HCM đang áp dụng mô hình kế toán chi phí theo phương pháp thông thường (kế toán tài chính), báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh tại Chi nhánh Viettel TP. HCM là một báo cáo tổng hợp cho cả chi nhánh và là báo cáo lợi nhuận thuần tổng hợp từ các trung trâm quận huyện, chưa thực hiện báo cáo bộ phận theo hình thức số dư đảm phí, dẫn đến thiêú thông tin để đánh giá chính xác thành quả hoạt động của các bộ phận trung tâm Viettel quận, huyện. Bên cạnh đó ban giám đốc 12 chi nhánh củng chưa có chỉ tiêu để đánh giá chính xác được thành quản lý của các giám đốc TTVT quận, huyện. Do đó, vấn đề cần giải quyết tại đơn vị là tìm hiểu báo cáo bộ phận và phân tích báo cáo bộ phận trong kế toán quản trị và thực tiễn, nhằm giải quyết vấn đề phân bổ chi phí, tổng hợp doanh thu cho các bộ phận, trung tâm tại đơn vị, mà vấn đề cần quan tâm và giải quyết trước mắt đó là phải theo dõi báo cáo bộ phận theo hình thức số dư đảm phí cho từng bộ phận, trung tâm nhằm giúp nhà quản lý đánh giá được kết quả bộ phận, trung tâm và đánh giá thành quả quản lý của nhà quản trị bộ phận.
Tóm tắt chương 1 Nội dung chương bao gồm: giới thiệu tổng quan về Viettel TP. HCM, sơ đồ tổ chức của đơn vị, ngành nghề kinh doanh của đơn vị, bối cảnh ngành viễn thông, bối cảnh của Viettel TP. Sự cần thiết giải quyết tại doanh nghiệp là vận dụng BCBP theo hình thức số dư đảm phí để đánh giá thành quả hoạt động của các bộ phận tại Viettel TP. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÁO CÁO BỘ PHẬN VÀ ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG THÔNG QUA BÁO CÁO BỘ PHẬN 2.1 Tổng quan về bộ phận Bộ phận là một phần hoặc hoạt động của một tổ chức mà người quản lý muốn có được doanh thu, chi phí hoặc lợi nhuận ( MaGarrison, Noreen và Brewer, 2014).2 Nghiên cứu về báo cáo bộ phận trên thế giới Đến nay có rất nhiều tài liệu cũng như công trình nghiên cứu về phương pháp báo cáo bộ phận tại nhiều quốc gia trên thế giới.
Trong nghiên cứu “Management accounting”, (Alkinson, Kaplan, Matsumura & Young, 2012) đã đề cập đến kế toán gồm: Việc thu thập thông tin, lập báo cáo và đánh giá thành quả hoạt động của bộ phận, cung cấp cho các cấp quản lý về thành quả hoạt động trong doanh nghiệp. Hệ thống thông tin được tập hợp để phân tích và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp, việc đánh giá thành quả hoạt động là trách nhiệm của các bộ phận và là trách nhiệm của nhà quản lý bộ phận. Mỗi bộ phận phải lập của bộ phận trình cấp quản trị cấp cao hơn về các hoạt động phát sinh tại bộ phận mình, thành quả nghiên cứu đã làm rõ sự cần thiết cuả báo cáo trách nhiệm trong công tác quản trị doanh nghiệp, các nhà quản trị cấp cao sẽ sử dụng thông tin từ những báo cáo này để đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức.