Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và cơ sở lý luận về mối tương quan giữa hệ số Beta với tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 — 2021. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. $Chương 3: Tổng quan thị trường chứng khoán, thực trang thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 — 2021 và Kết quả phân tích mối tương quan giữa hệ số beta (B) và tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. $Chương 4: Kết luận rút ra và một số khuyến nghị từ nghiên cứu mối quan hệ giữa hệ số beta (B) và tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
“kK ét luận. TONG QUAN TÀI LIEU NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MOI QUAN HỆ GIỮA HE SO BETA VÀ TỶ SUÁT SINH LOI CUA DOANH NGHIEP TREN SAN CHUNG KHOAN 1. Cơ sở lý luận về thị trường chứng khoán 1. Khát niệm thị trường chứng khoán Thị trường chứng khoán (TTCK) là một yếu tố không thé thiếu trong nền kinh tế hiện nay.
Hầu hết các quốc gia trên thế giới hiện nay đều có TTCK. Đối với các nước phát triển thì TTCK đã có tuổi đời hàng trăm năm, nó đóng góp không nhỏ vào việc phát triển kinh tế của đất nước. Thị trường chứng khoán là nơi để những người có nhu cầu giao dịch mua bán chứng khoán thực hiện nhu cầu của mình. Có hai dạng thị trường, một là thị trường sơ cấp/ thị trường phi tập trung — đây là nơi người mua và người bán tự tìm kiếm vào giao dịch với nhau thông qua các hợp đồng dân sự, và không có cơ quan, tổ chức nào quản lý, hướng dẫn, đảm bảo cho các giao dịch này.
Hai là thị trường chứng khoán thứ cấp/ thị trường tập trung — đây thị trường mà các giao mua bán của những người tham gia thị trường được tập trung lại và chịu sự quản ly của các tổ chức có thẩm quyền của nhà nước nhằm đảm bảo tính minh bạch, an toàn, bảo vệ lợi ích của các thành viên tham gia trên thị trường.Các chức năng cơ bản của thị trường chứng khoán Huy động vốn dau tư cho nên kinh tế: Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội. Cung cấp môi trường dau tư cho công chúng: TTCK cung cấp cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thê lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.
Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp: Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tong hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, cải tiễn sản phẩm Tạo môi trường giúp Chính phú thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô: Các chỉ báo của TTCK phan ánh động thái cua nền kinh tế một cách nhạy bén va chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng: ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Vì thế, TTCK được gọi là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua 7 TTCK, Chính phủ có thé mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát.
Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán: Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thé chuyén đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ muốn. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy tính linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư.
TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.Rúi ro thị trường chứng khoán Rui ro trong TTCK là tính không chắc chắn của lợi suất kỳ han nam giữ trong tương lai. Rủi ro được chia thành 2 loại rủi ro hệ thống (systematic risk) và rủi ro phi hệ thông (unsystematic risk). Rui ro hệ thống là những biến động do các yếu tô đến từ bên ngoài công ty, không kiểm soát được và nó mang tinh vĩ mô, ảnh hưởng lớn đến hau hết các yếu tố trong nền kinh tế. Nó tác động đồng loạt và cùng chiều lên một lượng lớn tài sản nhưng với mức độ khác nhau, và được đo lường băng hệ số beta (B).
Rui ro hệ thống là rủi ro mà mọi chứng khoán giao dịch trên thị trường phải đối mặt và các nhà đầu tư không thé đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình để tránh rủi ro hệ thống. Rủi ro hệ thống được chia làm 3 loại: - ủi ro thị trường: đây là loại rủi ro xuất phát từ sự biến động giá của các chứng khoán trên thị trường. Giá của những chứng khoán này biến động lớn trong một khoảng thời gian nhất định thường là rất ngắn mặc dù các yếu tổ nội tải của doanh nghiệp không có sự thay đổi nhiều. Sự biến động này thường đến từ tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư tham gia thị trường.
Tâm lý bất ôn có thể đến từ những sự kiện hữu hình đến từ bên ngoài, có thé là các yếu tố biến động địa chính trị, thiên tai,. hoặc đến từ những biến động vô hình như tâm lý đám đông, hiệu ứng FOMO (Fear of missing out) cua thị trường. Những thứ này ảnh hưởng đến tâm ly nhà dau tư va đã tạo ra sự gia tăng lượng lớn cung — cầu trong ngắn hạn khiến thị trường biến động; - Rui ro lãi suất: đây là sự bién động của giá chứng khoán trên thị trường do sự thay đôi về lãi suất hoặc nói cách khác là do biến động tỷ suất sinh lời của các tài sản khác. Sự biến động này bắt nguồn từ sự biến động về tỷ suất sinh lời của trái phiếu chính phủ.
Việc lợi suất trái phiếu biến động sẽ tác động dién tỷ suất sinh lời kỳ vọng của các nhà dau tư tham gia thị trường với các loại tài sản khác, néu mức tỷ suất sinh lời kỳ vọng với trái phiếu chính phủ giảm thì các nhà đầu tư sẽ phải tìm tài sản khác dé thay thế nhằm bù đắp tỷ suất sinh lời kỳ vọng và tạo ra sự biến động trên thị trường; — Núi ro sức mua: Các rủ ro trước là những rủi ro ảnh hưởng đến việc biến động khả năng sinh lời của khoản đầu tư thì rủi ro này lại ảnh hưởng đến việc thay đổi sức mua của đồng tiền hay nói cách khác là ảnh hưởng của lạm phát. Nếu lạm phát biến động lớn hơn tỷ suất sinh lời của nhà đầu tư thì việc đầu tư đó không mang lại hiệu quả. Trái với rủi ro hệ thống thì rủi ro phi hệ thống là rủi ro xuất phát từ nội tại doanh nghiệp hoặc rộng hơn là liên quan đến ngành nghề kinh doanh liên quan đến doanh nghiệp và sẽ tác động đến tỷ suất sinh lời của các chứng khoán đó. Nhưng những tác động này chỉ tác động đến công ty hoặc các công ty cùng ngành, nó mang tính nhỏ hẹp, không anh hưởng đến toàn bộ các nhân tô trong nền kinh tế như rủi ro hệ thống và có thể giảm thiểu rủi ro này bằng cách đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Rủi ro này được phân thành 2 loại: _ Núi ro kinh doanh: là rủi ro đến từ tình hình hoạt động kinh doanh của công ty, khi có sự biến động đến kết quả hoạt động kinh doanh của công ty. Có thé sự thay đôi đó đến từ đường lối của Ban lãnh đạo, chu kỳ kinh doanh, đối thủ cạnh tranh,. -_ ủi ro tài chính: liên quan đến việc công ty tài sử dụng nguồn vốn của chính mình. Nhà đầu tư thường cân nhắc tình hình doanh nghiệp bằng việc xem xét cấu trúc vốn của một công ty.
Công ty có các khoản nợ trong cấu trúc vốn sẽ tạo ra cho công ty áp lực chi phi tài chính rất lớn và nó có tác động lớn đến thu nhập của cô đông. Do vậy, một công ty không vay nợ chút nào sẽ không có rủi ro tài chính. Téng quan nghiên cứu Mô hình CAPM nói chung và hệ số Ð nói riêng từ khi ra đời đã được rat nhiều nhà nghiên cứu sử dung dé phân tích với mối quan hệ của chúng đối với thị trường chứng khoán. Dưới đây là một vài ví dụ: Tại Mỹ, tác giả Billou (2004) cho thấy trên thị trường Mỹ cho thay là R’ của CAPM trên thị trường Mỹ là 77% và của Fama French là 88%.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy là cả 2 mô hình đều áp dụng được trên thị trường chứng khoán Mỹ tuy nhiên mô hình Fama French hiệu quả hơn mô hình CAPM trong việc giải thích về tỷ suất sinh lời của các doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Mỹ. Ở thị trường Trung Quốc, công trình nghiên cứu của Han và cộng sự (2019) đã chỉ ra rằng tâm lý của các nhà đầu tư ở TTCK Trung Quốc là với các cổ phiếu có mức hệ số beta càng cao sẽ được giao dịch càng nhiều.