Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và các nội dung nghiên cứu chính. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và đề xuất 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lời Quản trị vốn luân chuyển liên quan đến việc quản trị các thành phần của chu kỳ luân chuyển tiền mặt vì chu kỳ luân chuyển tiền mặt được sử dụng để đo lường hiệu quả quản trị vốn luân chuyển (Mussawi, Laplaute và Kieschnick, 2006). Công thức chu kỳ luân chuyển tiền mặt: CCC = RCP + ICP - PDP Trong đó: CCC: Chu kỳ luân chuyển tiền mặt RCP: Kỳ thu tiền bình quân ICP: Kỳ luân chuyển hàng tồn kho PDP: Kỳ thanh toán bình quân 2.1 Quản trị các khoản phải thu và lợi nhuận Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa hoặc dịch vụ.
Có thể nói hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi. Kiểm soát khoản phải thu liên quan đến việc đánh đổi giữa lợi nhuận và rủi ro. Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó mất đi lợi nhuận. Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều thì chi phí cho khoản phải thu tăng có nguy cơ phát sinh 6 các khoản nợ khó đòi, do đó rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
Vì vậy, doanh nghiệp cần có chính sách bán chịu phù hợp.2 Quản trị hàng tồn kho và lợi nhuận Hàng tồn kho là tất cả những nguồn lực dự trữ nhằm đáp ứng cho nhu cầu hiện tại hoặc tương lai. Hàng tồn kho không chỉ có tồn kho thành phẩm mà còn có tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho nguyên vật liệu/linh kiện và tồn kho công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất…Trong một doanh nghiệp, hàng tồn kho bao giờ cũng là một trong những tài sản có giá trị lớn trên tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp đó. Chính vì lẽ đó, việc kiểm soát tốt hàng tồn kho luôn là một vấn đề hết sức cần thiết. Bởi vì khi mức tồn kho quá nhiều sẽ dẫn đến chi phí tăng cao; đối với một số hàng hoá nếu dự trữ quá lâu sẽ bị hư hỏng, hao hụt, giảm chất lượng… Điều này sẽ gây khó khăn trong việc cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường.
Ngược lại, lượng tồn kho không đủ sẽ làm giảm doanh số bán hàng (đối với hàng tồn kho là thành phẩm), ngoài ra có thể dẫn đến tình trạng khách hàng sẽ chuyển sang mua hàng của đối thủ cạnh tranh khi nhu cầu của họ không được đáp ứng. Do đó, các nhà quản lý sản xuất phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc trữ hàng tồn kho vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.3 Quản trị các khoản phải trả và lợi nhuận Khoản phải trả là nghĩa vụ của doanh nghiêp phải trả toàn bộ số nợ ngắn hạn của mình cho các chủ nợ.Tuy nhiên, đây cũng là khoản tiền doanh nghiệp có thể chiếm dụng của nhà cung cấp, đây là nguồn tài trợ ngắn hạn ít tốn kém chi phí sử dụng vốn.Quản trị các khoản phải trả liên quan đến những điều khoản thanh toán với nhà cung cấp. Nếu doanh nghiệp kéo dài thời gian thanh toán sẽ làm giảm áp lực cho dòng tiền hoạt động, từ đó giảm chi phí sử dụng vốn, tăng lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, 7 các nhà quản trị nên cân nhắc khi kéo dài thời gian thanh toán này vì có thể làm mất uy tín và lợi nhuận công ty trong dài hạn.4 Chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận Theo quan điểm truyền thống về mối quan hệ giữa chu kỳ luân chuyển tiền mặt và lợi nhuận của công ty thì trong trường hợp các yếu tố khác không đổi, một chu kỳ luân chuyển tiền mặt dài hơn sẽ làm tổn hại đến lãi từ hoạt động kinh doanh của công ty.
Việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty bởi vì nó cải thiện hiệu quả của việc sử dụng vốn luân chuyển. Do đó, bằng cách giảm thời gian tiền mặt bị ứ đọng trong vốn luân chuyển, công ty có thể hoạt động hiệu quả hơn. Chu kỳ luân chuyển tiền mặt có thể được rút ngắn bằng cách giảm thời gian chuyển đổi hàng tồn kho qua việc xử lý và bán hàng hóa nhanh hơn hoặc bằng cách giảm thời gian thu tiền khách hàng qua việc tăng tốc thu hồi nợ hoặc bằng cách kéo dài thời gian thanh toán qua việc trì hoãn trả nợ cho nhà cung cấp. Bất kỳ sự tăng hay giảm các thành phần của vốn luân chuyển đều có tác động tương ứng đến lợi nhuận của công ty.
Giữ một sự cân bằng tối ưu giữa mỗi thành phần vốn luân chuyển là mục tiêu chính của quản trị vốn luân chuyển. Lamberson (1995) chỉ ra rằng hầu hết thời gian và nỗ lực quản lý tài chính được sử dụng trong việc xác định mức độ chưa tối ưu của tài sản ngắn hạn và nợ phải trả và mang chúng đến mức tối ưu. Một mức độ tối ưu của vốn luân chuyển là một sự cân bằng giữa rủi ro và hiệu quả. Nó yêu cầu giám sát liên tục để duy trì mức độ tối ưu của các thành phần khác nhau của vốn luân chuyển chẳng hạn như các khoản phải thu tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải nộp (Afza và Nazir, 2009).
Cách thức mà vốn luân chuyển được quản lý có thể tác động đáng kể lên cả khả năng thanh khoản và sinh lợi của công ty (Deloof, 2003). Các quyết định theo hướng tối đa hóa lãi từ hoạt động kinh doanh sẽ làm tối thiểu hóa khả năng thanh khoản tương xứng. Ngược lại, tập trung hoàn toàn vào thanh khoản sẽ tạo xu hướng làm giảm lãi từ hoạt động kinh doanh tiềm năng của công ty. 8 Công thức chu kỳ luân chuyển tiền mặt: CCC = RCP + ICP - PDP Dựa trên công thức này, mục tiêu của các nhà quản trị là rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt để doanh nghiệp có thể tối giảm chi phí tài chính dành cho vốn lưu động.
Mục tiêu này trước hết có thể thực hiện qua việc tăng cường hiệu năng hoạt động bằng cách rút ngắn thời gian thu hồi công nợ (giảm số ngày khoản phải thu) hoặc nhanh chóng giải phóng hàng tồn kho, khẩn trương đưa nguyên vật liệu vào dây chuyền sản xuất (giảm số ngày hàng tồn kho). Ngoài ra, việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt còn có thể thực hiện qua việc thương thảo với các nhà cung ứng, kéo dài thời gian công nợ, đây là việc hoàn toàn phụ thuộc vào năm lực đàm phán của nhà quản trị. Một số doanh nghiệp có chu kỳ luân chuyển tiền mặt “âm”, có nghĩa là doanh nghiệp không cần sử dụng vốn lưu động mà còn có thể tạo ra doanh thu tài chính nhờ “chiếm dụng” được vốn lưu động của nhà cung ứng. Từ đó, việc rút ngắn chu kỳ luân chuyển tiền mặt sẽ làm tăng lợi nhuận của công ty bởi vì nó cải thiện hiệu quả sử dụng vốn luân chuyển.
Tóm lại, quản trị vốn luân chuyển đóng một vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp, nó có thể tác động đến sự thành công hay thất bại của công ty trong kinh doanh bởi vì quản trị vốn luân chuyển ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. Vì thế, chúng ta cần nghiên cứu sự ảnh hưởng của từng thành phần của vốn luân chuyển đến lợi nhuận của doanh nghiệp để từ đó có cách xử lý thích hợp nhằm duy trì các thành phần của nó ở mức độ tối ưu.2 Những nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và tỷ suất sinh lời Tác giả Shin và Soenen (1998) nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng tạo ra giá trị cho cổ đông. Các tiêu chuẩn đo lường cho quản trị 9 vốn luân chuyển là chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC). Chu kỳ chuyển đổi tiền mặt phản ánh khoảng thời gian giữa chi tiền ra và thu lại tiền mặt.
Nó được đo bằng cách ước lượng thời gian chuyển đổi hàng tồn kho và thời gian chuyển đổi các khoản phải thu, trừ đi thời gian chuyển đổi các khoản phải trả. Trong nghiên cứu của mình, tác giả Shin và Soenen (1998) sử dụng chu kỳ giao dịch thực như một thước đo quản trị vốn luân chuyển. Chu kỳ giao dịch thực về cơ bản là tương đương với chu kỳ chuyển đổi tiền mặt (CCC), là cái mà tất cả ba thành phần được tính theo tỷ lệ phần trăm doanh thu. Chu kỳ giao dịch thực có thể đại diện cho nhu cầu vốn lưu động bổ sung là một thành phần trong mô hình dự báo tỷ lệ tăng trưởng doanh thu.
Họ kiểm tra mối quan hệ này bằng cách sử dụng phân tích tương quan và hồi quy, theo ngành công nghiệp, và quy mô vốn. Sử dụng một mẫu gồm 58.985 công ty từ Compustat cho giai đoạn 1975- 1994, họ đã tìm thấy một mối quan hệ tương quan nghịch mạnh mẽ giữa chiều dài của chu kỳ giao dịch thực của công ty và khả năng sinh lợi của công ty đó. Dựa vào kết quả đó, họ cho rằng một trong những cách có thể làm gia tăng giá trị cổ đông là giảm chu kỳ giao dịch thực của doanh nghiệp. Tác giả Deloof (2003) đã điều tra các mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi doanh nghiệp trên một mẫu gồm 1009 công ty phi tài chính lớn của Bỉ trong giai đoạn 1992-1996.
Tác giả sử dụng chỉ tiêu thu nhập gộp từ hoạt động kinh doanh để đo lường khả năng sinh lợi, từ đó tìm kiếm mối quan hệ với vòng quay chuyển đổi tiền mặt. Thông qua phân tích tương quan và phân tích hồi quy, ông đã tìm thấy rằng có mối quan hệ nghịch biến giữa khả năng sinh lợi và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt và các thành phần của nó như kỳ thu tiền, kỳ trả tiền bình quân và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Trên cơ sở đó ông đề xuất rằng các nhà quản lý có thể tăng khả năng sinh lợi bằng cách giảm kỳ thu tiền và thời gian chuyển đổi hàng tồn kho. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng cho thấy các công ty lớn thường tập trung vào quản lý tiền ngày càng nhiều hơn.