Luận án các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất việt nam

Khám phá các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp sản xuất Việt Nam. Tìm hiểu sâu sắc và chi tiết.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2020

156
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

1.2. Mục tiêu, phạm vi, câu hỏi nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.2. Phạm vi nghiên cứu

1.2.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.3. Khung nghiên cứu

1.4. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

2.1. Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp

2.2. Vai trò của đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

2.3. Các loại thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

2.4. Yêu cầu và nguyên tắc xây dựng hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp sản xuất Việt Nam

Hiệu quả hoạt động (hiệu quả hoạt động) của các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam đang là một vấn đề cấp thiết. Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, gần 56% doanh nghiệp lỗ hoặc hòa vốn, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện năng lực cạnh tranh và hiệu quả quản trị. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động bao gồm quản lý sản xuất, chiến lược kinh doanh, và năng suất lao động. Đo lường hiệu quả hoạt động là một chức năng quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị có cái nhìn tổng quan về tình hình hoạt động và đưa ra quyết định kịp thời.

1.1. Tầm quan trọng của việc đo lường hiệu quả hoạt động

Đo lường hiệu quả hoạt động (hiệu quả hoạt động) không chỉ giúp doanh nghiệp đánh giá được tình trạng hiện tại mà còn dự đoán được sự thành công trong tương lai. Theo Kaplan (1996), hệ thống đo lường có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của mọi cá nhân trong doanh nghiệp. Việc áp dụng các chỉ tiêu đo lường phù hợp sẽ tạo động lực cho nhân viên và khuyến khích họ hoạt động hiệu quả hơn. Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động cần phải được xây dựng dựa trên các yêu cầu và nguyên tắc nhất định để đảm bảo tính chính xác và khả thi trong thực tiễn.

1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động

Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam bao gồm quản lý sản xuất, chiến lược kinh doanh, và năng suất lao động. Quản lý sản xuất hiệu quả giúp tối ưu hóa quy trình và giảm chi phí sản xuất. Chiến lược kinh doanh cần phải linh hoạt để thích ứng với biến động của thị trường. Năng suất lao động cũng là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc cải thiện các nhân tố này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.

II. Đánh giá hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động

Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động hiện tại tại Việt Nam chủ yếu dựa vào các chỉ tiêu tài chính, điều này dẫn đến nhiều hạn chế trong việc đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động. Các chỉ tiêu tài chính thường chỉ phản ánh tình hình trong quá khứ và không cung cấp thông tin dự đoán cho tương lai. Do đó, cần thiết phải phát triển các chỉ tiêu phi tài chính để có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

2.1. Hạn chế của hệ thống đo lường hiện tại

Hệ thống đo lường hiện tại tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, chủ yếu tập trung vào các chỉ tiêu tài chính. Điều này dẫn đến việc không phản ánh đúng tình hình thực tế và không khuyến khích các hoạt động cải tiến. Theo Neely (1999), các hệ thống đo lường hiện đại cần phải kết hợp giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính để đảm bảo tính chính xác và khả thi trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động.

2.2. Đề xuất cải tiến hệ thống đo lường

Để nâng cao hiệu quả hoạt động, các doanh nghiệp cần thiết kế và triển khai hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động phù hợp. Hệ thống này cần bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, giúp các nhà quản trị có cái nhìn tổng quan và đưa ra quyết định chính xác. Việc áp dụng các chỉ tiêu phi tài chính sẽ giúp doanh nghiệp dự đoán được xu hướng thị trường và cải thiện năng lực cạnh tranh.

III. Kết luận và khuyến nghị

Nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất Việt Nam là một nhiệm vụ cấp thiết. Các doanh nghiệp cần phải cải thiện hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động để có thể tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Việc áp dụng các chỉ tiêu đo lường hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp có cái nhìn toàn diện về tình hình hoạt động và đưa ra quyết định kịp thời.

3.1. Tầm quan trọng của việc cải thiện hiệu quả hoạt động

Cải thiện hiệu quả hoạt động không chỉ giúp doanh nghiệp nâng cao vị thế cạnh tranh mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Doanh nghiệp cần phải đầu tư vào công nghệ và quản trị hiện đại để nâng cao năng suất lao động và hiệu quả sản xuất.

3.2. Khuyến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần nghiên cứu và áp dụng các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động phù hợp, kết hợp giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính. Đồng thời, cần có các giải pháp hỗ trợ từ chính phủ để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã giới thiệu sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu phục vụ cho việc triển khai nghiên cứu ở các chương sau. 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN VIỆC SỬ DỤNG CÁC THƯỚC ĐO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP 2. Hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động trong các doanh nghiệp 2. Vai trò của đo lường hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Hiệu quả kinh doanh hay hiệu quả hoạt động (HQHĐ) ở phạm vi rộng hơn là vấn đề được quan tâm của mỗi nhà quản trị.

HQHĐ thường được đánh giá bằng sách so sánh giữa kết quả thu được từ hoạt động của một cá nhân hoặc bộ phận cụ thể và so sánh nó với tiêu chuẩn, định mức hoặc thực tế tốt nhất. Quá trình quản trị thường được thực hiện theo các bước: đo lường – phân tích (đánh giá) – kiểm soát và quyết định (Agrawal, 2006). Quá trình đánh giá HQHĐ được bắt đầu bằng đo lường HQHĐ thông qua các chỉ tiêu đo lường. Một chỉ tiêu đo lường HQHĐ được định nghĩa là một thước đo được sử dụng để định lượng hiệu suất hoặc hiệu quả của hành động (Kennerley & Neely, 2002).

Một hệ thống đo lường HQHĐ là một tập hợp các thước đo được sử dụng để định lượng cả hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động (Neely et al. Để đánh giá được HQHĐ của doanh nghiệp người ta phải đo lường được chúng. Do vậy, đo lường và đánh giá HQHĐ gắn bó hữu cơ với nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Nếu không đo lường được HQHĐ thì không thể đánh giá được HQHĐ.

Ngược lại, nếu doanh nghiệp không đánh giá HQHĐ thì cũng không đặt ra nhu cầu phải đo lường HQHĐ. Đo lường HQHĐ là một chức năng quan trọng của quản trị. Nếu không đánh giá được thì cũng không cải thiện được (Agrawal, 2006). Thông qua đo lường HQHĐ, các nhà quản trị biết được HQHĐ của từng cá nhân, từng bộ phận trong doanh nghiệp để có các biện pháp khuyến khích, tạo động lực đối với các cá nhân và bộ phận hoạt động hiệu quả, đồng thời có các biện pháp điều chỉnh đối với các cá nhân và bộ phận hoạt động chưa hiệu quả.

Đo lường HQHĐ cũng giúp cho các nhà quản trị biết được tình trạng hoạt động của doanh nghiệp và dự đoán sự thành công của doanh nghiệp trong tương lai. Như vậy, có thể nói, đo lường HQHĐ có vai trò quan trọng trong quản trị doanh nghiệp, ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn. Trong điều kiện nguồn lực ngày càng khan hiếm, đo lường HQHĐ trở thành công cụ không thể thiếu được của các nhà quản trị. "Muốn cải thiện thì phải đo lường được.

Bạn không thể cải thiện được nếu không đo lường được nó" (Agrawal, 2006). Nói về vai trò của đo lường HQHĐ, Franceschini và cộng sự (2007) cho rằng: “không thể quản lý 8 được một hệ thống nếu như không đo lường được hiệu suất hoạt động của nó” (Franceschini, 2007, tr. Đồng tình với quan điểm trên, Schiemann và Lingle cũng cho rằng: “nếu không đo lường được hiệu suất của một hoạt động thì bạn không thể kiểm soát được nó. Nếu bạn không kiểm soát được nó thì bạn không thể quản lý được nó" (Schiemann và Lingle, 1991).

Thậy vậy, nếu nhà quản trị không đo lường được HQHĐ của các cá nhân và bộ phận trong doanh nghiệp thì cũng không thể kiểm soát được hoạt động của chúng và chức năng khuyến khích, tạo động lực trong doanh nghiệp cũng không thực hiện được. Hệ thống đo lường HQHĐ không chỉ giúp cho các nhà quản trị kiểm soát được hoạt động của doanh nghiệp mà còn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp và tác động đến sự thành công của chiến lược, làm thay đổi văn hóa doanh nghiệp. Đo lường một chỉ số cụ thể sẽ tạo ra các hành vi có mục tiêu tối đa hóa hiệu suất của chỉ số, bất kể ảnh hưởng của nó đến toàn bộ tổ chức như thế nào (Zairi, 1995). Kaplan và Norton (2001) cũng cho rằng: “hệ thống đo lường HQHĐ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi của mọi cá nhân bên trong và bên ngoài DN” và “đánh giá hiệu suất là cơ sở để xác định mục tiêu chiến lược, cải tiến liên tục cũng như một phương tiện để thay đổi văn hóa” (Kaplan, 1992).

Hệ thống đo lường HQHĐ không chỉ có vai trò quan trọng trong việc đạt được mục tiêu ngắn hạn mà có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp. Đánh giá vai trò quan trọng của đo lường HQHĐ trong việc thực hiện mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp, Simon (2000) khẳng định: "Để đạt được các mục tiêu tài chính và phi tài chính, các nhà quản lý phải dựa vào nỗ lực và sáng kiến của nhân viên. Nhân viên toàn bộ tổ chức phải hiểu chiến lược của doanh nghiệp và vai trò của họ trong việc đạt được mục tiêu chiến lược quan trọng" Simons (2000, tr. Neely (1998) đưa ra kết luận về vai trò của đo lường HQHĐ như sau: (1) Đánh giá vị thế.

Thiết lập tình trạng hiện tại, giám sát theo thời gian và điểm chuẩn. Đây có thể là một yêu cầu các công ty phải báo cáo hàng năm để khách hàng hoặc nhân viên đánh giá vị thế, đồng thời cũng như một phương tiện tiếp thị. Các chỉ tiêu đánh giá HQHĐ cung cấp sự hiểu biết sâu sắc những vấn đề quan trọng đối với một doanh nghiệp, bộc lộ những thiếu sót cần khắc phục và tập trung vào những gì cần ưu tiên. (4) Tạo ra sự tập trung.

Các thước đo có thể giúp tổ chức tập trung vào các vấn 9 đề cụ thể và khuyến khích mọi người tìm kiếm các cách thức để thay đổi và cải thiện hiệu quả. Các thước đo truyền đạt các ưu tiên và có thể là cơ sở cho khen thưởng (Neely, 1998). Các loại thước đo hiệu quả hoạt động trong doanh nghiệp Nhận thức được vai trò của các chỉ tiêu đo lường HQHĐ trong quản trị doanh nghiệp, trong hơn 30 năm qua, nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống đo lường HQHĐ trong các doanh nghiệp đã được thực hiện. Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trước năm 1980, các thước đo HQHĐ được sử dụng chủ yếu là các thước đo tài chính.

Các thước đo này dựa trên các dữ liệu do hệ thống kế toán cung cấp. Tuy nhiên các tác giả khác như Kaplan & Norton (1992, 1996); Chenhall (1997); Perera, Harrison & Poole (1997); Ittner, Larcker & Rajan (1997); Ittner & Larcker (1998); Otley, (1999) Banker, Potter & Srinivasan (2000) đều chỉ ra hạn chế của các thước đo tài chính. Các tác giả này đều cho rằng các thước đo tài chính tập trung vào phạm vi hạn hẹp trong quá khứ, lạc hậu, không cung cấp được thông tin để dự đoán hiệu suất trong tương lai, dẫn đến khen thưởng cho hành vi tạm thời hoặc dẫn đến quyết định quản lý không chính xác do không có được thông tin đầy đủ. Đo lường HQHĐ dựa trên các thước đo tài chính được coi là không phù hợp với những thay đổi gần đây về môi trường kinh doanh, đặc biệt liên quan đến các công nghệ mới và cạnh tranh gia tăng (Kaplan và Norton, 1992).

Đo lường HQHĐ còn bị chỉ trích nhiều hơn vì nó thường tập trung vào các tiêu chí dễ định lượng như chi phí và năng suất, trong khi bỏ qua các tiêu chí quan trọng đối với sự thành công của cạnh tranh (Sink, 1985). Đề cập đến những hạn chế của hệ thống các chỉ tiêu đánh giá bằng thước đo tài chính, Bourne và cộng sự. 10 Kaplan và Norton cũng cảnh báo về việc quá phụ thuộc vào hệ thống đo lường HQHĐ dựa vào các thước đo tài chính: "Nếu các nhà quản lý cấp cao chú trọng quá nhiều vào việc quản lý bằng thước đo tài chính, khả năng tồn tại lâu dài của tổ chức sẽ bị đe dọa" (Kaplan và Norton, 1996). Nhằm khắc phục những hạn chế của các thước đo HQHĐ dựa trên tài chính, từ sau năm 1980 nhiều thước đo phi tài chính đã được phát triển và sử dụng.

Các thước đo phi tài chính là những chỉ số tốt hơn về hiệu quả tài chính trong tương lai so với các thước đo kế toán, và chúng có giá trị trong việc đánh giá và thúc đẩy sự hoàn thiện của nhà quản trị (Banker và cộng sự, 2000). Ưu điểm và hạn chế của các thước đo tài chính và các thước đo phi tài chính được Ghalayini và Noble (1996) tổng kết trong bảng sau: Bảng 2. So sánh các thước đo HQHĐ tài chính và phi tài chính Các thước đo tài chính Các thước phi tài chính Dựa trên số liệu kế toán quá khứ Dựa trên chiến lược công ty Dành cho các nhà quản lý cấp trung và Dành cho tất cả nhân viên cấp cao Số liệu có độ trễ (hàng tuần hoặc hàng Số liệu kịp thời (theo giờ hoặc ngày) tháng) Khó khăn, khó hiểu và gây hiểu lầm Đơn giản, chính xác và dễ sử dụng Dẫn đến sự thất vọng của nhân viên Dẫn đến sự hài lòng của nhân viên Ít được sử dụng trong doanh nghiệp sản Thường xuyên được sử dụng trong doanh xuất nghiệp sản xuất Định dạng cố định Định dạng linh hoạt (theo nhu cầu) Không thay đổi giữa các địa điểm Thay đổi giữa các địa điểm Không thay đổi theo thời gian Thay đổi theo thời gian và nhu cầu Dự định chủ yếu để theo dõi hiệu suất Dự định để cải thiện hiệu suất Không áp dụng cho JIT, TQM, CIM, Áp dụng cho JIT, TQM, CIM, FMS, RPR, FMS, RPR, OPT, v. Cản trở cải thiện liên tục Giúp đạt được cải thiện liên tục Nguồn: Ghalayini và Noble, 1996 11 Beatham và cộng sự (2004) nghiên cứu khá đầy đủ các hệ thống đo lường HQHĐ do các Hiệp hội và các doanh nghiệp ở Anh xây dựng và phân loại chúng thành 3 loại là các thước đo quá khứ, các thước đo dẫn dắt và các thước đo nhận thức.

Các thước đo quá khứ (lagging indicators) chỉ ra các kết quả đã thu được trong quá khứ, không chỉ ra hiện tượng và nguyên nhân của kết quả và thường không có tác dụng chỉ báo. Các thước đo dẫn dắt (leading indicators) thường có tác dụng chỉ báo và cho phép dự đoán kết quả trong tương lai, chỉ ra cơ hội cải thiện và những hoạt động cần cải thiện.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết với tiêu đề "Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam" tập trung vào việc phân tích các yếu tố quyết định đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất trong bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ giúp các nhà quản lý hiểu rõ hơn về các chỉ số hiệu quả mà còn cung cấp những kiến thức quý giá để cải thiện quy trình quản lý và tối ưu hóa hoạt động sản xuất. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức áp dụng các thước đo hiệu quả trong thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, bạn có thể tham khảo các bài viết liên quan như "Luận văn về quy trình đón tiếp và phục vụ khách tại bộ phận lễ tân khách sạn Continental", nơi phân tích quy trình phục vụ khách hàng, một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, bài viết "Nghiên Cứu Mô Hình Tồn Kho Tối Ưu Tại Công Ty Cổ Phần Đại Tân Việt" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý tồn kho, một khía cạnh không thể thiếu trong việc tối ưu hóa hoạt động sản xuất. Cuối cùng, bài viết "Ảnh hưởng của văn hóa tổ chức đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp ngành dệt may Việt Nam" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của văn hóa tổ chức trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ là nguồn tham khảo quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp tại Việt Nam.