phần mở đầu và kết luận, đề án gồm có 3 phần nhƣ sau: PHẦN 1. CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN PHẦN 2. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN PHẦN 3. CÁC ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 4 PHẦN 1.
CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Khái niệm, vai trò và nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm quản lý tài chính doanh nghiệp Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc tiến hành trong mối quan hệ giữa nhiều bộ phận nhƣ: sản xuất, marketing, nhân sự, tài chính … nên nhu cầu về quản lý, quản trị cũng đòi hỏi phải đƣợc tổ chức triển khai ở tất cả các bộ phận nêu trên. Vì vậy, đối tƣợng nghiên cứu của quản lý tài chính là các hoạt động tài chính của doanh nghiệp đƣợc đặt trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa các bộ phận, các lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp và quan hệ của doanh nghiệp với môi trƣờng bên ngoài.
Quản lý tài chính doanh nghiệp bao gồm tổng thể các hoạt động của nhà quản lý trong quá trình nghiên cứu, dự báo, phân tích, ra các quyết định tài chính và tổ chức thực hiện các quyết định đó nhằm thực hiện các mục tiêu đã đƣợc xác định. Nhƣ vậy, có thể thấy rằng quản lý tài chính doanh nghiệp là một quá trình, từ việc phân tích tình hình môi trƣờng kinh doanh bên trong cũng nhƣ bên ngoài của doanh nghiệp để đƣa ra các quyết định, cho đến việc đảm bảo các quyết định đó đƣợc thực hiện phù hợp với mục tiêu của hoạt động tài chính cũng nhƣ mục tiêu phát triển chung của doanh nghiệp. Vai trò của quản lý tài chính doanh nghiệp Thứ nhất, quản lý tài chính quyết định sự thành công của một doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh, đặc biệt trong nền kinh tế thị trƣờng hội nhập quốc tế sâu rộng nhƣ ngày nay. Quản lý tài chính giúp lãnh đạo doanh nghiệp hoạch định chiến lƣợc tài chính ngắn hạn, dài hạn dựa trên sự đánh giá tổng quát cũng nhƣ từng khía cạnh cụ thể của các nhân tố có ảnh hƣởng quan trọng tới sự tồn tại của doanh nghiệp, bao gồm: chiến lƣợc tham gia thị trƣờng vốn, các hoạt động đầu tƣ, việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh … Thứ hai, quản lý tài chính có vai trò then chốt trong việc thiết lập chính sách phân phối lợi nhuận một cách hợp lý đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hòa lợi ích giữa Nhà nƣớc - Chủ sở hữu và Ngƣời lao động.
Xác định phần lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp hợp lý là nguồn quan trọng cho phép doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh, đầu tƣ vào lĩnh vực mới, sản phẩm mới … đƣa doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững. 5 Thứ ba, quản lý tài chính có vai trò kiểm soát việc sử dụng tài sản trong nghiệp nghiệp, tránh tình trạng sử dụng lãng phí, sai mục đích. Thông qua các chỉ số, chỉ tiêu tài chính, các nhà quản trị có thể đánh giá, kiểm soát đƣợc các hoạt động của doanh nghiệp, phát hiện kịp thời những tồn tại hay khó khăn, vƣớng mắc trong kinh doanh, từ đó đƣa ra các quyết định để điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Quản lý tài chính có mối liên hệ trực tiếp, chặt chẽ với mọi hoạt động của doanh nghiệp, quản lý tài chính tốt có thể khắc phục đƣợc những khiếm khuyết trong lĩnh vực khác, không những mang lại hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp mà còn đem lại lợi ích kinh tế, xã hội trên phạm vi quốc gia.
Quản lý tài chính bị chi phối bởi các mục tiêu và phƣơng hƣớng kinh doanh của doanh nghiệp. Khi bắt đầu vào việc xây dựng chiến lƣợc sản xuất kinh doanh, vấn đề quan trọng hàng đầu là xác định các chỉ tiêu tài chính và quản lý nó nhƣ thế nào. Quản lý tài chính đóng vai trò trọng yếu, nó quyết định khả năng cạnh tranh, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp Để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp, hoạt động quản lý tài chính cần tuân thủ một số vấn đề mang tính nguyên tắc sau: - Tiền có giá trị theo thời gian: một đồng tiền ở thời điểm hiện tại luôn có giá trị lớn hơn một đồng tiền ở thời điểm trong tƣơng lai.
- Số lượng và thời gian phải được xem xét đồng thời: cân đối thu – chi, cung – cầu về tiền của doanh nghiệp phải bao gồm cả hai yếu tố số lƣợng và thời gian. - Khó có thể tìm được các dự án hoàn hảo: thị trƣờng là cạnh tranh nên điều kiện để đánh giá và lựa chọn các dự án đầu tƣ cần biến hóa, không cố định theo các khuôn mẫu có sẵn. - Mọi rủi ro đều phải được đền bù thỏa đáng: rủi ro luôn tồn tại trong hoạt động của doanh nghiệp nên lợi ích nhận đƣợc luôn phải xem xét trong mối quan hệ với rủi ro. - Chi phí sử dụng vốn luôn là tham số cơ bản: chi phí sử dụng vốn có ảnh hƣởng trực tiếp đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Vì vậy, cần lựa chọn nguồn vốn trên cơ sở xem xét giá vốn trên thị trƣờng và khả năng linh hoạt trong điều chỉnh cơ cấu sử dụng vốn. - Chính sách hợp lý với người điều hành doanh nghiệp: khi có sự phân biệt giữa quyền sở hữu với quyền điều hành thì lợi ích của ngƣời điều hành sẽ là gánh nặng đối với ngƣời sở hữu và ảnh hƣởng tới các lựa chọn tài chính dài hạn thể hiện 6 bởi cấu trúc vốn và chi phí điều hành. Vì thế, cần có chính sách kích thích hợp lý với ngƣời điều hành doanh nghiệp. - Chính sách hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ sở hữu và người lao động: quản lý tài chính phải đảm bảo dung hòa đƣợc các lợi ích giữa các chủ thể trong nền kinh tế, nhƣ vậy doanh nghiệp mới có thể phát triển bền vững.
- Chính sách thuế có ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh: các vấn đề thuế sẽ có ảnh hƣởng đến các lựa chọn tài chính dài hạn, các quyết định về quản trị nguồn tài trợ và tài sản của doanh nghiệp … Vì vậy, cần căn cứ vào môi trƣờng thuế nơi doanh nghiệp hoạt động để xây dựng chính sách quản lý tài chính thích hợp, đảm bảo yêu cầu tuân thủ đúng pháp luật và có lợi cho doanh nghiệp. Nội dung quản lý tài chính trong doanh nghiệp 1. Cơ chế chính sách quản lý tài chính tại doanh nghiệp có vốn góp của nhà nước Trong quản lý các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau thì cơ chế chính sách của nhà nƣớc có vai trò vô cùng quan trọng, nó phải đảm bảo cho các doanh nghiệp khác nhau đều đƣợc bình đẳng trong việc khuyến khích phát triển lâu dài. Đối với doanh nghiệp có vốn góp của nhà nƣớc trong giai đoạn hiện nay có một số quy định chính làm hành lang pháp lý trong quá trình hoạt động liên quan đến quản lý tài chính nhƣ sau: - Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17 tháng 6 năm 2020; - Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nƣớc đầu tƣ vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp số 69/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2014; - Nghị định số 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tƣ vốn nhà nƣớc vào doanh nghiệp và quản lý, sử dụng vốn, tài sản tại doanh nghiệp; Nghị định số 32/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 91/2015/NĐ-CP.
- Nghị định 87/2015/NĐ-CP ngày 06/10/2015 của Chính phủ về giám sát đầu tƣ vốn nhà nƣớc vào doanh nghiệp, giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai thông tin tài chính của doanh nghiệp nhà nƣớc và doanh nghiệp có vốn nhà nƣớc. Lập kế hoạch tài chính Kế hoạch tài chính là một bộ phận quan trọng hàng đầu trong kế hoạch/chiến lƣợc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đƣợc trình bày có hệ thống các dự kiến tài chính nhằm đạt đƣợc những kết quả trong tƣơng lai. 7 Việc lập kế hoạch tài chính giúp cho ngƣời quản lý xác định rõ mục tiêu cần đạt tới, từ đó cân nhắc, xem xét tính khả thi, tính hiệu quả của các quyết định. Kế hoạch tài chính là công cụ giúp cho việc điều hành hoạt động chung của doanh nghiệp, hơn thế nữa là chủ động ứng phó với những biến động thực tế so với dự kiến, từ đó có những điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế để đạt đƣợc mục tiêu đề ra.
Kế hoạch tài chính của doanh nghiệp là xác định nhu cầu kinh phí và huy động đầy đủ kinh phí cho các hoạt động trong từng thời kỳ cụ thể. Do vậy, việc quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí hiện có, quản lý chặt chẽ các khoản thu chi và đảm bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp có vai trò quyết định đối với sự thành công của doanh nghiệp đó. Lập kế hoạch tài chính gồm lập kế hoạch trong ngắn hạn và lập kế hoạch trong dài hạn. Kế hoạch tài chính ngắn hạn là việc lập các mục tiêu tăng trƣởng doanh thu, lợi nhuận, nguồn vốn theo tháng, quý, năm trong khi kế hoạch tài chính dài hạn đƣợc lập theo chiến lƣợc của doanh nghiệp trong vòng từ 03 năm đến 05 năm.
- Kế hoạch tài chính ngắn hạn: các công cụ dùng trong việc kế hoạch ngắn hạn thƣờng dùng là báo cáo tài chính, báo cáo phân tích tình hình ngân sách, chiến lƣợc giá cả. Kế hoạch tài chính ngắn hạn nên đƣợc lập theo từng tháng, quý, năm để có đƣợc cái nhìn sát hơn và đƣa ra đƣợc biện pháp nâng cao hiệu quả. - Kế hoạch tài chính dài hạn hay kế hoạch tài chính chiến lược: Vấn đề khó khăn là khó dự đoán đƣợc hết những biến động sẽ xảy ra với doanh nghiệp trong tƣơng lai. Vì vậy, để có thể lập và thực hiện các kế hoạch tài chính dài hạn có hiệu quả, các nhà quản lý thƣờng nên tiến hành các bƣớc nhƣ sau: + Trong quá trình lập kế hoạch, nhà quản trị cần tập trung thu thập, phân tích, đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp và các yếu tố thuộc môi trƣờng kinh doanh vi mô, vĩ mô có thể ảnh hƣởng đến mục tiêu, để có thể lựa chọn hƣớng đi đúng đắn cho doanh nghiệp.
+ Thiết lập mục tiêu tăng trƣởng, mục tiêu về lợi nhuận trên vốn đầu tƣ và hƣớng mở rộng phát triển doanh nghiệp, những mục tiêu này phải đƣợc thể hiện bằng các số liệu cụ thể.