Chương 1 TONG QUAN 1. Tình hình dịch bệnh trong nuôi thâm canh cá tra ở Đồng bang sông Cửu Long Tốc độ phát triển nhanh chóng của nghề nuôi thâm canh cá tra ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) dẫn đến chất lượng nước ngày càng bị ô nhiễm. Các hộ nuôi sử dụng ngày càng nhiều thuốc và chất hóa học dẫn ô nhiễm nguồn nước và hiện tượng kháng thuốc ở vi khuẩn đã tạo điều kiện cho dịch bệnh xuất hiện ngày càng nhiêu. Qua thống kê của Lê Xuân Sinh (2006) cho thấy bệnh gan thận mủ (GTM) trên cá tra xuất hiện nhiều nhất (82,1%), bệnh xuất huyết (63,4%), bệnh do ký sinh trùng (32,0%).
Ngoài ra, còn có một số bệnh nguy hiểm khác nhưng xuất hiện với tần số thấp hơn như: bệnh vàng da (12,2%), bệnh đường ruột (11,5%), bệnh lồi mắt (11,4%), bệnh tuột nhớt (10,0%), bệnh lở loét (3,1%). Theo báo cáo công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản, tong diện tích cá tra bị GTM là 370,63 ha vào năm 2020 và tông diện tích cá tra bị bệnh xuất huyết là 276 ha nuôi tại 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp gây thiệt hại lớn cho người nuôi (Báo cáo công tác phòng chống dịch bệnh thủy sản năm 2020 và 2021). Tỉ lệ cá chết khi nhiễm bệnh GTM có thé lên đến 90% (Nguyễn Tan Duy Phong, 2008). Cá tra thường bị nhiễm bệnh vào các tháng cuối năm khi nhiệt độ nước hạ thấp (Phan và ctv, 2009).
Tuy nhiên, ngày nay bệnh còn xảy ra ở các thời điểm khác nhau trong năm do việc tăng diện tích và tăng mức độ thâm canh, cũng như việc không xử lí môi trường nước của những ao nuôi bị nhiễm bệnh trước khi thải ra môi trường (Bùi Quang Té va ctv, 2004). Hiện nay, Tổ chức Thú y thế giới (OIE) liệt kê bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E. ictaluri vào danh sách các bệnh có ảnh hưởng lớn đến nghề nuôi cá da trơn. Tại Việt Nam, bệnh này thuộc danh mục các bệnh thủy sản phải công bố dịch (Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, 2016).
Bệnh gan thận mủ do vi khuẩn E. Tống quan về bệnh gan thận mủ Vi khuẩn E. ictaluri là tác nhân chính gây ra bệnh GTM ở cá da trơn nuôi thâm canh (CrumLish va ctv, 2002 và Ferguson va ctv, 2001). ictaluri phan lập được đầu tiên ở cá nheo Mỹ (Ictalurus furcatus) gây bệnh nhiễm trùng máu, cá trê trắng (Clarias batrachus) ở Thái Lan, cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) ở Việt Nam và Indonesia, và trên một số loài cá da trơn khác (Tu Thanh Dung, 2004).
ictaluri được phan lập từ cá tra giống và cá tra thịt. Bệnh GTM trên cá tra xuất hiện lần đầu tiên ở Việt Nam vào cuối năm 1998 (Ferguson và ctv, 2001). Đến vài năm sau đó, bệnh này đã được Ferguson và ctv. ở trường đại học Stirling phối hợp với trường đại học Cần Thơ nghiên cứu và cho kết quả ban đầu vào năm 2001 với tác nhân gây bệnh là vi khuẩn là Bacillus sp.
Đến năm 2002 nhóm nghiên cứu này đã đính chính lại tác nhân gây bệnh GTM trên cá tra là do vi khuẩn E. Tại nước ta, cá tra thường bị nhiễm bệnh vào những tháng cuối năm khi nhiệt độ nước hạ thấp. Tuy nhiên do việc tăng diện tích và tắng mức độ thâm canh làm mật độ cá cao 6 nhiễm nguồn nước đã làm cho việc cá bị bệnh xảy ra bat kì thời điểm nào trong năm (Dung và ctv, 2012). Nghiên cứu bệnh lí được mô tả đầy đủ về vi khuẩn E.
ictaluri là nghiên cứu của Newton va ctv, (1989). Khi tiến hành cảm nhiễm trên cá da trơn với nồng độ 5x10Š CFU/mL, 93% cá đã mắc ESC cấp tính và 7% bị nhiễm trùng mãn tính. Bệnh cấp tính có những đặc trưng như xuất huyết và loét trên đa, sau 2 ngày phơi nhiễm khi quan sát dưới kính hiển vi thấy hiện tượng viêm ruột và viêm khứu giác, tiếp theo là viêm gan và viêm da. ESC mãn tính, được nhìn thấy ở 3 — 4 tuần sau phơi nhiễm với các biêu hiện đặc trưng là sưng và loét đầu, viêm mô hạt và viêm màng não.
Viêm mô hat ở E. ictaluri mãn tính nhiễm trùng là một đặc diém mô bệnh hoc quan trọng của ESC. Cơ xương trở nên hoại tử, với sự xâm nhập của vi khuân làm xuât hiện các ô đại thực bào trong các cơ quan nội tạng, đặc biệt là gan, tuy nhiên vẫn có một số ít mô cá bình thường xuất hiện đại thực bào. (B) Da cá bị bong tróc.
(C) Thận trước cá sưng mủ. (D) Gan cá bị sưng mủ. Khi bệnh nặng cá không phản ứng với tiếng động. Một số cá xuất huyết tất cả các vùng xuất huyết toàn thân.
Có khi cá xuất huyết trầm trọng, khi được nhac lên khỏi mặt nước sẽ quan sát thay máu chảy ra từ da và mang cá. Một số cá bệnh còn biểu hiện màu sắc nhợt nhạt, có nhiều mảng loét lớn, nhỏ trên da. Số lượng cá chết hằng ngày khá cao và tỉ lệ tăng dan. Gan, thận cá bệnh sưng rất to, thận có hiện tượng nhũn, tì tang sưng ít hơn.
Trên gan, thận, tì tạng xuất hiện nhiều đốm trang tròn, đường kính 1 - 3 mm khắp bề mặt và cả bên trong cơ quan, những đốm trắng này chứa dịch hơi đặc và lan rộng làm gan không còn chức năng khử độc và lọc máu. Các chất độc không được loại bỏ sẽ tích tụ trong cơ thể, kết hợp với các yếu tô khác gây chết cá (Modra và ctv, 1998). Phân loại và đặc điểm sinh học của vi khuẩn E. icfaluri là vi khuân Gram âm, hình que, kích thước từ 1,2-1,5 x 0,4-0,6 um (Ye va ctv, 2009).
Vi khuẩn EZ. ictaluri có thé phát triển trên các môi trường dinh dưỡng khác nhau như môi trường MacConkey agar (MCK), tryptic soy agar (TSA), brain heart infusion agar (BHIA) và thioglycollate (THIO) (Shotts va Waltman, 1990). Vi khuan phát trién chậm trên các môi trường như TSA hay BHIA, sau 48 giờ cấy khuẩn lạc có dạng hình tròn, kích thước tương đối nhỏ (đường kính dao động từ 1-2 mm). Vi khuẩn có khả năng di động yếu, không sinh bao tử, yếm khí tùy nghi, lên men trong môi trường glucose, phản ứng catalase dương tinh, âm tính trong phan ứng oxidase (Bảng 1).
Chúng phát triển tốt ở 28°C và tăng trưởng chậm hoặc không tăng trưởng ở 37°C (Hawke và ctv, 1981; Waltman và ctv, 1986).1 Một số đặc điểm hình thái, sinh lý và sinh hóa của vi khuan E. ictaluri TT Chỉ tiêu Đặc điểm* TT Chỉ tiêu Đặc diém* 1 Gram - 13 Sinh H2S af 2 Hinh dạng Quengắn 14 Urease - 3 Diđộng + 15 Indole + 4_ Phat triển 6 37°C ~ 16 Phan tng VP + 5 Oxidase + I7 Thuy phan gelatin + 6 Catalase + 18 Thủy phân aesculin + 7 Phánứng O/F +/+ 19 Glucose + 8 j-galactosidase + 20 Mannitol + 9 Arginine dihydrolase + 21 Inositol - 10 Lysine decarboxylase V 22_ Sorbitol V 11 Ornithine - 23 Sucrose + 12 Decarboxylase V 24 Arabinose SE Simmon’s citrate -: Am tinh; +: dương tinh và v (variable reaction): phan ứng thay đổi; VP: Voges- Proskauer (phản ứng sinh acetoin); * được tong hop boi Inglish va ctv (1993). Khuẩn lạc và hình thái VK Z. ictaluri (A) Sự phát triển của VK E.
ictaluri trên môi trường TSA sau 48 h ủ ở 28°C. ictaluri nhuộm Gram (100X). ictaluri dưới kính hiển vi điện tử (Từ Thanh Dung, 2008) 1. Đường lây truyền và dấu hiệu bệnh do vi khuẩn E.
ictaluri Theo Francis — Floyd (1996), vi khuẩn E. ictaluri có thé tồn tại trong môi trường nước một tuần và trong bùn đáy khoảng một tháng. ictaluri có thể xâm nhập vào cơ thé cá qua hai con đường khác nhau là qua đường khứu giác và đường miệng. Vi khuẩn trong nước có thể xâm nhập vào cơ quan khứu giác của cá thông qua mũi cá chúng di chuyên vào bên trong dây than kinh khứu giác và sau đó lên não (Miyazaki và Plumb, 1985; Shotts và ctv,1986).
Sự truyền nhiễm lan rộng từ màng não đến sọ và da cá, vì thế bệnh sẽ tạo những lỗ thủng trên đầu cá hay những vết tróc, lỡ loét trên da cá. Tôn thương qua đường mũi bao gồm mat lông mao giác quan và trên bề mặt niêm mạc khứu giác trong vòng | giờ sau khi tiếp xúc với E. Sau 24 giờ, các thụ thé khứu giác và các tế bào hỗ trợ đã bị thoái hóa. Soi dưới kính hién vi điện tử xác nhận sự hiện diện của E.
ictaluri trên bề mặt niêm mạc và trong biểu mô. Bạch cầu chủ yếu di chuyển qua biểu mô khứu giác vào trong màng mỏng và tiêu diệt vi khuẩn (Morrison và Plumb, 1994). ictaluri cũng có thé xâm nhập vào cơ quan tiêu hóa thông qua miệng dé đi vào trong máu qua ruột gây nhiễm trùng máu (Shotts và ctv, 1986). Bệnh tiến triển gây viêm ruột, viêm gan và viêm câu thận trong vòng hai tuần sau khi nhiễm bệnh.
ictaluri xâm chiếm các mao mach trong lớp hạ bì và gây hoại tử và làm mat sắc tố da của cá bị nhiễm bệnh. ictaluri xâm nhập vào máu qua thành ruột và khu trú trong đại thực bào dẫn đến nhiễm trùng máu (Shotts va ctv, 1986 ;Newton va ctv, 1989). Cá nheo Mỹ tiếp xúc với E. ictaluri qua nhiễm trùng đường miệng đã phát triển viêm ruột, viêm gan, viêm thận kẽ và viêm cơ trong vòng 2 tuần sau khi nhiễm bệnh.
Nusbaum và Morrison (1996) đã chứng minh rằng trong quá trình ngâm vi khuẩn thì vi khuẩn xâm chiếm biểu mô mang với số lượng lớn trong 2 - 72 giờ. Số lượng vi khuẩn sau đó tăng nhanh ở gan va ít nhanh hơn ở thận, ruột va não. Sah Serta ie ane ý ae “7 đc = _ đãi Hình 1. Da đầu cá bị loét do vi khuẩn Z.
Da cá bị mất ictaluri xâm nhập sắc tô và hoại tử (alchetron. Cho đến nay, kháng sinh vẫn là lựa chọn đề kiểm soát bệnh do vi khuẩn gây ra. Theo Nguyễn Chính (2005) việc sử dụng nhiều thuốc kháng sinh trong quá trình nuôi trồng đã làm dư lượng kháng sinh trong thực phẩm tăng lên đồng thời làm tăng khả năng kháng thuốc của vi khuẩn (Cabello, 2006). Theo Quách Văn Cao Thi (2017), vi khuẩn E.
ictaluri đã kháng hầu hết các kháng sinh với tỷ lệ cao như chloramphenicol (94,03%), florfenicol (94,03%), tetracycline (92,54%), streptomycin (74,63%), enrofloxacin (71,64%), gentamicin (46,27%) và norfloxacin (46,27%). ictaluri da dạng kháng nguyên Trong nghiên cứu của Rogers (1981) đã chỉ ra rằng, một loại kháng huyết thanh thỏ được tạo ra từ một chủng E. ictaluri (ATCC 33202) có thé chống lại 20 chủng Z. ictaluri khác nhau.
Bertolini và ctv (1990) đã kiểm tra mối quan hệ huyết thanh học giữa 32 chung E. ictaluri và kết luận hầu hết các chủng E. ictaluri thuộc về một kiểu kháng huyết thanh duy nhất.