Bước đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tocilizumab actemra phối hợp với methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp bluận văn thạc sĩ

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu Bước đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tocilizumab actemra phối hợp với methotrexat trong, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ y học

2013

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đại cương về bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT)

1.2. Lịch sử bệnh VKDT

1.3. Dịch tễ học bệnh VKDT

1.4. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT

1.5. Triệu chứng học bệnh VKDT

1.5.1. Triệu chứng lâm sàng

1.5.2. Triệu chứng cận lâm sàng

1.6. Chẩn đoán bệnh VKDT

1.7. Điều trị bệnh VKDT

1.8. Các liệu pháp mới trong điều trị VKDT

1.8.1. Interleukin 6 và thuốc ức chế Interleukin 6 (IL-6)

1.8.1.1. Đại cương về IL-6
1.8.1.2. Vai trò của IL-6 trong cơ chế bệnh sinh của VKDT
1.8.1.3. Thuốc ức chế IL-6: Tocilizumab-Actemra
1.8.1.4. Hiệu quả và tính an toàn của tocilizumab qua các nghiên cứu

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

2.2. Phương pháp nghiên cứu

2.2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2.2. Các chỉ số trong nghiên cứu

2.2.3. Xử lý số liệu

2.3. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm chung của 2 nhóm bệnh nhân

3.1.1. Đặc điểm về tuổi

3.1.2. Đặc điểm về giới

3.2. Đặc điểm về giai đoạn bệnh

3.3. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

3.4. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

3.5. Hiệu quả điều trị của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

3.5.1. Hiệu quả giảm đau theo thang điểm đau VAS

3.5.2. Hiệu quả trên thời gian cứng khớp buổi sáng

3.5.3. Hiệu quả điều trị qua số khớp đau

3.5.4. Hiệu quả điều trị qua số khớp sưng

3.5.5. Hiệu quả điều trị theo chỉ số Ritchie

3.5.6. Hiệu quả điều trị qua thang điểm HAQ

3.5.7. Hiệu quả điều trị qua các chỉ số viêm

3.5.8. Hiệu quả điều trị qua DAS28 sử dụng CRP

3.5.9. Hiệu quả điều trị qua thay đổi nồng độ RF sau 12 tuần điều trị

3.5.10. Hiệu quả điều trị qua thay đổi lượng Hemoglobin trung bình

3.5.11. Hiệu quả điều trị qua sự giảm liều các thuốc đã điều trị

3.6. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh

3.6.1. Đánh giá tỷ lệ lui bệnh theo DAS28-CRP tại thời điểm 12 tuần

3.6.2. Cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa vào DAS 28-CRP

3.6.3. Đánh giá lui bệnh theo ACR tại thời điểm 12 tuần

3.7. Các chỉ số đánh giá tính an toàn của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

3.7.1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan, sau 12 tuần điều trị

3.7.2. Xét nghiệm đánh giá chức năng thận sau 12 tuần điều trị

3.7.3. Xét nghiệm bạch cầu trung tính sau 12 tuần điều trị

3.7.4. Các tác dụng không mong muốn sau 12 tuần điều trị

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của 2 nhóm bệnh nhân

4.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới của 2 nhóm bệnh nhân

4.1.2. Đặc điểm về giai đoạn bệnh của 2 nhóm bệnh nhân

4.2. Đặc điểm về thời gian mắc bệnh

4.3. Các chỉ số về mức độ hoạt động bệnh tại thời điểm bắt đầu nghiên cứu

4.4. Hiệu quả điều trị của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat

4.4.1. Hiệu quả giảm đau theo thang điểm đau VAS

4.4.2. Hiệu quả trên thời gian cứng khớp buổi sáng

4.4.3. Hiệu quả điều trị qua số khớp đau

4.4.4. Hiệu quả điều trị qua số khớp sưng

4.4.5. Hiệu quả điều trị theo chỉ số Ritchie

4.4.6. Hiệu quả điều trị qua thang điểm HAQ-DI

4.4.7. Hiệu quả điều trị qua các chỉ số viêm

4.4.8. Hiệu quả điều trị qua DAS28 sử dụng CRP

4.4.9. Hiệu quả điều trị qua thay đổi nồng độ RF sau 12 tuần điều trị

4.4.10. Hiệu quả điều trị qua thay đổi lượng Hemoglobin trung bình

4.4.11. Hiệu quả điều trị qua sự giảm liều các thuốc đã điều trị

4.5. Các chỉ số đánh giá cải thiện hoạt động bệnh

4.6. Đánh giá tỷ lệ lui bệnh theo DAS28-CRP tại thời điểm 12 tuần

4.7. Cải thiện hoạt động bệnh theo EULAR dựa vào DAS28-CRP

4.8. Đánh giá lui bệnh theo ACR tại thời điểm 12 tuần

4.9. Nhận xét tính an toàn của Tocilizumab phối hợp với Methotrexat trong điều trị VKDT

4.10. Cận lâm sàng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Điều Trị Tocilizumab Phối Hợp Methotrexat

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh lý tự miễn mạn tính, ảnh hưởng đến nhiều khớp và gây ra đau đớn cho bệnh nhân. Việc điều trị VKDT thường gặp nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc kiểm soát triệu chứng và ngăn ngừa tổn thương khớp. Tocilizumab, một kháng thể đơn dòng, đã được nghiên cứu để đánh giá hiệu quả và tính an toàn khi phối hợp với Methotrexat trong điều trị VKDT. Nghiên cứu này nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về tác động của Tocilizumab trong điều trị bệnh lý này.

1.1. Đặc Điểm Của Viêm Khớp Dạng Thấp

VKDT là một bệnh lý viêm mạn tính, thường gặp ở nữ giới. Bệnh có thể gây ra cứng khớp buổi sáng và đau nhức ở nhiều khớp. Các triệu chứng này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

1.2. Vai Trò Của Tocilizumab Trong Điều Trị

Tocilizumab hoạt động bằng cách ức chế thụ thể interleukin-6, một cytokine quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của VKDT. Việc sử dụng Tocilizumab có thể giúp giảm triệu chứng và cải thiện chức năng khớp cho bệnh nhân.

II. Thách Thức Trong Điều Trị Viêm Khớp Dạng Thấp Hiện Nay

Mặc dù có nhiều phương pháp điều trị, nhưng việc kiểm soát VKDT vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều bệnh nhân không đáp ứng tốt với Methotrexat, dẫn đến tình trạng bệnh tiến triển. Việc tìm kiếm các liệu pháp mới như Tocilizumab là cần thiết để cải thiện kết quả điều trị.

2.1. Những Hạn Chế Của Methotrexat

Methotrexat là thuốc điều trị cơ bản nhưng không phải lúc nào cũng hiệu quả. Nhiều bệnh nhân gặp phải tác dụng phụ hoặc không đạt được hiệu quả mong muốn, dẫn đến việc cần thiết phải tìm kiếm các phương pháp điều trị bổ sung.

2.2. Tác Dụng Phụ Của Các Phương Pháp Điều Trị Hiện Tại

Các phương pháp điều trị hiện tại có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe tổng thể của bệnh nhân. Điều này làm tăng nhu cầu về các liệu pháp an toàn và hiệu quả hơn.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiệu Quả Tocilizumab Phối Hợp Methotrexat

Nghiên cứu này được thiết kế để đánh giá hiệu quả và tính an toàn của Tocilizumab khi phối hợp với Methotrexat trong điều trị VKDT. Các chỉ số đánh giá bao gồm mức độ đau, số lượng khớp viêm và các chỉ số sinh hóa liên quan.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên một nhóm bệnh nhân VKDT không đáp ứng với điều trị trước đó. Các bệnh nhân sẽ được theo dõi trong 12 tuần để đánh giá hiệu quả điều trị.

3.2. Các Chỉ Số Đánh Giá Hiệu Quả

Các chỉ số như thang điểm VAS, số khớp viêm và các chỉ số viêm sẽ được sử dụng để đánh giá hiệu quả điều trị. Điều này giúp xác định rõ ràng tác động của Tocilizumab trong điều trị VKDT.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Tocilizumab Và Methotrexat

Kết quả nghiên cứu cho thấy Tocilizumab phối hợp với Methotrexat mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm triệu chứng và cải thiện chức năng khớp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tính an toàn của phương pháp này là chấp nhận được.

4.1. Hiệu Quả Giảm Đau Và Cải Thiện Chức Năng

Nghiên cứu cho thấy có sự giảm đáng kể về mức độ đau và cải thiện chức năng khớp sau 12 tuần điều trị. Điều này cho thấy Tocilizumab có thể là một lựa chọn điều trị hiệu quả cho bệnh nhân VKDT.

4.2. Tính An Toàn Của Tocilizumab

Các tác dụng phụ của Tocilizumab được ghi nhận là nhẹ và có thể kiểm soát được. Điều này cho thấy rằng Tocilizumab là một lựa chọn an toàn cho bệnh nhân VKDT khi phối hợp với Methotrexat.

V. Kết Luận Về Hiệu Quả Và An Toàn Của Tocilizumab

Tocilizumab phối hợp với Methotrexat cho thấy hiệu quả cao trong điều trị VKDT, giúp giảm triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Nghiên cứu này mở ra hướng đi mới trong điều trị bệnh lý này.

5.1. Tương Lai Của Tocilizumab Trong Điều Trị VKDT

Với những kết quả tích cực, Tocilizumab có thể trở thành một phần quan trọng trong phác đồ điều trị VKDT. Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định rõ hơn về hiệu quả lâu dài của phương pháp này.

5.2. Khuyến Nghị Cho Các Nghiên Cứu Tương Lai

Cần có thêm nhiều nghiên cứu quy mô lớn hơn để xác định rõ ràng hơn về hiệu quả và tính an toàn của Tocilizumab trong điều trị VKDT. Điều này sẽ giúp cải thiện phác đồ điều trị cho bệnh nhân.

25/07/2025
Bước đầu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của tocilizumab actemra phối hợp với methotrexat trong điều trị viêm khớp dạng thấp bluận văn thạc sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về bệnh viêm khớp dạng thấp (VKDT) 1.1 Lịch sử bệnh VKDT[1]: Nghiên cứu đặc điểm một số bộ xương người cổ ở Bắc Mỹ, các nhà khoa học đã cho rằng VKDT có thể đã tồn tại ít nhất cách đây 3000 năm. Năm 1819 Brondie đã mô tả bệnh VKDT với đặc điểm tiến triển chậm, ảnh hưởng tới nhiều khớp, các gân và dây chằng. Năm 1858 Garrod đã đề ra thuật ngữ viêm khớp dạng thấp. Waaler (1940) và Rose (1947) phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu.

Dịch tễ học bệnh VKDT: Bệnh VKDT gặp ở mọi quốc gia trên thế giới, chiếm khoảng 1% dân số. Tỷ lệ bệnh là khoảng 0,5-1% dân số một số nước châu Âu, khoảng 0,17- 0,3% ở các nước châu Á. Ở Việt Nam tỷ lệ bệnh VKDT chiếm 0,5% dân số và chiếm 20% các bệnh về khớp. Bệnh thường gặp ở nữ giới với tỷ lệ nữ/nam thay đổi từ 2,5 đến 3 [1].

Theo nghiên cứu về tình hình bệnh tật tại khoa Cơ xương khớp Bệnh viện Bạch Mai từ 1991-2000, bệnh viêm khớp dạng thấp chiếm tỷ lệ 21,94%, trong đó nữ chiếm 92,3%, lứa tuổi chiếm đa số là từ 36- 65 ( 72,6%) [5]. Bệnh có tính chất gia đình trong một số trường hợp 1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT Nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng, viêm khớp dạng thấp được coi là một bệnh tự miễn với sự tham gia của nhiều yếu tố như nhiễm khuẩn hoặc di truyền [1] Một số giả thuyết cho rằng, một số virus hay vi khuẩn phổ biến tác động vào yếu tố cơ địa thuận lợi hoặc yếu tố môi trường làm khởi phát bệnh. Yếu tố di truyền: Nhiều nghiên cứu về cha mẹ những người mắc bệnh viêm khớp dạng thấp cho thấy tỷ lệ mắc bệnh VKDT cao hơn hai đến ba lần 4 so với tỷ lệ của cha mẹ nhóm chứng.

Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiên cứu đều khẳng định sự phù hợp này. Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp còn chưa rõ. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy phản ứng miễn dịch xảy ra ở màng hoạt dịch đóng một vai trò cơ bản trong bệnh viêm khớp dạng thấp Kháng nguyên là các tác nhân gây bệnh xâm nhập vào cơ thể gây khởi phát một chuỗi các phản ứng miễn dịch, trong đó các tế bào lympho T đóng vai trò then chốt. Các tế bào lympho T, sau khi tiếp xúc với kháng nguyên, sẽ tập trung nhiều ở các khớp bị ảnh hưởng và giải phóng ra các cytokin : IL-1, IL-4, IL-6,IL-10, TNF-alpha Vai trò của các cytokin này là tác động lên các tế bào khác, trong đó có 3 loại tế bào chủ yếu là lympho B, đại thực bào và tế bào nội mô mạch máu màng hoạt dịch.

Dưới tác động của các cytokin trên, các tế bào lympho B sẽ sản xuất ra yếu tố dạng thấp có bản chất là các immunoglobulin, từ đó tạo ra các phức hợp miễn dịch lắng đọng trong khớp và gây tổn thương khớp. Tế bào lympho B là tế bào chính sản xuất ra yếu tố dạng thấp đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh [6]. Các cytokin cũng hoạt hoá đại thực bào sản xuất ra các cytokin khác gây kích thích các tế bào màng hoạt dịch, tế bào sụn, nguyên bào xơ… tăng sinh, xâm lấn vào sụn tạo thành màng máu. Hậu quả của các quá trình này là hình thành màng máu, huỷ hoại sụn khớp, đầu xương dưới sụn, cuối cùng dẫn đến xơ hoá, dính và biến dạng khớp.

Cơ chế bệnh sinh của viêm khớp dạng thấp 1. Adapted from: Smolen JS, et al. Nat Rev Drug Discov. Choy EH, et al.

Silverman GJ, et al. Arthritis Res Ther. Triệu chứng học bệnh VKDT 1. Triệu chứng lâm sàng Bệnh diễn biến mạn tính với các đợt tiến triển.

Trong đợt tiến triển bệnh nhân thường sưng đau nhiều khớp, kèm theo sốt và có thể có các biểu hiện nội tạng[7]  Biểu hiện tại khớp: Vị trí khớp tổn thương thường gặp nhất là các khớp ngón gần, bàn ngón, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân .Khớp viêm thường đối xứng hai bên. Tính chất khớp tổn thương: trong các giai đoạn tiến triển, các khớp sưng đau, nóng, ít khi đỏ. Đau kiểu viêm. Các khớp thường bị cứng vào buổi sáng.

Trong các đợt tiến triển, dấu hiệu cứng khớp buổi sáng này thường kéo dài trên một giờ [1] 6  Biểu hiện toàn thân và ngoài khớp: Hạt dưới da (hạt dạng thấp - Rheumatoid nodules) Có thể có một hoặc nhiều hạt. Vị trí xuất hiện của hạt này thường ở trên xương trụ gần khuỷu, trên xương chày gần khớp gối hoặc quanh các khớp nhỏ ở bàn tay. Các bệnh nhân ở Việt Nam ít gặp các hạt này (chỉ khoảng 4% số bệnh nhân có hạt dưới da) [1].[8] Viêm mao mạch Biểu hiện dưới dạng hồng ban ở gan chân tay, hoặc các tổn thương hoại tử tiểu động mạch ở quanh móng, đầu chi… Gân, cơ, dây chằng và biểu hiện nội tạng Các cơ cạnh khớp teo do giảm vận động. Có thể gặp triệu chứng viêm gân (thường gặp gân Achille), đôi khi có đứt gân.

Các biểu hiện nội tạng (phổi, viêm màng phổi, cơ tim, van tim, màng ngoài tim.) hiếm gặp, thường xuất hiện trong các đợt tiến triển. Triệu chứng khác Hội chứng thiếu máu: Là triệu chứng chung của VKDT, gặp ở 30% bệnh nhân VKDT và có liên quan đến mức độ hoạt động của bệnh và thường do quá trình viêm mạn tính [9] 1. Triệu chứng cận lâm sàng 1. Hội chứng viêm sinh học Hội chứng viêm sinh học, biểu hiện bởi các thông số sau: - Tốc độ máu lắng: tăng trong các đợt tiến triển, mức độ thay đổi của tốc độ lắng máu phụ thuộc tình trạng viêm khớp.

- Tăng các protein viêm: ferritin, protein C phản ứng (CRP) tăng nhanh khi cơ thể phản ứng lại các tác nhân gây viêm sau đó giảm nhanh khi quá trình viêm được thoái lui. Trong VKDT và một số bệnh khớp nói chung đều tăng CRP trong giai đoạn tiến triển của bệnh [10]. Các xét nghiệm miễn dịch Yếu tố dạng thấp (Rheumatoid Factor-RF):Năm 1940 Waaler và Rose (1947) phát hiện ra yếu tố dạng thấp bằng phản ứng ngưng kết hồng cầu cừu, do đó phản ứng tìm yếu tố dạng thấp mang tên hai tác giả này: phản ứng Waaler - Rose và/hoặc latex. Ngày nay có rất nhiều phương pháp định tính và định lượng RF, xong chủ yếu dùng phương pháp hấp thụ miễn dịch, ngưng kết hạt latex, hoặc quang kế miễn dịch.

Đánh giá kết quả: 50 - 75% bệnh nhân VKDT có RF dương tính [8] Kháng thể kháng CCP (anti - cyclic citrulinated peptide antibodies: anti - CCP): Độ nhậy của của anti - CCP trong VKDT khoảng từ 40 - 70%, nhưng độ đặc hiệu có thể cao tới 98%, nhất là khi sử dụng những bộ test thế hệ mới (như CCP - 2). Ở những bênh nhân có viêm khớp chưa rõ ràng, kháng thể kháng CCP dương tính là một yếu tố tiên đoán quan trọng đối với bệnh VKDT; 90% những bệnh nhân này sẽ tiến triển thành VKDT trong vòng 3 năm. Anti - CCP được dùng như một yếu tố để tiên lượng bệnh. Những bệnh nhân VKDT có mặt đồng thời cả RF và anti - CCP thường có tiên lượng xấu hơn về chức năng vận động và tổn thương trên X quang.

Một số nghiên cứu cho thấy các bệnh nhân có dương tính với một hoặc cả hai kháng thể RF và/hoặc Anti - CCP có đáp ứng tốt với trị liệu sử dụng thuốc kháng tế bào B (Rituximab) [8]. Chẩn đoán hình ảnh Xquang thường quy [1].[14] Phù nề tổ chức phần mềm quanh khớp: Do viêm bao hoạt dịch cấp. Dạng hình thoi phổ biến nhất ở khớp liên đốt gần ngón tay. Mất chất khoáng phần đầu xương cạnh khớp: các bè xương thô, vỏ xương trở nên mỏng và xương tăng thấu quang.

8 Tổn thương bào mòn xương (erosion): là những tổn thương dạng khuyết xuất hiện tại bờ rìa khớp, bề mặt khớp, hoặc tổn thương dạng giả nang. Đây là một trong các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh theo ACR [15] Hẹp khe khớp: là tình trạng khoảng cách giữa các đầu xương tạo nên diện khớp bị hẹp lại. Cộng hưởng từ khớp tổn thương: từ năm 1996; Ostergaard và Mc Queen đã tiến hành chụp cộng hưởng từ khớp cổ tay ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp để đánh giá tình trạng viêm màng hoạt dịch. Ngoài hình ảnh bào mòn, cộng hưởng từ còn phát hiện được hiện tượng phù xương do hiện tượng viêm màng hoạt dịch gây xung huyết từng vùng của xương và sự xâm nhập của dịch rỉ viêm [14] Siêu âm khớp tổn thương: Siêu âm có thể phát hiện tổn thương viêm màng hoạt dịch từ giai đoạn sớm của bệnh VKDT, ngoài ra siêu âm còn phát hiện được hình ảnh bào mòn xương.

Có thể siêu âm khớp cổ tay hoặc khớp gối để phát hiện tổn thương trong bệnh VKDT [16]. Chẩn đoán bệnh VKDT 1. Chẩn đoán xác định Hiện nay đang áp dụng hai tiêu chuẩn để chẩn đoán VKDT đó là tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Hoa kỳ năm 1987 (ACR 1987) và tiêu chuẩn EULAR/ACR2010. Theo tiêu chuẩn ACR1987 bệnh nhân được chẩn đoán khi triệu chứng điển hình và thường ở giai đoạn muộn, trong khi đó tiêu chuẩn EULAR/ACR 2010 có thể chẩn đoán được bệnh ở những giai đoạn sớm do đó việc điều trị sẽ đạt hiệu quả tốt * Chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn của Hội thấp khớp học Hoa Kỳ năm 1987(ACR 1987) [1].

Thời gian cứng khớp buổi sáng kéo dài trên một giờ. Viêm ít nhất 3 trong số 14 khớp sau: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân (hai bên). Trong đó có ít nhất một khớp thuộc các vị trí sau: ngón gần, bàn ngón tay, cổ tay. Có tính chất đối xứng.

Hạt dưới da. Yếu tố dạng thấp huyết thanh (kỹ thuật đạt độ đặc hiệu 95%) dương tính. Xquang điển hình ở khối xương cổ tay (hình bào mòn, mất chất khoáng đầu xương). Thời gian diễn biến của bệnh ít nhất phải 6 tuần.

Chẩn đoán xác định khi có ít nhất 4 trong số 7 yếu tố. * Chẩn đoán xác định theo tiêu chuẩn EULAR/ACR 2010 [18].[20] Các tiêu chuẩn Điểm 1 khớp lớn 0 2-10 khớp lớn 1 Khớp tổn thương 1-3 khớp nhỏ 2 4-10 khớp nhỏ 3 >10 khớp nhỏ 5 RF và anti CCP Âm tính 0 Dương tính thấp 2 RF hoặc anti CCP (Tăng <3 lần) Dương tính cao 3 ( Tăng >3 lần) CRP và Máu lắng Bình thường 0 CRP hoặc Máu lắng Tăng 1 < 6 tuần 0 Thời gian bệnh ≥ 6 tuần 1 Chẩn đoán VKDT khi tổng điểm ≥6 10 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ