LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Bất động sản(bđs) là một trong những lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế thị trƣờng bởi vì nó liên quan đến một khối lƣợng lớn tài sản. Trong những năm vừa qua, thị trƣờng bất động sản ở nƣớc ta đƣợc hình thành, phát triển và đƣợc đánh giá là rất giàu tiềm năng, có nhiều đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế xã hội nhƣng vẫn chƣa phát triển toàn diện, còn nhiều bất ổn, và khá nhạy cảm với những tác động của các yếu tố nhƣ: biến động trên thị trƣờng chứng khoán, ngân hàng, chính sách mới của nhà nƣớc, dòng vốn đầu tƣ từ nƣớc ngoài,… thậm chí còn bị ảnh hƣởng bởi dịch bệnh. Thị trƣờng bất động sản thay đổi không lƣờng trƣớc đƣợc, giá cả bất động sản chƣa phản ánh đúng giá trị thật của nó.
Mặc dù nhà nƣớc đã có nhiều chính sách đặc biệt là chính sách tài chính nhằm điều tiết thị trƣờng đi đúng hƣớng và thật sự trở thành mũi nhọn nền kinh tế, nhƣng những chính sách đó vẫn còn nhiều hạn chế, chƣa đồng bộ, mang tính thời điểm, chƣa thúc đẩy phát triển ngành kinh doanh bất động sản. Công ty cổ phần Vietfor Land là doanh nghiệp tƣ nhân, hoạt động trong lĩnh vực môi giới bất động sản, tập trung vào các dự án chung cƣ, đất nền với giá trị trung bình và một số các dự án chung cƣ giá trị cao. Công ty cổ phần Vietfor Land tham gia thị trƣờng bất động sản từ năm 2015, nên vẫn chƣa có nhiều kinh nghiệm để đối phó với những tác động khó lƣờng. Đứng trƣớc thực trạng đó, công ty cần nên xem xét, đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn vốn hiện nay có hợp lý hay không để đƣa ra những phƣơng án tốt nhất nhằm sử dụng hiệu quả nguồn vốn, đem lại lợi ích cho công ty.
Để góp phần có đóng góp nhất định nhằm đánh giá thực trạng sử dụng vốn trong những năm qua em đã lựa chọn đề tài: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của Công Ty Cổ Phần Vietfor Land‟‟. Mục đích nghiên cứu đề tài: 1 Khóa luận nghiên cứu phân tích hiệu quả sử dụng vốn của công ty nhằm đánh giá hiệu quả sử dụng vốn từ đó đƣa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của công ty. Cụ thể nhƣ sau: - Khóa luận đƣa ra một số lý luận chung về tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp. - Phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả tình hình sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Vietfor Land.
- Từ những vấn đề lý luận và thực trạng hiệu quả tình hình sử dụng và huy động vốn, đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tình hình sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Vietfor Land. Phạm vi nghiên cứu: - Đối tƣợng nghiên cứu: Tập trung đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Vietfor Land. - Phạm vi nghiên cứu: Báo cáo trình bày kết quả nghiên cứu đó là báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán của công ty qua ba năm 2018,2019,2020. Phương pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp phân tích, thu thập thông tin: phân tích, thu thập các số liệu từ bảng cáo báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty.
- Phƣơng pháp so sánh: + So sánh bằng số liệu tuyệt đối: để thấy đƣợc sự biến động tăng giảm, quy mô qua các thời kỳ. + So sánh bằng số liệu tƣơng đối: để thấy đƣợc tốc độ phát triển về mặt quy mô qua các thời kì, giai đoạn khác nhau. - Phƣơng pháp sử dụng hệ số tài chính: 2 Hệ số tài chính đƣợc tính bằng cách đem so sánh trực tiếp một chỉ tiêu này với một chỉ tiêu khác để thấy mức độ ảnh hƣởng, vai trò của các yếu tố, chỉ tiêu này đối với chỉ tiêu, yếu tố khác. Bố cục của đề tài: Nội dung khóa luận gồm có 3 phần: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TRONG DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIETFOR LAND CHƢƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN VIETFOR LAND 3 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận chung về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về vốn Ngày nay, có rất nhiều khái niệm khác nhau về vốn. Vốn trong các doanh nghiệp là một quỹ tiền tệ đặc biệt mà mục tiêu của quỹ là để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải mục đích tiêu dùng nhƣ một vài quỹ tiền khác trong doanh nghiệp. Theo quan điểm của Mark- nhìn nhận dƣới góc độ của các yếu tố sản xuất thì Mark cho rằng: “Vốn chính là tƣ bản, là giá trị đem lại giá trị thặng dƣ, là một đầu vào của quá trình sản xuất.
Tuy nhiên, Mark quan niệm chỉ có khu vực sản xuất vật chất mới tạo ra giá trị thặng dƣ cho nền kinh tế. Đây là một hạn chế trong quan điểm của Mark. Theo quan điểm của Paul A.Samuelson, một đại diện tiêu biểu của học thuyết kinh tế hiện đại cho rằng: “Đất đai và lao động là các yếu tố ban đầu sơ khai, còn vốn và hàng hoá vốn là yếu tố kết quả của quá trình sản xuất. Vốn bao gồm các loại hàng hoá lâu bền đƣợc sản xuất ra và đƣợc sử dụng nhƣ các đầu vào hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó‟‟.
Một số hàng hóa vốn có thể tồn tại trong vài năm, trong khi một số khác có thể tồn tại trong một thế kỷ hoặc lâu hơn. Đặc điểm cơ bản nhất của hàng hóa vốn thể hiện ở chỗ chúng vừa là sản phẩm đầu ra, vừa là yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất. Theo khái niệm trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp của Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân thì khái niệm về vốn đƣợc chia thành hai phần: Tƣ bản (Capital) là giá trị mang lại giá trị thặng dƣ. Vốn đƣợc quan tâm đến khía cạnh giá trị nào đó của nó mà thôi.
Bảng cân đối kế toán phản ánh tình hình tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm. Vốn đƣợc nhà doanh nghiệp dùng để đầu tƣ vào tài sản của mình. Nguồn vốn là những nguồn đƣợc huy động từ đâu. Tài sản thể hiện quyết định đầu tƣ của nhà doanh nghiệp; còn về bảng 4 cân đối phản ánh tổng dự trữ của bản thân doanh nghiệp dẫn đến doanh nghiệp có dự trữ tiền để mua hàng hoá và dịch vụ rồi sản xuất và chuyển hoá, dịch vụ đó thàng sản phẩm cuối cùng cho đến khi dự trữ hàng hoá hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay hàng hoá đi ra đó là hiện tƣợng xuất quỹ, còn khi xuất hàng hoá ra thì doanh nghiệp sẽ thu về dòng tiền (phản ánh nhập quỹ và biểu hiện cân đối của doanh nghiệp là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trong doanh nghiệp).
Theo quan điểm của David Begg trong quyển “Kinh tế học” cho rằng: “Vốn đƣợc phân chia theo hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính”. Nhƣ vậy, ông đã đồng nhất vốn với tài sản của doanh nghiệp. Trong đó: - Vốn hiện vật: là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất các hàng hóa khác. - Vốn tài chính: là tiền và tài sản trên giấy của doanh nghiệp.
Ngoài ra, có nhiều quan niệm khác về vốn nhƣng mọi quá trình sản xuất kinh doanh đều có thể khái quát thành: T……H(TLSX, TLLD)…….H‟……T‟ Để có các yếu tố đầu vào (TLLD, TLSX) phục vụ cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lƣợng tiền ứng trƣớc, lƣợng tiền ứng trƣớc này gọi là vốn của doanh nghiệp. Nhƣ vậy ta có thể hiểu: “Vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của vật tư, tài sản được đầu tư vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu lợi nhuận’’. Đặc điểm vốn doanh nghiệp Thứ nhất, vốn là hàng hoá đặc biệt bởi vì: Vốn là hàng hoá vì nó có giá trị và giá trị sử dụng. Giá trị của vốn đƣợc thể hiện ở chi phí mà ta bỏ ra để có đƣợc nó.
Giá trị sử dụng của vốn thể hiện ở việc ta sử dụng nó để đầu tƣ vào quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ mua máy móc, thiết bị vật tƣ, hàng hoá… 5 Vốn là hàng hoá đặc biệt vì có sự tách biệt rõ ràng giữa quyền sử dụng và quyền sở hữu nó. Khi mua nó chúng ta chỉ có quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu và quyền sở hữu vẫn thuộc về chủ sở hữu của nó. Tính đặc biệt của vốn còn thể hiện ở chỗ: Nó không bị hao mòn hữu hình trong quá trình sử dụng mà còn có khả năng tạo ra giá trị lớn hơn bản thân nó. Chính vì vậy, giá trị của nó phụ thuộc vào lợi ích cận biên của của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà quản trị tài chính là phải làm sao sử dụng tối đa hiệu quả của vốn để đem lại một giá trị thặng dƣ tối đa, đủ chi trả cho chi phí đã bỏ ra mua nó nhằm đạt hiệu quả lớn nhất. Thứ hai, vốn phải gắn liền với chủ sở hữu nhất định chứ không thể có đồng vốn vô chủ. Thứ ba, vốn phải luôn luôn vận động sinh lời. Thứ tƣ, vốn phải đƣợc tích tụ tập trung đến một lƣợng nhất định mới có thể phát huy tác dụng để đầu tƣ vào sản xuất kinh doanh.
Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Trong điều kiện nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, xu thế hội nhập nền kinh tế, vấn đề toàn cầu hoá về phát triển công nghệ, thông tin… Việt Nam muốn tham gia vào quá trình toàn cầu hoá thì cũng sẽ phải đối mặt với những vấn đề mà thế giơí đang phải đối mặt. Vì vậy, việc các doanh nghiệp Việt Nam có đủ khả năng cạnh tranh và hội nhập hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhƣ: Yếu tố về vốn, trình độ máy móc thiết bị, công nghệ, năng lực đội ngũ cán bộ, tỷ suất lợi nhuận trên vốn… trong đó, yếu tố chúng ta cần nói đến ở đây là yếu tố hiệu quả sử dụng vốn, vốn của doanh nghiệp.