Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở luận về sử dụng vốn của doanh nghiệp 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu của nước ngoài Quản trị vốn là vấn đề cấp thiết nhất của mọi doanh nghiệp. Vì thế quản trị, sử dụng hiệu quả vốn của doanh nghiệp đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu.
Bằng phương pháp phân tích thông qua khảo sát bằng bảng hỏi, Belt và Smith (1991) đã đưa ra so sánh về thực tiễn quản trị vốn tại Úc và Mỹ. Ngay sau đó tiếp tục với nghiên cứu sâu hơn từ nghiên cứu của Belt và Smith (1991). Koury và công sự (1998) đã phát triển nghiên cứu thông qua bài viết so sánh thực tiễn quản trị vốn tại Canada, Mỹ và Úc, từ đó cho ra kết quả về cách thức hoạt động và quản trị vốn thay đổi theo thời gian và sự khác biệt giữa các quốc gia. Ngoài ra các nghiên cứu của Abdul Ghafoor Khan (2012), Edgar Pamplona (2021) … lại tiếp cận dữ liệu kế toán, sử dụng ROA và ROE để chỉ ra mối quan hệ giữa kết quả kiếm được của hoạt động và các biến số được sử dụng nhằm chỉ ra điều đó, như tổng tài sản và vốn chủ sở hữu đầu tư.
Trong khi đó Farai Kwenda, Merle Holden (2013) đã chỉ ra rằng quản trị vốn là một vấn đề tối quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận này, doanh nghiệp chịu rủi ro trong việc quản lý vốn và nỗ lực để phù hợp với cấu trúc đáo hạn của tài sản và nợ phải trả. PhD2 (2018) đã nghiên cứu các hoạt động quản lý vốn của các doanh nghiệp sản xuất tại Ethiopia cho ra kết quả người quản lý vốn tài chính đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý vốn chứ không phải là kế toán trưởng. Ngoài ra bài viết cũng đưa ra nhận định rằng vốn vay được các doanh nghiệp sản xuất sử dụng nhiều nhất.
Trong nghiên cứu của Deloof, bằng phương pháp nghiên cứu sử dụng mô hình kinh tế lượng, đã chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa doanh thu từ hoạt động kinh doanh và quản trị vốn, giữa số ngày phải thu tiền khách hàng, vòng quay hang tồn kho, thời gian trả nợ và khả năng sinh lời. Từ đó có thể rút ra nhận xét có thể tăng lợi nhuận bằng cách giảm thời gian phải thu khách hàng, giảm thời gian của vòng quay hàng tồn kho … Từ những nghiên cứu đó có thể nhận thấy rằng ở các nước khác nhau cũng như trong một môi trường khác nhau cơ cấu vốn sẽ khác nhau, đồng thời cho ra những biện pháp nhằm tăng lợi nhuận bằng cách quản trị tốt vốn. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, nhiều loại hình nghiên cứu cũng đã được thực hiện. Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác nhau như xây dựng, cơ điện, … (Lương Anh Hùng, 2019), (Cao Văn Kế, 2015), (Trần Nam Trung, 2012), (Nguyễn Tuấn Việt, 2018) và (Nguyễn Đăng Hạc, 1998)1.
Chu Thị Thu Thủy (2018) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn và khả năng sinh lời của 97 doanh nghiệp cổ phần ngành công nghiệp chế biến niêm yết trên sàn HOSE đã cho ra mối tương quan giữa quản trị vốn và khả năng sinh lời, giữa tỷ lệ đầu tư vào tài sản chính, quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời. Trong khi đó Tô Thị Thanh Trúc và Nguyễn Đình Thiên (2015) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động với chính sách quản lý vốn của 564 doanh nghiệp được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, qua đó cho thấy mối quan hệ tương quan âm giữa khả năng sinh lời được đo lường thông qua tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) với vòng quay hang tồn kho, số ngày phải thu khách hàng, số ngày phải trả người bán và chu kỳ chuyển đổi tiền mặt. Vòng quay tài sản ngắn hạn và tỷ lệ tài sản ngắn hạn trong tổng tài sản lại mang tương quan dương với ROA. Từ đó cho ra kết luận có thể tang hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thông qua chính sách vốn hợp lý.
Hoàng Lê Cẩm Phương và Phạm Ngọc Thúy (2007) đã nghiên cứu về hiện trạng quản lý vốn của các doanh nghiệp Nhựa, bằng phương pháp khảo sát việc xây dựng chính sách vốn của Doanh nghiệp, nguồn vốn huy động, và các yếu tố ảnh hưởng đến mức đầu tư tái sản lưu động để tìm hiểu thực trạng quản lý vốn và nhận dạng một số yếu tố có ảnh hưởng đến việc đầu tư tài sản lưu động của 96 doanh nghiệp nhựa tại thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó cho thấy hầu hết các doanh nghiệp đều đã quan tâm đến việc xây dựng chính sách vốn hợp lý, đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc đầu tư gồm quan điểm nhà quản lý, mục tiêu kinh doanh… Mỗi nghiên cứu đều đưa ra lý luận, thực trạng, những nguyên nhân chủ quan, khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh trong các loại hình doanh nghiệp (Nguyễn Thị Huyền Trang và cộng sự, 2020) 1. Khoảng trống nghiên cứu 4 Từ những nghiên cứu đã công bố, tác giả khóa luận thấy có thể nghiên cứu sâu hơn và phân tích về mức độ vi mô của doanh nghiệp cụ thể tại Việt Nam.
Bởi lẽ những nghiên cứu đi trước chủ yếu tập trung vào những vấn đề chung mang tính vĩ mô, phân tích nhiều doanh nghiệp trong cùng một ngành hoặc nhiều doanh nghiệp. Hiện nay, tuy đã có nhiều nghiên cứu về quản lý, sử dụng vốn của các doanh nghiệp cụ thể, nhưng chưa có nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn tại Công ty cổ phần Tập đoàn Super Trường Phát. Công ty là một doanh nghiệp nhỏ, mới ra đời trong ngành nhựa Việt Nam. Công ty vẫn còn nhiều khó khăn trong quản trị vốn và sử dụng vốn trong sản xuất, kinh doanh.
Đồng thời từ góc độ nghiên cứu sử dụng vốn của một doanh nghiệp nhỏ trong một ngành có mức độ cạnh tranh cao như ngành sản xuất nhựa, tác giả có thể đưa ra những đánh giá bước đầu về sử dụng vốn của Công ty cổ phần Tập đoàn Super Trường Phát. Cơ sở luận về vốn của doanh nghiệp 1. Khái niệm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh là một thành phần quan trọng bậc nhất trong tài chính doanh nghiệp. Vốn là nguồn cung giúp doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Có nhiều định nghĩa về vốn kinh doanh. Vốn kinh doanh là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Thị Huyền Trang và cộng sự, 2020). Vốn kinh doanh có thể tồn tại, thể hiện qua các hình thái hữu hình như bất động sản, máy móc, vật tư, hàng hóa… hoặc thông qua các hình thái vô hình như bản quyền, bằng sáng chế, quyền tài sản… Ngoài ra, cũng có người hiểu vốn là khoản tích lũy dưới dạng tiền tệ, là phần thu nhập có nhưng chưa được dùng. Vốn là một trong những điều kiện vật chất cơ bản kết hợp với sức lao động và các yếu tố khác cung cấp đầu vào cho quá trình sản xuất, kinh doanh.
Vốn tham gia vào toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ chu kì sản xuất đầu tiên đến những chu kì sản xuất cuối cùng trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Từ đó có thể nói vốn chính là tiền đề cho quá trình hình thành và phát triển của doanh nghiệp. Vốn có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp, cụ thể như sau: -Vốn là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp hình thành. Chỉ khi có vốn điều lệ doanh nghiệp mới có thể hoạt động.
5 - Vốn tồn tại và luân chuyển trong mọi công đoạn, quá trình đầu tư tài sản cố định, tài sản lưu động. Vốn quyết định, ảnh hưởng đến các yếu tố đầu vào khác của doanh nghiệp. - Vốn giúp doanh nghiệp thực hiện các dự án, hoạch định kinh doanh, gia tăng các cơ hội kinh doanh bởi càng nhiều vốn càng có nhiều khả năng tiếp cận cơ hội, từ đó giúp doanh nghiệp mở rộng sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Từ phân tích ở trên, có thể định nghĩa vốn kinh doanh chính là toàn bộ tài sản được huy động, sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận của doanh nghiệp.
Vốn là yếu tố thiết yếu đối với mọi doanh nghiệp. Chỉ khi có vốn doanh nghiệp mới có thể hoạt động. Chính vì thế sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố quan trọng nhất quyết định đến sự tăng trưởng của doanh nghiệp và của nền kinh tế. Đặc điểm của vốn kinh doanh Vốn sử dụng trong kinh doanh của doanh nghiệp có các đặc trưng sau: -Vốn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản, điều này có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu ,,, -Vốn có giá trị về mặt thời gian, bởi theo thời gian giá trị của đồng tiền và tài sản đều có sự thay đổi.
Tỷ lệ lãi suất được sử dụng để đo lường giá trị tiền tệ, phản ánh chi phí cơ hội mà người sử dụng vốn phải bỏ ra để thu lợi nhuận. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc - đánh giá chính xác hiệu quả của đầu tư -Vốn luôn vận động vì mục tiêu sinh lời. Nếu coi hình thái khởi đầu của vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn trở lại trạng thái ban đầu là tiền. Theo quy luật, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, có nghĩa là doanh nghiệp phải có lợi nhuận -Vốn được xem là một hàng hóa đặc biệt.
Khác với hàng hóa thông thường, vốn được bán sẽ không bị mất quyền sở hữu mà chỉ bán quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định và trả cho người sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi (điển hình như đầu tư cổ phiếu, người mua cổ phiếu sẽ cho doanh nghiệp mượn tiền, và doanh nghiệp sẽ trả cho người đầu tư một số lãi nhất định nếu doanh nghiệp có doanh thu).