Khóa luận: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh (2016-2018) - Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Khóa luận đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô huyện Cô Tô tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2016-2018. Phân tích tình hình đất nông

Chuyên ngành

Quản lý đất đai

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2019

66
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Cô Tô

Thị trấn Cô Tô thuộc huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh, là huyện đảo nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam. Địa phương có diện tích đất tự nhiên hạn chế, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ quan trọng trong cơ cấu sử dụng đất. Giai đoạn 2016-2018, nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện nhằm xác định mức độ khai thác tiềm năng đất đai. Đánh giá dựa trên ba nhóm tiêu chí chính: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập số liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý đất đai và điều tra nông hộ trực tiếp. Các loại hình sử dụng đất (LUT) được phân tích bao gồm: đất trồng lúa hai vụ, đất chuyên màu, đất trồng cây công nghiệp lâu năm. Kết quả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về hiệu quả giữa các loại hình sử dụng đất. Việc đánh giá này cung cấp cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch và quản lý đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đảo.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm tự nhiên huyện Cô Tô

Huyện Cô Tô nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Quảng Ninh, cách đất liền khoảng 80 km. Quần đảo Cô Tô có diện tích tự nhiên khiêm tốn, chủ yếu là đồi núi thấp và vùng ven biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển. Đất đai trên đảo chủ yếu là đất feralit phát triển trên đá phiến sét và đá granit. Diện tích đất nông nghiệp tập trung ở các thung lũng, vùng đất bằng phẳng. Nguồn nước tưới hạn chế, phụ thuộc vào nước mưa và mạch nước ngầm. Điều kiện tự nhiên đặt ra nhiều thách thức cho sản xuất nông nghiệp trên đảo.

1.2. Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô

Theo số liệu thống kê đất đai giai đoạn 2016-2018, đất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô gồm nhiều loại hình khác nhau. Đất trồng lúa chiếm tỷ lệ đáng kể, tập trung ở vùng trũng có điều kiện thủy lợi. Đất trồng cây hàng năm khác phục vụ sản xuất rau màu, cây lương thực ngắn ngày. Đất trồng cây lâu năm bao gồm chủ yếu cây ăn quả và cây công nghiệp. Đất nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhờ lợi thế ven biển. Diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người ở mức thấp, tạo áp lực lên hiệu quả canh tác.

II. Phân tích hiệu quả kinh tế và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp Cô Tô

Hiệu quả kinh tế là tiêu chí quan trọng nhất trong đánh giá đất nông nghiệp tại Cô Tô. Nghiên cứu giai đoạn 2016-2018 cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các loại hình sử dụng đất. Đất trồng lúa hai vụ cho thu nhập trung bình, chi phí sản xuất cao do điều kiện canh tác trên đảo. Đất chuyên màu và rau màu cho hiệu quả kinh tế cao hơn nhờ giá trị sản phẩm lớn. Đất trồng cây lâu năm như vải thiều có năng suất ổn định nhưng chu kỳ thu hoạch dài. Một số vấn đề nổi bật bao gồm: diện tích manh mún, nhỏ lẻ, khó áp dụng cơ giới hóa. Tình trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học chưa hợp lý gây ô nhiễm đất. Đất bỏ hoang, không canh tác vẫn tồn tại ở một số khu vực. Năng suất cây trồng chưa tương xứng với tiềm năng đất đai. Hiệu quả kinh tế đất nông nghiệp bình quân đầu người còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh Quảng Ninh.

2.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế theo loại hình sử dụng đất

So sánh hiệu quả kinh tế giữa các LUT cho thấy rõ sự khác biệt. Loại hình 2 lúa có doanh thu khoảng 40-50 triệu đồng/ha/năm, chi phí sản xuất chiếm 50-60%. Đất chuyên màu rau quả cho thu nhập cao hơn 2-3 lần so với trồng lúa. Cây lâu năm (vải) có hiệu quả kinh tế ổn định sau năm thứ tư, đạt 60-80 triệu đồng/ha. Hiệu quả sử dụng đất còn phụ thuộc vào quy mô canh tác, trình độ thâm canh và khả năng tiếp cận thị trường. Nông hộ có diện tích lớn, áp dụng tiến bộ kỹ thuật thường đạt hiệu quả cao hơn.

2.2. Các vấn đề tồn tại trong sử dụng đất nông nghiệp

Nhiều vấn đề ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Cô Tô. Thứ nhất, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phổ biến dưới 0,5 ha/hộ. Thứ hai, cơ sở hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ, thiếu nước tưới vào mùa khô. Thứ ba, trình độ canh tác của nông dân còn hạn chế, chưa áp dụng rộng rãi kỹ thuật mới. Thứ tư, tình trạng thoái hóa đất do sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu không hợp lý. Thứ năm, thiếu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Những vấn đề này làm giảm đáng kể hiệu quả khai thác đất nông nghiệp trên đảo.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Cô Tô

Để nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô, nhiều giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Giải pháp quy hoạch sử dụng đất cần ưu tiên bố trí cây trồng phù hợp với điều kiện lập địa từng vùng. Tích tụ ruộng đất, dồn điền đổi thửa tạo điều kiện áp dụng cơ giới hóa và nâng cao quy mô sản xuất. Đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, công trình tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng cường cây trồng có giá trị kinh tế cao. Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp. Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Đào tạo nâng cao trình độ cho nông dân, hướng dẫn sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật an toàn. Phát triển nông nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái đảo. Các giải pháp này cần sự phối hợp giữa chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn và người nông dân.

3.1. Giải pháp quy hoạch và chuyển đổi cơ cấu cây trồng

Quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên đánh giá chất lượng đất và điều kiện tự nhiên. Xác định rõ vùng chuyên canh lúa, vùng trồng rau màu, vùng cây lâu năm và vùng nuôi trồng thủy sản. Chuyển đổi diện tích đất lúa hiệu quả thấp sang trồng cây ăn quả, rau an toàn có giá trị cao. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhà kính, nhà lưới phù hợp điều kiện đảo. Khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ. Quy hoạch phải đảm bảo tính bền vững, cân đối giữa phát triển kinh tế và bảo vệ tài nguyên đất.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả canh tác và bảo vệ đất

Nâng cao hiệu quả canh tác thông qua áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật. Cải tạo đất bằng phân hữu cơ, vôi bột, tăng cường độ phì nhiêu. Sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật theo nguyên tắc 4 đúng: đúng loại, đúng liều, đúng lúc, đúng cách. Xây dựng mô hình canh tác luân canh, xen canh hợp lý để bảo vệ đất. Áp dụng biện pháp che phủ đất, trồng cây phân xanh hạn chế xói mòn. Đào tạo nông dân về kỹ thuật canh tác tiên tiến, quản lý dinh dưỡng cây trồng. Tăng cường cơ giới hóa giảm chi phí nhân công, nâng cao năng suất lao động.

IV. Kết luận và ứng dụng trong quản lý đất nông nghiệp Cô Tô

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô giai đoạn 2016-2018 đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Về hiệu quả kinh tế, đất chuyên màu cho thu nhập cao nhất, tiếp theo là đất cây lâu năm và đất lúa. Về hiệu quả môi trường, loại hình cây lâu năm có tỷ lệ che phủ tốt, khả năng bảo vệ đất cao. Đất trồng lúa hai vụ có ưu điểm cải tạo đất nhưng hiệu quả kinh tế hạn chế. Nghiên cứu xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất: quy mô canh tác, trình độ thâm canh, điều kiện thủy lợi và liên kết thị trường. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Chính quyền huyện Cô Tô có thể sử dụng kết quả này để ban hành chính sách hỗ trợ nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ứng dụng trong thực tiễn cần gắn với điều kiện đặc thù của huyện đảo, ưu tiên phát triển nông nghiệp bền vững. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp tục đánh giá hiệu quả sử dụng đất trong giai đoạn tiếp theo.

4.1. Kết quả đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất

Tổng hợp kết quả đánh giá cho thấy hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại Cô Tô có sự phân hóa rõ rệt. Đất chuyên màu rau quả đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, lợi nhuận thuần đạt 80-100 triệu đồng/ha/năm. Đất cây lâu năm (vải) cho hiệu quả ổn định, lợi nhuận 50-70 triệu đồng/ha từ năm thứ tư. Đất lúa hai vụ có hiệu quả kinh tế thấp nhất nhưng đảm bảo an ninh lương thực. Về hiệu quả môi trường, cây lâu năm được đánh giá cao nhất. Đất lúa có tác dụng cải tạo đất tốt nhờ ngâm nước định kỳ.

4.2. Ứng dụng kết quả trong quản lý và quy hoạch đất đai

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác quản lý đất đai tại Cô Tô. Cơ quan tài nguyên môi trường sử dụng dữ liệu để cập nhật quy hoạch sử dụng đất. Xác định vùng ưu tiên chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hiệu quả kinh tế. Đề xuất chính sách hỗ trợ nông dân áp dụng kỹ thuật canh tác mới. Xây dựng bản đồ đánh giá chất lượng đất nông nghiệp phục vụ quy hoạch. Kết quả cũng làm tài liệu tham khảo cho các huyện đảo khác trong tỉnh Quảng Ninh. Việc đánh giá định kỳ giúp theo dõi diễn biến hiệu quả sử dụng đất theo thời gian.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Khóa luận đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại thị trấn cô tô huyện cô tô tỉnh quảng ninh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia trên thế giới đều hình thành, tồn tại và phát triển trên nền tảng quan trọng nhất đó là đất đai. Ngay từ khi mới xuất hiện con người đã lấy đất đai làm nơi cư ngụ, sinh tồn, phát triển. Bất kỳ một quốc gia nào, nhà nước nào cũng có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi biên giới quốc gia mà thiên nhiên cho không loài người. Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và có tầm quan trọng rất lớn đối với đời sống con người và xã hội, là sản phẩm của sự tác động đồng thời của nhiều yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội.

Đất là nơi diễn ra các hoạt động sống, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của con người Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất sản xuất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế.

Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững trở thành vấn đề cấp thiết đối với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sản xuất của đất đai cho hiện tại và tương lai. Đối với nước ta, một nước nông nghiệp thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và ý nghĩa hơn. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có chính sách giao đất, giao rừng cho cộng đồng dân cư và từng hộ người dân để quản lý đất đai và sử dụng vào hoạt động sản xuất. Tuy nhiên cũng đang đối mặt với một số vấn đề về việc phát triển nông nghiệp.

Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp, sức ép của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và gia 2 tăng dân số. Và do trình độ và kinh nghiệm của người dân chỉ sản xuất nông nghiệp theo truyền thống nên việc sử dụng đất đai chưa có kế hoạch cụ thể dẫn đến hiệu quả mà các hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp mang lại còn thấp, diện tích rừng rất ít, hiệu quả sản xuất và phòng hộ của rừng còn thấp.Vì vậy, việc điều tra đánh giá một cách tổng hợp các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sử dụng đất, hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất. Từ đó, định hướng cho người dân trong xã khai thác sử dụng đất đai hợp lý, bền vững là một trong những vấn đề hết sức cần thiết. Thị trấn Cô Tô nằm trong huyện Cô Tô có tổng diện tích tự nhiên 735,87 ha số dân là 3.

Trong những năm gần đây, trình độ dân trí ngày một nâng cao, người dân hiếu học, cần cù. Các lĩnh vực y tế, giáo dục ngày một tiến bộ. Thu nhập bình quân trên đầu người năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên, sản xuất nông nghiệp chưa phát huy hết thế mạnh; hệ thống cơ sở hạ tầng tuy đã được chú trọng nâng cấp, cải tạo nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tương lai; sử dụng đất còn chưa thật hợp lý, hiệu quả chưa cao, diện tích đất chưa sử dụng chiếm tỷ lệ cao.

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của khoa Quản lý tài nguyên trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại thị trấn Cô Tô, huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Đánh giá được hiệu quả sử dụng sản xuất nông nghiệp. - Lựa chọn được các loại hình sử dụng đất có hiệu quả cao. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp.

Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã được tiếp thu trong nhà trường và những kiến thức thực tế cho sinh viên trong quá trình thực tập tại cơ sở. 3 - Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và xử lý thông tin của sinh viên trong quá trình làm đề tài. - Đề tài hoàn thành sẽ là tài liệu học tập và tham khảo cho các bạn sinh viên.

Ý nghĩa trong thực tiễn - Đề tài hoàn thiện sẽ là tài liệu cụ thể mang tính định hướng quan trọng cho việc sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai tại địa phương nghiên cứu. - Đưa ra được các giải pháp cụ thể về sử dụng đất có hiệu quả tại địa phương nghiên cứu. - Trên cơ sở đánh giá hiệu quả đất đai, từ đó định hướng và đề xuất những giải pháp sử dụng đất đạt hiệu quả cao và phù hợp với điều kiện của địa phương. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.

Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái quát về đất và quá trình hình thành đất * Khái quát về đất Luật đất đai hiện hành đã khẳng định: “ Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, không có khả năng tái tạo, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” (Luật đất đai 2013). Như vậy đất đai là điều kiện chung nhất đối với mọi quá trình sản xuất và hoạt động của con người. • Khái niệm về đất: Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ của lục địa mà bên dưới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển.

Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng sản xuất ra sản phẩm của cây trồng. Như vậy khả năng sản xuất ra sản phẩm cây trồng (độ phì của đất là thuộc tính không thể thiếu được của đất (William). • Khái niệm đất nông nghiệp: Theo Luật Đất đai 2013 “ Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác), đất lâm nghiệp (đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng), đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ ”. Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng (Luật đất đai, 2013).

Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác. 5 * Qúa trình hình thành đất Quá trình Quá trình Đá mẹ Mẫu chất Đất Phong hoá hình thành đất Hình 2. Qúa trình hình thành đất 2. Vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp Trong sản xuất nông lâm nghiệp, đất đai có vị trí đặc biệt quan trọng và không thể thay thế: - Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, không thể thay thế.

Bởi vì đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Bên cạnh đó, đất đai là sản phẩm của tự nhiên, sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng lên khi biết sử dụng hợp lý và đúng cách. - Đất đai là tư liệu lao động. Vì đất đai có thể phát huy được tác dụng như một tư liệu lao động khi con người sử dụng để trồng trọt và chăn nuôi.

Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013). - Đất đai không chỉ là môi trường sống đối với sinh vật mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng nghiệp (Bùi Nữ Hoàng Anh, 2013). - Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng, các miền (Smith A. Mỗi khoanh đất, thửa đất nông nghiệp ở các vùng, miền khác nhau thì sẽ có điều kiện tự nhiên khác nhau như: thổ nhưỡng, khí hậu, độ phì,… Do đó, việc chọn lựa và xác định các loại hình sử dụng đất, các loại cây trồng nông nghiệp phù hợp là có ý nghĩa quan trọng để nâng cao hiệu quả kinh tế của từng hộ gia đình.

Cơ sở lý luận về đánh giá đất 2. Đánh giá đất dựa vào điều kiện tự nhiên Đánh giá đất đai dựa vào điều kiện tự nhiên là: Xác định mối quan hệ của các yếu tố cấu thành đất (sinh vật, địa hình, khí hậu, đá mẹ, thời gian và 6 tác động của con người), các điều kiện sinh thái đất và các thuộc tính của chúng có tính quy luật hoặc không có tính quy luật ảnh hưởng (tốt hoặc xấu) tới hiệu quả và mục đích của các loại sử dụng đất. Tuỳ thuộc mục đích đặt ra mà lựa chọn các yếu tố, chỉ tiêu của từng yếu tố và tiêu chuẩn đánh giá đất phù hợp trong điều kiện cụ thể của từng quy mô, vùng và quốc gia có thể giống hoặc khác nhau. Docutraiep (Liên Xô cũ) cho rằng: "Độ phì tiềm tàng là yếu tố cơ bản nhất để xác định khả năng của đất, sử dụng độ phì tiềm tàng là phương pháp duy nhất thực hiện được để xác định giá trị tương đối của đất".

Dolomong (Pháp) cho rằng: "Khả năng của đất ảnh hưởng rất lớn đến đặc tính dinh dưỡng cây trồng và ở một mức độ nhất định cây trồng sẽ thể hiện được tính chất của đất. Có thể lập thang năng suất biểu thị tương quan sơ bộ giữa đặc tính của đất đai - đó là thống kê năng suất nhiều năm". Nhà thổ nhưỡng Russell (Anh) cũng cho rằng: "Đánh giá đất theo năng suất cây trồng là rất tốt nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn, vì trong năng suất cây trồng bao hàm cả khả năng hiểu biết của người sử dụng đất. Bởi vậy, đánh giá đất theo năng suất cây trồng chỉ sử dụng để đánh giá sơ bộ độ màu mỡ của các loại đất khác nhau".

FAO tổng kết: - Đánh giá đất đai về mặt tự nhiên chỉ ra mức độ thích nghi đối với sử dụng đất hoàn toàn dựa trên cơ sở các điều kiện tự nhiên mà không xem xét đến các điều kiện kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ